Sign up

CHUYỆN RIÊNG CỦA CỤC TRƯỞNG - N.N.C

Nguyễn Ngọc Chiến

Chuyệnriêng

củacụctrưởng

TRUYỆN NGẮN

          (Tiếp theo)
         
...Phải gần một tháng sau những vết thương trên người anh mới lành hẳn. Sức khoẻ anh trở lại bình thường. Trong căn hầm giữa rừng sâu,  bốn phía là giặc, vẫn chỉ có hai người, một trai một gái sống bên nhau. "Tên em là Mai Thùy, vì quê em là vùng biên cương nên khi sinh em, ba mẹ em đã đặt tên con gái mình là Biên Thùy. Sau này em thấy tên ấy có vẻ hơi con trai nên em sửa lại thành Mai Thùy. Vả lại tên ấy cũng rất có ý nghĩa với em. Vì quê em có rất nhiều hoa mai. Không biết ai đã trồng chúng ở đây và từ lúc nào. Chỉ biết khi lớn lên em đã thấy cả một rừng hoa mai bạt ngàn nơi vùng biên cương này. Bây giờ đang là mùa thu anh chưa biết đấy thôi, chứ chỉ vài tháng nữa khi mùa xuân đến, ở đây suốt cả tháng ròng, lúc nào cũng vàng rực một màu hoa mai trông đẹp lắm anh ạ! Anh có thích màu vàng của hoa mai không? Người ta bảo màu vàng là màu của cách biệt, chia ly, nhưng màu vàng cũng là màu của hy vọng và chờ đợi. Em rất yêu màu vàng, màu vàng của hoa mai em lại càng yêu hơn". Một lần khi nghe anh hỏi tên, người con gái ấy đã trả lời anh.
 


          Mai Thùy là chiến sỹ giao liên của trạm A12 nằm trong rừng sâu, nơi có những con đường bí mật luồn lách đi các ngả mà chỉ người giao liên mới có thể biết. Trạm của cô có bốn người nhưng ba người đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ. Còn lại một mình, Mai Thùy vẫn kiên quyết bám trạm và đã gặp được Minh Đoàn bị thương nằm dưới một hố bom nhờ một lần "băng rừng vượt suối" chuyển công văn. Chưa thể trở lại đơn vị, anh đành ở lại với Mai Thùy và tạm thời trở thành chiến sỹ giao liên.  Mai Thùy là một cô gái khoẻ mạnh, rắn rỏi, nước da bánh mật, thứ nước da chỉ con gái vùng biên mới có. Nhưng Mai Thùy lại có duyên và có sức hấp dẫn đến lạ lùng ở đôi mắt. Một đôi mắt đen thăm thẳm. Một đôi mắt mà bất cứ người con trai nào khi nhìn vào cũng phải mê muội, đắm đuối. Minh Đoàn đã thực sự bị chinh phục bởi đôi mắt ấy của Mai Thùy. Cô giao liên cũng không thể từ chối mãi những câu nói, những cử chỉ ngập tràn yêu thương của anh chiến sỹ giải phóng.
          Và họ đã yêu nhau bằng tất cả tình cảm khát khao ở mỗi người. Yêu đến tha thiết, yêu đến điên cuồng, yêu đến lay rừng chuyển núi. Họ bất chấp tất cả, chỉ biết có yêu. "Anh sẽ yêu em và đợi em cho đến lúc nào nước nhà độc lập, thống nhất anh sẽ cưới em. Chúng mình cùng ở lại vùng biên cương này và sẽ sống bên nhau trọn đời!". "Em cũng sẽ mãi mãi yêu anh, cho dù sau này cuộc chiến có còn kéo dài và anh có xa em đi đâu đi chăng nữa thì em vẫn không thay lòng đổi dạ mà vẫn ở vậy chờ anh!". Tiếng hai người lẫn trong tiếng gió rừng lao xao và như chìm đi trong tình cảm yêu thương nồng cháy mà cả hai cùng tự nguyện trao gửi cho nhau.
 

         
          Rồi cũng đến lúc họ phải chia tay. Hôm ấy hai người đã ôm hôn nhau rất lâu, nói với nhau rất nhiều. Và cả những giọt ước mắt của người con gái vương trên mắt người con trai. Mai Thùy đã cắn vào má người yêu đến rớm máu như muốn ghi dấu ấn trên cơ thể anh và gửi gắm tất cả tình yêu thương, hy vọng của mình. Minh Đoàn trở lại đơn vị, tiếp tục hành quân chiến đấu. Từ đó anh không còn nhận được một chút tin tức nào về Mai Thùy nữa. Bao tháng ngày đi qua, bao trận đánh đi qua, đời lính trận nay đây mai đó, nhưng trong lòng anh không một giây phút nào vắng bóng người yêu. Sau giải phóng anh mới có dịp quay trở lại vùng biên, nơi có những rừng mai để tìm Mai Thùy, nhưng nghe nói cô đã theo chân các chiến sỹ giao liên ra đi vào dạo ấy và đã hy sinh, nên anh đành lặng lẽ quay về. Rồi anh chuyển ngành, được cử đi học, lấy vợ sinh con và mấy chục năm qua công tác trong ngành hải quan thì mọi chuyện như đã khép vào quá khứ. Nhớ lại những năm tháng chiến tranh, hình ảnh Mai Thùy luôn nặng trĩu trong anh với biết bao kỷ niệm đẹp. Anh vẫn thầm nhắc tên cô trong những đêm không ngủ, mặc dù bên anh đã có một gia đình ấm êm, hạnh phúc...
         
Ông Đoàn vẫn ngả người trên ghế, tay mân mê bức thư của Mai Thùy. Chợt ông bỗng giật thót người khi nghĩ tới một điều gì đó. Ông vội mở bức thư đọc lại một lần nữa. Trán ông hằn thêm những nếp nhăn. Bây giờ điều day dứt trong ông không còn đơn giản như ông nghĩ là nên hay không nên bắt lô hàng lậu nữa, mà đó còn là tình cảm riêng tư cách đây mấy chục năm giữa ông với Mai Thùy. Trong bức thư này đâu là tình cảm chân thành, đâu là uẩn khúc mà Mai Thùy còn giấu nhẹm trong lòng chưa muốn thổ lộ với ông?
 

          
          Lại có tiếng chuông điện thoại. Nhưng lần này người đầu dây bên kia là phó cục trưởng Thành: " Tôi đang ở trạm cửa khẩu chỉ đạo giải quyết những tồn động ở đây. Thưa anh, tôi thực sự lúng túng không biết nên thế nào với lô hàng của con gái chị Mai Thùy...". Ông cắt ngang với một thái độ giận giữ: " Không phải sáng nay tôi đã chỉ thị cho cậu Tuấn rồi sao! Anh là lãnh đạo mà cũng chần chừ vậy ư?". "Nhưng thưa anh đây là một trường hợp đặc biệt. Bà Mai Thùy là người thân của anh. Chúng ta nên...". "Chúng ta nên tha cho họ chứ gì? Anh có biết làm vậy là sai pháp luật, là tiếp tay cho buôn lậu không? Một lần nữa tôi đề nghị các anh không thể vì cá nhân tôi mà dung thứ cho bất cứ ai". "Nhưng hôm qua chúng tôi đã thống nhất và đi đến quyết định...". " Tôi chân thành cảm ơn các anh, nhưng tôi hoàn toàn không nhất trí cách giải quyết đó được".
          Tiếng ông nghe thì có vẻ mạnh mẽ, cương quyết vậy nhưng trong lòng ông thì như đang có cả trăm mối tơ vò. Không biết ông làm vậy có tàn nhẫn với ân nhân của ông, tàn nhẫn với người một thời đã gửi trọn tình yêu thương cho ông không? Có thể có ai đó sẽ đánh giá  việc làm của ông là  xơ cứng, là thiếu mềm mỏng, chỉ có lý mà không có tình, thậm chí sẽ có người còn cho ông là kẻ "vong ân bội nghĩa", vân vân và vân vân. Dù có đủ lý do để bao biện cho hướng giải quyết của mình, tự lương tâm ông, ông cũng cảm thấy dằn vặt, cắn rứt. Nhưng nếu thử giải quyết ngược lại thì sẽ thế nào đây? Ông có còn là vị cục trưởng đáng để làm gương cho mọi người nữa không? Mọi người sẽ nghĩ gì về ông? Hay lúc đó trong và ngoài cơ quan sẽ suốt ngày rêu rao cái câu đại loại như: "Ông cục trưởng Đoàn vừa ký cái quyết định buông tha lô hàng lậu có giá trị hàng trăm triệu đồng cho người tình xưa...". Hoặc ai đó có sẵn hằn học với ông, được dịp này nhằm mặt ông mà xỉa xói thì chắc ông cũng chỉ còn có một cách là "ngậm bồ hòn làm ngọt" chứ còn biết làm sao! Thôi, không chần chừ, áy náy gì nữa, cứ thế mà làm. Để chắc chắn, một lần nữa ông chỉ thị cho trạm hải quan cửa khẩu  tịch thu toàn bộ lô hàng thuốc lá ngoại nhập khẩu trái phép chờ tiêu huỷ. Hôm ấy trở về nhà, ông đứng ngồi không yên, lòng dạ nôn nao, thấp thỏm... (Còn nữa)
                                                                                                                                        N.N.C

(32) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

TẤM LÒNG CHỦ TỊCH NƯỚC VỚI THẦY GIÁO CŨ - NNC

NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20.11




Tấm lòng
CHỦ TỊCH NƯỚC  

với THẦY GIÁO CŨ


NGUYỄN NGỌC CHIẾN

         Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, dù ở đâu, làm gì, bận rộn đến đâu, Chủ tịch nước Trần Đức Lương vẫn luôn nghĩ về những người thầy dạy học của mình.
         
Vào tháng 9 năm 1997, khi được bầu làm Chủ tịch nước, dù công việc bộn bề, ít cho ông có thời gian thảnh thơi, nhưng có một việc mà ông không thể không nghĩ đến, không thể quên, đó là đợi dịp thuận lợi sẽ về thăm thầy giáo cũ của mình gần nửa thế kỷ trước - thầy Hồ Cơ. Và, chỉ sau đó không lâu, ông đã được đến thăm thầy. Thầy trò gặp lại nhau trong mừng mừng tủi tủi khi cùng nhau ôn lại những kỷ niệm xưa, về một mái trường, về những vất vả, khó khăn, thiếu thốn...của cái thời xa xưa ấy.


          Trong câu chuyện với thầy, Chủ tịch nước Trần Đức Lương vẫn một điều thưa thầy, hai điều thưa thầy. Ông kể với thầy rất nhiều chuyện và có cảm tưởng như mình vẫn chỉ là cậu học trò nhỏ bé năm xưa của thầy.
         
Thầy Hồ Cơ cũng không quên nhắc với Chủ tịch nước Trần Đức Lương về những năm tháng gian khổ của cuộc kháng chiến chống Pháp trên quê hương Quảng Ngãi. Thầy nhớ lại rằng, hồi ấy ở xã Phổ Khánh, huyện Đức Phổ, có một cậu học trò nước da ngăm đen, người thấp đậm, nhưng lanh lợi, tháo vát, và đặc biệt có cặp mắt rất sáng tên Lương đã rất chịu khó học tập và học rất giỏi. Trò Lương ngày nào cũng đi bộ hơn mười cây số từ nhà đến trường rồi lại từ trường về nhà. Mùa đông, có những lúc áo quần mỏng manh phong phanh trong gió. Nhiều bữa không kịp về nhà ăn cơm trưa phải ở lại trường ăn cơm nắm bới theo để chiều kịp học...



           Trong câu chuyện cả thầy và trò cùng rưng rưng lệ!
         
Mấy năm sau, nghe tin thầy Hồ Cơ ốm nặng, Chủ tịch nước Trần Đức Lương lại về thăm thầy. Ông đem đến biếu thầy chai mật ong rừng để thầy bồi dưỡng và ngồi lại với thầy rất lâu.

                                                                                                                                       
N.N.C

(44) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

CHUYỆN MỘT NGƯỜI THẦY - NNC

NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20.11

 

         
          Nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20.11, xin được gửi đến các thầy cô giáo lời chúc mừng tốt đẹp nhất. Kính chúc các thầy cô mạnh khỏe, hạnh phúc, mãi mãi yêu nghề, luôn luôn yêu trường, yêu lớp, yêu trò; thi đua dạy tốt, học tốt,  xứng đáng là người giáo viên nhân dân trong thời đại mới. Xin được gửi đến các thầy các cô những lẵng hoa tươi thắm nhất!
         
Cũng nhân dịp này xin được gửi đến các thầy, các cô - những chủ nhân vnweblogs - lời chúc sức khỏe và những tình cảm quý mến, thân thương. Gửi đến các thầy cô và các bạn một số bài viết về nghề giáo trong dịp 20.11 này!

                                                                                                                  Nguyễn Ngọc Chiến




Nguyễn Ngọc Chiến

Chuyện

một người thầy

GHI CHÉP

        
          Trong cuộc đời mỗi người, từ lúc biết nghĩ đến khi xế bóng về chiều, ai lại chẳng có những kỷ niệm để rồi suốt đời không bao giờ quên được. Có những kỷ niệm tha thiết, sâu thẳm tận cõi lòng. Và có những kỷ niệm êm đềm, lặng lẽ, không nhớ đến thì thôi, chứ nhớ đến thì cả một chuỗi dài năm tháng quá khứ hiện về rồi niềm tự hào, nỗi xúc động cứ thế tuôn trào, khiến mắt mình đẫm lệ. Có một người thầy giáo về hưu, năm nay ngoài bảy mươi tuổi đã ôm ấp, quấn quyện bên mình những kỷ niệm như thế.


         
          Trần Ổi sinh ra ở một làng quê nghèo thuộc tỉnh Thừa Thiên. Ngay từ nhỏ anh đã lâm vào cảnh đói khổ, cơ hàn. Nhà anh nghèo lắm! Mới chín, mười tuổi đầu anh đã phải xa tổ ấm mẹ cha đi ở chăn trâu cho địa chủ, nhà giàu. Vất vả, đòn roi, ăn đói, mặc rách, không học hành...vẫn chưa thoát khổ. Nỗi khổ còn theo cả vào giấc ngủ xé nát những giấc mơ. Rồi tưởng đâu chỉ một, hai năm cuộc đời sẽ trả lại anh chút niềm vui, ít đổi thay. Nào ngờ, nỗi khổ cứ đeo đuổi anh, bám riết anh đằng đẵng cả tuổi thơ. Ấy cũng là thời gian cuộc kháng chiến chống thực dân cướp nước lâu dài và anh dũng của dân tộc đang bước vào những năm tháng đầu tiên đầy gian khổ, ác liệt. Và cũng chính trong thời gian này, Trần Ổi được giác ngộ cách mạng. Những tia sáng từ một chân trời tự do chợt bùng lên giữa đêm dài nô lệ, lay động trong anh, biến anh từ một đứa trẻ chăn trâu nghịch ngợm, vô tư, chỉ biết đánh khăng, đánh đáo, trở thành một chú bé tinh khôn biết làm việc có ích cho cách mạng, cho kháng chiến. Những thùng phuy chứa đầy xăng dầu của địch đợi ngày chở đi, bỗng dưng bật nắp chảy lai láng. Những trục đường giao thông, cầu cống tự nhiên bị cuốc phá. Những hàng rào, bãi chông được dựng lên ngăn bước quân thù...Tất cả đều có bàn tay anh và các bạn anh đêm đêm chung tay góp sức. Anh còn vinh dự được các cô, các chú tin cậy, bố trí làm giao liên mật chuyển công văn, tài liệu, dẫn đường cho cán bộ từ chiến khu về làng hoạt động. Anh tích cực theo dõi nắm tình hình địch cung cấp cho kháng chiến. Tuy tuổi nhỏ nhưng bởi thấm thía nỗi đau quá khứ của người dân nô lệ nên anh không từ chối bất cứ việc gì khi tổ chức giao phó. Chính trong những năm tháng vừa đi ở, vừa bí mật tham gia hoạt động cách mạng, anh đã đóng góp một phần nhỏ công sức vào cuộc kháng chiến và anh xem đó là hạnh phúc của đời anh.
 

      
          Năm 1952, một vinh dự lớn đến với anh, anh là một trong những thiếu niên Thừa Thiên được ra Bắc tham dự Đại hội Chiến sĩ Thi đua Toàn quốc lần thứ nhất tổ chức tại Chiến khu Việt Bắc. Giữa Đại hội anh vinh dự và sung sướng vô ngần được gặp Bác Hồ, được Bác hỏi thăm và báo cáo thành tích cho Bác nghe. Bác âu yếm hỏi anh:
          - Cháu tên là gì?
         
- Thưa Bác, cháu tên là Trần Ổi ạ! Anh đáp.
         
Bác hơi chau mày hỏi lại: "Ổi à?". Suy nghĩ một lát, Bác vui vẻ bảo anh:
         
- Cháu Ổi này Bác sẽ đặt lại cho cháu một cái tên khác, một cái tên thật đẹp là Trần Quốc Toản, cháu có đồng ý không?
         
- Thưa Bác, cháu đồng ý ạ!
         
- Thế cháu có biết Trần Quốc Toản là ai không? Bác hỏi tiếp.
         
Một phút im lặng trôi qua anh đáp:
         
- Thưa Bác, Trần Quốc Toản là một thiếu niên dũng cảm đã tự mình cầm quân đánh giặc Nguyên khi chúng sang xâm lược nước ta.
         
Một nét cười rạng rỡ trên mặt Bác:
         
- Đúng rồi ! Đặt tên Trần Quốc Toản cho cháu là Bác mong cháu, mong hết thảy thiếu niên Việt Nam hãy học tập Trần Quốc Toản biết yêu nước, căm thù giặc, tuỳ theo sức mình làm việc có ích phục vụ Tổ quốc.
         
Lần ấy Bác đã lặng người đi, man mác buồn khi biết anh chưa hề được đi học, anh biết được Trần Quốc Toản là do người lớn kể lại. Bác khuyên anh đi học và học giỏi để sau này có điều kiện thì giúp người khác học.


         
          Giữa núi rừng Việt Bắc, cái tên Trần Quốc Toản - một kỷ niệm thiêng liêng không bao giờ phai nhoà, đã gắn với cuộc đời Trần Ổi gần nửa thế kỷ qua. Và gần nửa thế kỷ qua, hình ảnh Bác Hồ và những lời dạy bảo của Bác luôn luôn là kim chỉ nam cho mọi ý nghĩ và việc làm của thầy giáo Trần Quốc Toản sau này.
         
Tôi không được may mắn gặp ông Trần Ổi - Trần Quốc Toản để nghe ông kể lại chuyện trên. Ông ở cách tôi quá xa. Những dòng tôi chép trên là hồi tưởng của nhà giáo Vũ Đoá, nguyên Hiệu trưởng trường cấp IIIB Vĩnh Linh, người bạn đồng liêu với ông Trần Quốc Toản mà có những năm tháng làm nghề dạy học, ở gần nhau, hai ông đối với nhau như ruột thịt, lại tâm đầu ý hợp như Bá Nha - Tử Kỳ.


         
          Im lặng một lúc thầy Vũ Đoá kể tiếp: "Sau Đại hội Chiến sĩ Thi đua, anh Trần Ổi trở lại Thừa Thiên với cái tên mới Bác Hồ đặt cho. Anh vừa hăng hái tham gia công tác, vừa tích cực học văn hoá. Được ít lâu, anh được tỉnh cho ra Bắc học tiếp. Giữa năm 1953, anh lại được sang Trung Quốc học thêm bốn năm nữa, trước khi về Hải Phòng học ở trường nội trú dành cho con em miền Nam. Sau đó, anh vào học ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Ở trường nào anh cũng chăm học và học giỏi. Có lẽ lời dặn dò của Bác Hồ đã thấm sâu vào mạch máu anh, thúc giục anh phải gắng học. Năm 1967, chiến tranh ác liệt, cùng với đồng bào Vĩnh Linh, trường cấp III Vĩnh Linh lúc ấy vừa tròn tám tuổi phải sơ tán ra Tân Kỳ (Nghệ An). Anh Trần Quốc Toản được điều vào đây dạy học. Tại đây tôi đã gặp anh, cùng dạy với anh một trường  và được anh kể cho nghe về cái tên Trần Quốc Toản của anh. Năm 1973, trường vào lại Vĩnh Linh, chúng tôi theo vào. Anh tiếp tục dạy ở đó cho đến ngày miền Nam giải phóng thì vào dạy ở quê (Thừa Thiên) cho đến ngày nghỉ hưu...".
         
- Thưa thầy! - Tôi hỏi - Sau rất nhiều năm công tác cùng người bạn vinh dự được Bác Hồ đặt tên, thầy có nhận xét gì về thầy Trần Quốc Toản?


         
          - Với anh Toản - Thầy Vũ Đoá sau giây lát trầm ngâm đã nói rất tự tin về thầy Trần Quốc Toản - tôi có những ấn tượng mạnh và nhiều kỷ niệm đẹp. Trước hết đó là một người thầy toàn tâm vì sự nghiệp trồng người do đã thấm thía lời dạy của Bác, xót xa vì hoàn cảnh thất học của mình khi xưa. Khoa học - nhiệt tình - sôi nổi- hết mực chăm lo và thương yêu học sinh. Đó là những đức tính tốt ở anh Toản. Anh lại có một tác phong rất "quân sự". Giờ nào việc ấy, đã nói là làm, làm đến nơi đến chốn. Ngay cả sinh hoạt, nghỉ ngơi của bản thân cũng vậy, anh cứ "quân lệnh như sơn". Hồi ở Tân Kỳ, chưa bao giờ anh đi ngủ trước mười giờ đêm và thức dậy sau năm giờ sáng. Là chủ nhiệm một lớp, chuyên dạy sử, lại là Phó Bí thư đoàn trường nên lúc nào cũng thấy anh bận rộn, chúi mũi vào công việc. Lại hồi ấy đi sơ tán, các em phải sống tập thể, ăn tập thể (mà khổ lắm) rồi máy bay địch đánh phá nữa chứ. Thế nên lo cho các em, không chỉ việc học mà còn nhiều việc khác. Anh Toản chẳng những được học sinh kính trọng mà bạn bè cũng rất quý mến. Bởi anh rất quan tâm giúp đỡ đồng nghiệp. Tôi nhớ có một lần tôi bị ốm nặng phải nằm điều trị ở bệnh viện. Trời đang mùa đông rét như cắt thịt. Gần ba tháng trời anh ấy lui tới chăm sóc tôi. Chẳng rõ anh mượn được ở đâu tới ba cái chăn mang đến cho tôi đắp...


         
          Thầy Vũ Đóa không nói nữa. Thầy im lặng đã lâu, thế mà tôi như còn nghe văng vẳng đâu đây giọng nói ấm áp của Bác Hồ và tiếng đáp nghẹn ngào nhưng chắc gọn của cậu bé Trần Ổi năm nào ở Chiến khu Việt Bắc. Và có phải vì thế chăng mà thầy giáo Trần Quốc Toản, trong suốt cả quãng đời dạy học của mình, đã cố gắng làm theo lời Bác, một lòng tận tụy vì học sinh thân yêu, vì tương lai mai hậu của quê hương, đất nước.

N.N.C



 

(60) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

TÔI KHÔNG HIỂU LÀ TẠI LÀM SAO - NNC

Tôi không hiểu

là tại vì sao!


NGUYỄN NGỌC CHIẾN

          (Tiếp theo và hết)
          Ở phần đầu bài viết này tôi đã nói đến việc bất cập trong việc kết nạp hội viên mới hàng năm của Hội Nhà văn Việt Nam. Ở phần còn lại này tôi muốn nói một chút đến "anh em" mình...
         
Như tôi đã nói ở phần trên, rằng, không một ai viết văn, làm thơ mà lại lấy việc được giải thưởng hay được kết nạp vào Hội Nhà văn ra để làm tiêu chí và mục đích phấn đấu cả. Bởi theo tôi nghĩ, đã là người viết văn, làm thơ thì không có cái gì chứng minh tốt hơn là tác phẩm của mình. Anh có là nhà văn hay không, có là nhà thơ hay không thì tác phẩm của anh đấy, nó lồ lộ ngay trên giấy trắng mực đen.


         
          Sinh thời, nhà văn Nguyễn Công Hoan đã từng nói đến hai chữ "nhà văn" với tất cả sự tôn nghiêm và cao quý rằng: "Một điều cần thiết mà tôi phải nói, là ngay cả trong thời kỳ tôi hoạt động văn học nhiều nhất, chưa bao giờ tôi có ý định viết văn để được gọi là nhà văn. Chưa bao giờ tôi dám tự nhận mình là nhà văn. Theo tôi nghĩ, một người, nếu chuyên về việc viết văn, thì hãy chỉ nên coi mình là người viết văn. Còn như có là nhà văn hay không, là do độc giả công nhận. Và phải trải qua một thời gian nào đó, để người ấy được trải nhiều sự thử thách về chuyên môn.
          Làng văn, từ xưa đến giờ, quả là cái chợ. Ai cũng có thể tự do vào và tự do ra. Không ai có quyền cấm ai viết truyện, làm thơ, và cố nhiên, cũng không ai có quyền cấm ai không viết truyện, không làm thơ nữa, nếu người ấy không lấy làm ngạc nhiên lắm về lòng tri ngộ của độc giả đối với tác phẩm của mình.
         
Tôi đã thấy rất nhiều người viết truyện và làm thơ, đã có tác phẩm được in trên báo và trong sách. Nhưng qua một thời gian, tên của những tác giả ấy biến mất, cho đến hôm nay, tôi chưa thấy tái hiện. Những người ấy, một số đã lầm mình có tài to về văn chương, nhưng qua thử thách, mới thấy mình vô duyên, cho nên cần kíp rút lui để chọn nghề khác hợp với khả năng của mình hơn...Vậy, nếu ta đã vội vàng gọi những người cầm bút nửa đời nửa đoạn ấy là nhà văn, thì bây giờ, họ bỏ nghề rồi, ta gọi họ là nhà gì?
         
Từ trước tới giờ, tôi chưa bao giờ sống bằng nghề viết văn. Nguồn sống chính của tôi là lương tháng của nghề dạy học, chứ không phải nhuận bút của sáng tác. Tôi chưa chuyên nghiệp hóa, thì dù ai muốn gọi tôi là gì thì gọi, tự tôi vẫn chỉ thấy tôi là người viết văn mà thôi. Gọi là nhà nó to quá! Vỗ ngực tự nhận là nhà văn, nó kệch cỡm, hợm hĩnh làm sao!...". (*)


         
          Hơn bốn mươi năm trước nhà văn Nguyễn Công Hoan đã nói thế đấy! Bây giờ, đọc lại, nghiền ngẫm lại, nhìn ra nơi này chỗ kia, trong "anh em" mình, ta thấy những lời nói trên vẫn còn tươi roi rói.
         
Tôi rất làm lạ, là không hiểu tại sao trong "anh em" mình lại có những người khao khát việc vào Hội Nhà văn đến thế. Và cũng rất lấy làm lạ là có những người lại dững dưng với việc này đến thế. Một bên thì chỉ màng đến cái danh, dù văn chương, tác phẩm của bản thân chưa đâu vào đâu. Còn một bên thì lại rất khiêm tốn, dù tác phẩm đã có thể nói là khá thành công trên nhiều thể loại và đã được công chúng biết đến như một người sinh ra chỉ là để viết văn, làm thơ.
         
Kẻ bất tài thì tìm mọi cách để được...chui vào hội, để được khoác cái áo...nhà văn, để được...làm oai với thiên hạ. Cũng có những người, không hẳn là háo danh, nhưng tác phẩm chưa có gì đáng kể, đã vội vội, vàng vàng, hấp ta hấp tấp viết đơn xin vào hội năm lần bảy lượt mà không được đoái hoài, đếm xỉa, trở thành trò cười cho...thiên hạ. Còn người có tài thì lại thờ ơ, sợ sệt, nhút nhát...khi có ý định làm đơn xin vào hội. Ở đây, tôi xin được nói rõ một điều, đó là không phải tất cả những người từng làm đơn xin vào Hội Nhà văn đều là những người hám danh, bất tài, mà thực ra, có rất nhiều anh chị em viết văn, làm thơ rất xứng đáng "được" làm đơn xin vào hội và rất xứng đáng được kết nạp vào hội. Như ở phần đầu tôi đã nói rồi, bây giờ cũng cần phải nói lại một chút kẽo rồi "anh em" mình lại cho tôi là người "vơ đũa cả nắm".


         
          Mà tôi cũng không hiểu là tại làm sao có những  người tác phẩm mới chỉ ở mức trung bình, thậm chí dưới trung bình, luồn lách kiểu gì lại được kết nạp vào Hội Nhà văn một cách dễ dàng như thế. Có một nhà văn, anh này là Tổng Biên tập của một tờ tạp chí Văn nghệ của tỉnh hẳn hoi, khi trả lời câu hỏi này của tôi, anh đã nói với tôi rằng, vậy là anh không biết "cách vào hội" rồi, còn cách nào thì anh ta cũng chỉ lấp lửng như thế. Nghĩa là anh muốn gửi tới tôi một thông điệp rằng, vào hội có nhiều cách lắm, chứ không hẳn chỉ cậy nhờ vào tác phẩm đâu. Rồi anh đưa ra một dẫn chứng cụ thể là có người chưa từng có tác phẩm in ở báo nào mà lại lọt ban văn xuôi để được nằm trong tốp những người có tên trong danh sách đề cử! Anh còn nói thêm, tôi thấy buồn vì phải ngồi cùng chiếu với những người như thế!
         
Một tác giả văn thơ khác khá sung sức là anh Dương Phương Toại thì kể: "Mình từng ăn ở với một ông nhà văn ở một trại sáng tác Văn học - Nghệ thuật của 12 tỉnh Đồng bằng Sông Hồng năm 2005. Cả quá trình trại, ông nhà văn này không viết nổi một truyện ngắn, mà còn nói về truyện ngắn rất ngô nghê. Riêng bộ đầu tóc của ông thì quá tuyệt vời, ai nhìn thấy cũng cho rằng đây là một nhà văn có hạng! Cho đến bây giờ mình vẫn chưa thấy tác phẩm của ông ấy ở đâu. Thèm đọc của ông ấy quá mà không có. Không biết là ông lặn đâu mất tiêu rồi!".
         
Kẻ bất tài, háo danh thì như thế!
         
Còn người thực sự có tài thì sao đây?


         
          Tôi nhớ cách đây không lâu, tôi có giới thiệu anh Trần Chiểu, một tác giả văn xuôi ở Quảng Ninh mà tôi rất nể phục, trên blog của mình. Do không hỏi anh cho cặn kẽ, lại thấy tác phẩm của anh...đồ sộ quá, những 16 cuốn đã xuất bản, trong đó có tới 8 cuốn tiểu thuyết và 1 tuyển tập tiểu thuyết, đều do các nhà xuất bản danh giá hàng đầu của ta in, nên khi viết mấy lời giới thiệu, do không hiểu, và cũng đinh ninh Trần Chiểu đã là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, nên tôi đề dưới cái sapô tác giả anh là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Nửa đêm hôm ấy, đang ngủ say, tôi giật mình nghe có tiếng chuông điện thoại reo. Người đầu dây bên kia là Trần Chiểu. "Ông Chiến ơi, (tôi kém nhà văn Trần Chiểu 21 tuổi) mình cảm ơn ông đã viết rất hay về mình, nhưng mình nhờ ông làm ơn xóa giùm mình mấy chữ hội viên Hội Nhà văn Việt Nam đi cho cái, vì mình chưa phải là hội viên Hội Nhà văn đâu...". Nghe Trần Chiểu nói thế, tôi vô cùng ngạc nhiên: "Tác phẩm của anh như thế mà anh chưa vào hội thật à?". Trần Chiểu vẫn với một giọng nói bình thản, pha chút hài hước: "Ừ, mình chưa vào hội, nói đúng hơn là mình chưa...dám làm đơn xin vào hội - rồi anh hỏi tôi - liệu mình đã làm đơn xin vào hội được chưa ông nhỉ?". Tôi nói ngay: "Anh mà không được thì còn ai được nữa!". Trần Chiểu cười: "Thôi khuya rồi, ông xóa giùm tôi mình mấy chữ đó đi". Tôi nói: "Mai xóa cũng được anh ạ!". Trần Chiểu nói như van lơn: "Ấy chết, đừng, đừng để đến mai, người ta vào blog ông người ta đọc rồi người ta lại cho mình là mạo danh nhà văn thì chết...".


         
          Sau này anh Trần Chiểu còn có lần tâm sự thêm với tôi. Anh nói rằng, mười mấy năm cầm bút, viết hơn chục đầu sách, tính ra mỗi năm một cuốn, vậy mà anh chưa dám viết cái đơn xin vào Hội Nhà văn Việt Nam. Vì rằng anh biết đang có rất chi là nhiều tác giả có số lượng sách bề thế hơn anh, vẫn đợi đấy! Rồi anh cho biết, ở Quảng Ninh, có tới chục người hiện đã làm đơn xin vào Hội Nhà văn, có người làm đi làm lại suốt mấy năm nay. Mà những người này, theo Trần Chiểu, sáng danh nhất là các ông: Thanh Sỹ, Phạm Ngọc Hưng, Ngô Hải Đảo, Trần Tâm, Nguyễn Đăng Sâm.  Ví như ông Thanh Sỹ đã có chục tập thơ và cuốn lịch sử Công nhân Mỏ. Đơn ông gửi xin vào Hội Nhà văn có lẽ ngót chục năm. Hiện ông đang lâm bệnh nặng. Ăn kém, ngủ kém, đi lại kém...Ấy vậy mà mới đây gượng dậy ông đã cho ra mắt công chúng tập thơ với cái tựa rất hay "Khi Tôi Hát". Ông Phạm Ngọc Hưng, tác giả tiểu thuyết xứ Than, đã ở vào độ chín của tiểu thuyết. Ông đã có một tập được chuyển thể sang phim truyện truyền hình nhiều tập . Vậy mà cái cánh cửa vào Hội Nhà văn Việt Nam vẫn đóng kính trước mắt ông. Ông Ngô Hải Đảo với những cuốn tiểu thuyết ngang ngửa trước công chúng, được dư luận khen chê rộng rãi. Cuốn tiểu thuyết "Thác Ngầm" do NXB Hội Nhà văn Việt Nam ấn hành đã lọt vào vòng chung kết cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam, nhưng ông vẫn còn xa cái ghế nhà văn. Ông Trần Tâm, cây thơ sáng giá của Đất Mỏ đâm đơn vào sân chơi Hội Nhà văn Việt Nam đến hồi chân bước tập tễnh yên vị tại gia viết bộ tiểu thuyết bốn tập (đã xong tập ba). Rồi ông Nguyễn Đăng Sâm, tóc bạc phơ mới từ Phú Thọ về ngụ Quảng Ninh. Thơ ông chưa tuyển đã ẵm giải Lục Bát của Báo Văn nghệ Trẻ. Cách đây khoảng ba chục ngày, đúng cuộc chạy xô vào Hội Nhà văn Việt Nam, ông được Đài Truyền hình quốc gia mời lên đọc thơ tình sang sảng...

 


         

          Đấy, người có tài thì thế đấy! Họ chẳng màng đến cái danh  bao giờ. Có lẽ đối với những người như Trần Chiểu và những người vừa kể trên, nói như nhà văn Nguyễn Công Hoan, thì có là nhà văn hay không, anh chỉ cần ở tác phẩm, chỉ cần ở công chúng - những độc giả trung thành, đồng thời, công chúng cũng là những người công minh nhất, có cách nhìn nhận, đánh giá khách quan nhất đối với mọi nhà văn của mọi thời đại.

N.N.C

(*)Nguyễn Công Hoan - Đời viết văn của tôi - NXB Văn học 1971.

 

        

(45) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

CHUYỆN RIÊNG CỦA CỤC TRƯỞNG - NNC

Nguyễn Ngọc Chiến

Chuyệnriêng

củacụctrưởng

TRUYỆN NGẮN

          (Tiếp theo)
          ...Ông Đoàn mân mê chiếc phong bì một lúc trong tay rồi mới đọc qua dòng chữ viết rất nắn nót ở bên ngoài: " Đặng Thị Mai Thùy. Kính gửi anh: Trần Minh Đoàn - Cục trưởng cục Hải quan tỉnh...". Trống ngực ông đập rộn lên một hồi khi mắt ông vừa chạm ngay những dòng chữ đầu tiên. Rồi ông thốt lên như đang nói một mình: "Mai Thùy ư? Trời ơi, có lẽ nào lại là cô ấy ư?". Ông lật qua lật lại chiếc phong bì, đọc kỹ lại một lần nữa như sợ mình có nhầm lẫn gì không. Không! Không nhầm lẫn! Đúng là cô ấy rồi! Đúng là Mai Thùy thật rồi! Đúng là người mà ông hằng nhắc nhở, gọi thầm tên trong từng ấy năm biền biệt, không tin tức. Thì ra cô ấy vẫn còn sống chứ không phải đã hy sinh như ông lầm tưởng. Vậy từ ấy đến nay cô ấy ở đâu, cuộc sống thế nào? Mà tại sao đến bây giờ Mai Thùy mới liên lạc với ông? Và rồi bỏ đi không gặp ông chỉ để lại bức thư này? Ông Đoàn tay run run mở lá thư đọc liền một mạch. Rồi ông còn đọc đi đọc lại tới mấy lần nữa mới gấp bức thư  cho vào phong bì như cũ.


         
          Bức thư của người đàn bà có tên là Đặng Thị Mai Thùy gửi ông Đoàn được viết trên một mặt giấy học trò, nét chữ nghiêng nghiêng, nhưng rõ ràng, dễ đọc. "Anh Minh Đoàn thân mến! Có lẽ khi nhận được lá thư này anh sẽ rất ngạc nhiên. Nhưng em tin khi đọc xong anh sẽ hiểu tất cả. Hơn ba mươi năm đã trôi qua kể từ ngày ấy. Đất nước, quê hương đã có những thay đổi thật lớn lao. Anh và em, hai người hai hoàn cảnh khác nhau nhưng ở mỗi người đều có những đổi thay nhất định. Từ ngày ấy đến nay, qua bạn bè, người thân em vẫn biết rất rõ về anh và luôn luôn giỏi theo từng bước trưởng thành của anh trên mọi chặng đường công tác. Và em đã thực sự phấn khởi khi thấy anh "công thành danh toại", xứng đáng với gia đình, quê hương; xứng đáng với lòng mong mỏi của biết bao đồng đội, bạn bè, trong đó có em, những người đã cùng anh chiến đấu, hy sinh trong những năm tháng chiến tranh vô cùng gian khổ, ác liệt trước đây. Còn em, sau lần chia tay với anh cũng không còn ở lại nơi ấy mà theo đà thắng lợi của chiến dịch tiếp tục đi sâu vào tuyến trong. Em chỉ có thể trở lại nơi miền quê có nhiều hoa mai ấy khi nước nhà đã hoàn toàn độc lập và sinh sống ở đấy cho đến tận bây giờ.  Mấy chục năm qua, em đã bao lần định tìm đến anh để được tâm sự với anh cho thoả nỗi nhớ mong...Nhưng em đã không làm vậy khi biết anh đã có một tổ ấm gia đình đang tràn trề hạnh phúc. Mấy năm trước em được tin chị nhà mất trong một vụ tai nạn giao thông, để lại anh và các cháu côi cút trên đời. Thú thật với anh lúc đó em đã định tìm đến với anh ngay. Bằng tính nhạy cảm của người phụ nữ và bằng những quá khứ ngọt ngào, yêu thương mà chúng mình từng dành cho nhau, em tin, nếu em đến chắc chắn anh sẽ dang rộng vòng tay đón em. Nhưng, một lần nữa em đã gạt mọi ý nghĩ đó sang một bên. Em không muốn làm phiền anh, không muốn chen ngang vào cuộc sống của gia đình anh khi các con anh không còn mẹ nữa mà cha của chúng lại phải san sẻ tình cảm cho một người đàn bà khác là em. Vả lại, em cũng có một gia đình - tạm gọi là gia đình - và cũng đang sống một cuộc sống như tất cả những người đàn bà khác từng đi qua chiến tranh. Rồi sau này  anh sẽ hiểu tất cả về em.
          Anh Đoàn thân mến! Bây giờ có một việc em cần nhờ đến anh giúp đỡ. Em biết việc này chỉ có anh mới có thể giúp được cho em mà thôi..."


         
         
          Phần cuối của bức thư bà Mai Thùy nói với ông Đoàn rằng, bà có một đứa con gái và đó cũng là đứa con duy nhất của bà, hiện nó đã có chồng có con đang sinh sống cùng bà. Nó là một đứa con ngoan, xinh xắn, hiếu thảo với mẹ, yêu chồng thương con, chăm chỉ làm ăn. Nhưng rồi không biết do trời xui đất khiến thế nào mà cách đây chừng một tuần, nghe bạn bè rủ rê, nó dồn tất cả vốn liếng tích cóp được từ hàng bao năm nay, lại còn vay hết số tiền mà bà đã dành dụm, tiết kiệm được để qua lại biên giới buôn bán làm ăn. Ngay từ chuyến đi đầu tiên nó đã bị lực lượng hải quan ở cửa khẩu biên giới bắt giữ tất cả hàng hoá. Bà đã trực tiếp đến đó cầu xin họ tha thứ cho con bà nhưng không một ai nhất trí giải quyết. Vì họ cho rằng lô hàng mà con gái bà đưa từ biên giới sang, chủ yếu thuốc lá ngoại, nằm trong danh mục hàng cấm nhập khẩu. Sực nhớ đến ông, bà đã quyết định viết lá thư này gửi ông. Bà tin rằng, là người nắm giữ cương vị cao nhất của ngành hải quan tỉnh, đồng thời là chỗ tình sâu nghĩa nặng xưa kia chắc chắn ông sẽ không nỡ từ chối giúp bà...Ông Đoàn đọc xong bức thư thì thở dài, buồn vui lẫn lộn. Nét mặt ông lộ rõ niềm xúc động. Đã hai ngày trôi qua đầu óc ông không một phút thảnh thơi. Hai đêm ông trằn trọc, thao thức, không ngủ được. Hôm nay đã là ngày thứ ba ông đến cơ quan trong một trạng thái như thế. Lúc rảnh việc, ông ngả người ra ghế như muốn dành cho mình một khoảng thời gian yên tĩnh để nhớ về một thời đã qua.


         
          ...Không còn tiếng nổ, nhưng khói lửa thì vẫn rần rật cháy. Những đám cháy lan từ công sự địch, nơi ngổn ngang xác người tử trận của cả hai bên; nơi đủ loại vũ khí, quân trang quân dụng vung vãi khắp nơi...Cả trận địa như một chảo lửa khổng lồ với những cái lưỡi đỏ lòm, hung hãn liếm dần ra xung quanh nơi bạt ngàn lau sậy và cứ thế được ngọn gió chiều phóng khoáng đẩy dần ra xa. Đó là kết cục của một trận đánh mà cả quân giải phóng và quân đội cộng hoà cùng chịu sự tổn thất nặng nề. Rất hiếm người sống sót sau những trận rải thảm B52 mà kẻ thù muốn phi tang trận địa. Trần Minh Đoàn cố lết ra khỏi những đám lửa vây quanh, lăn xuống một hố bom còn nồng nặc mùi thuốc súng và ngất đi không còn biết gì nữa. Lúc tỉnh dậy, anh thấy mình đang nằm trong một căn hầm. Không biết nơi này là ở đâu và ai đã đưa anh về đây? Anh chỉ biết là mình đang rất đau, đau khắp người. Sờ vào nơi nào anh cũng thấy tê dại, nhức buốt. Anh cố cử động, nhúc nhích để thử xem mình bị thương ở những đâu. Rồi anh mường tượng lại tất cả những gì đã xãy ra với anh trước đó. Anh nhớ rất rõ anh đã thoát được ra khỏi cái chảo lửa ấy như thế nào. Rồi sau đó, trong cơn đau, lúc tỉnh lúc mê, anh vẫn biết có một người con gái luôn luôn ở cạnh anh, chăm sóc cho anh. Chính người con gái ấy đã một mình khó nhọc đưa anh từ cõi chết trở về. Bàn tay người con gái ấy thật mềm mại, mát mẻ. Anh có cảm tưởng sự sống trở lại trong anh, vết thương lành lặn trên cơ thể anh chính là  từ hương vị da thịt ngọt ngào của đôi bàn tay ấy ngày ngày truyền sang cho anh...(Còn nữa)
                                                                                                                                        N.N.C


(25) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

MỘT PHÚT THƯ GIẢN - NNC

Một phút thư giản


 

 

VINH DỰ!

 

         Vừa thấy mẹ đi làm về, con bé út tám tuổi đã chạy ra reo to:
        
- Mẹ ơi, hôm nay xem ty vi con vui quá!
        
- Tại vì sao mà vui vậy con?
        
- Tại vì con thấy mẹ trong ty vi...
        
- Thấy mẹ trong ty vi thì có gì mà vui hả con?
        
- Vinh dự cho nhà mình lắm ạ!
        
- Thế...thế con gái thấy mẹ đang làm gì nào?
        
- Con...con...thấy mẹ đang vứt con chuột chết ra đường phố chiều qua ạ!




GỌI LÀ GÌ?

 

         Hai người thanh niên vừa đi đường vừa nói chuyện.
         Một người hỏi:
        
- Đố cậu, người viết văn được xã hội gọi là gì?
         - Là văn sỹ chứ còn gọi là gì!
        
- Thế người sáng tác ra bài hát?
        
- Tất nhiên là nhạc sỹ!
        
- Còn người làm thơ?
        
- Thi sỹ!
         - Vậy người làm thơ mà gửi báo nào cũng không in thì gọi là gì?
        
- Thì...thì gọi...là thi hài chứ còn gọi là gì...




HÚ VÍA!

        
         Hai người bạn gái thì thầm với nhau:
         - Mày ơi, hôm nay tao đi khám bệnh, có ông bác sỹ lúc khám cứ áp tai vào ngực tao.
         - Trời đất, ổng là thầy thuốc mà cũng dâm dê vậy hả?
        
- Không phải đâu, chỉ tại ông ấy...ông ấy...để quên cái ống nghe ở nhà thôi mà!
         - Quên ống nghe! Mày nói vậy mà nghe được à?
        
- Thì có sao đâu, ổng chỉ...chỉ áp tai vào ngực tao để nghe...
        
- Vậy chớ tao hỏi mày, nếu lỡ ông ấy để...để quên...quên cái ống tiêm thì làm sao?
         - Ừ nhỉ! Thật hú vía !

                                                                                                            NGUYỄN NGỌC CHIẾN

(73) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

TÔI KHÔNG HIỂU LÀ TẠI VÌ SAO - NNC

TôiKhôngHiểu

LàTạiVìSao!


NGUYỄN NGỌC CHIẾN

        
          Tôi thường nghe nói rằng, trong giới sáng tác văn học, cứ mỗi năm là có hai ngày vui, người ta gọi hai ngày đó là ngày hội, ngày mùa màng thu hoạch. Và như một lẽ tự nhiên, hàng năm cứ sắp đến hai ngày đó là người ta chờ đợi, người ta hy vọng, người ta bàn tán...bằng tất cả nỗi khát khao, mong chờ.
         
Các anh, các chị, những người đang say sưa, miệt mài...lao động sáng tạo văn học trên khắp mọi miền đất nước có biết hai ngày đó là hai ngày gì không? Chính tôi hồi trước cũng chẳng biết gì. May mắn gần đây tôi có đọc một tờ báo hay một tạp chí văn nghệ nào đó, mới biết hai ngày vui đó chính là ngày trao Giải thưởng và ngày kết nạp hội viên mới của Hội Nhà văn Việt Nam. Thế nên, người nằm trong diện có tác phẩm dự giải, hoặc người có đơn xin vào hội thường là nóng lòng, khấp khởi, hồi hộp; còn người không nằm trong diện đó thì cũng quan tâm theo dõi để biết xem thế nào cũng là lẽ đương nhiên.


         
          Hôm nay, với tư cách là một đọc giả yêu văn học, yêu mến những người viết văn, làm thơ, hơn thế, còn là một người viết, tôi xin "mở" một cuộc mạn đàm nho nhỏ xung quanh việc kết nạp hội viên mới của Hội Nhà văn Việt Nam. Rất mong sự xẻ chia và những đóng góp chân thành, cởi mở trên tinh thần xây dựng của tất cả các bạn, nhất là của các bạn đã làm đơn và đang có ý định làm đơn xin vào Hội Nhà văn.
         
Tôi đang có trong tay danh sách 131 người thuộc đủ các thành phần, giới tính, tuổi tác, quê hương bản quán...vừa được các hội đồng chuyên ngành giới thiệu lên để Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam xét kết nạp làm hội viên mới trong năm 2009 này. Trong đó văn xuôi 60 người, thơ 49 người, còn lại là các chuyên ngành khác như lý luận phê bình, văn học miền núi, văn học thiếu nhi, dịch thuật...
         
Một nhà văn nói với tôi, hiện nay đã có  khoảng 700  đến 800 trăm người đã có đơn hoặc đang làm đơn xin vào Hội Nhà văn Việt Nam. Quả là một con số không nhỏ chút nào! Và quả là một con số thật đáng mừng cho sự phát triển của văn học nước nhà! Nhưng qua theo dõi mấy năm gần đây tôi thấy số người được kết nạp vào Hội Nhà văn chỉ là một số nhỏ nhoi, nếu không muốn nói là quá ít. Thường thì mỗi năm chỉ vài chục người, thậm chí có năm chỉ không đầy hai chục người. Ví như năm 2008 chỉ có 19 người được kết nạp. Có những tỉnh cả chục năm nay không có người được kết nạp. Điều này chứng minh một điều, đó  là sự phát triển hội viên mới để tiếp tục bổ sung và kế thừa đội ngũ những người viết văn của đất nước không đáp ứng thỏa mãn thực tế, khách quan đối với những đóng góp của cả một đội ngũ hùng hậu những người viết văn hiện nay. Đồng thời trong một chừng mực nào đó đã không những không động viên, khuyến khích mà ngược lại còn làm hạn chế, kìm hãm sự say mê, sáng tạo, yêu nghề đối với người viết.


         
          Không ai viết văn, làm thơ mà lại xem việc được vào Hội Nhà văn hay được giải thưởng ra để làm tiêu chí hay mục đích phấn đấu cả. Nhưng đã là người viết văn, làm thơ thì ai cũng quyền lợi như ai, hơn thế đó còn là nguyện vọng chính đáng, là ước mơ của bao người đang hằng ngày đánh vật với trang giấy. Lòng người thì ngoài cái lợi ra, cái danh cũng là mục đích phấn đấu để vươn tới hoàn thiện mình. Thật buồn khi có người kể với tôi rằng, có một người viết văn rất tốt và đã làm đơn xin vào Hội Nhà văn nhiều năm nay nhưng năm nào cũng bị loại. Đến năm gần đây thì được kết nạp. Nhưng khi có thông báo gửi về thì người đó đã ốm và mất trước đó không lâu. Cũng là con người ấy, rồi cũng tác phẩm ấy thế mà phải...đợi người đó chết rồi mới vinh danh họ. Thật đau lòng và cũng thật nực cười, lố bịch làm sao!
         
Danh sách 131 người xem ra có vẻ hùng hậu trên, chắc rồi cũng như mọi năm, năm nay giỏi lắm cũng chỉ được vài chục người may mắn được...đứng vào hàng ngũ...hội viên. Liệu đây có phải là sự khắt khe quá đáng của những người đang nắm trong tay cái quyền hành to nhất ở Hội Nhà Việt Nam không? Việc kết nạp hội viên hàng năm quá ít ỏi như vậy đã phản ảnh đúng thực tế về chất lượng của đội ngũ cầm bút ở cả 64 tỉnh, thành trong cả nước chưa?  Hay là bởi một lý do nào khác.
          Khi câu hỏi này nêu ra, hẳn không ít người sẽ cho rằng, ít hay nhiều không phải là điều quan trọng, mà cái quan trọng phải dựa vào chất lượng tác phẩm của người viết, rồi phải căn cứ vào tiêu chí đã đề ra khi xét kết nạp hội viên mới...Theo như tôi được biết thì tiêu chí để một người viết văn, làm thơ có thể làm đơn xin vào Hội Nhà văn, đó là, người đó phải là công dân Việt Nam, đang sinh sống và làm việc trên lãnh thổ Việt Nam, có lòng yêu Tổ quốc, nhân dân, có phẩm chất đạo đức, phẩm chất chính trị tốt, nghiêm chỉnh chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, có một trình độ về nghề nghiệp, học vấn nhất định; đặc biệt là phải có một sự say mê sáng tạo văn học, có tác phẩm được công bố và ít nhiều được dư luận quan tâm và đánh giá. Tiêu chí chung thì như vậy. Còn cụ thể, bản thân người làm đơn xin vào Hội Nhà văn thì trước hết người đó phải có ít nhất hai tác phẩm đã xuất bản, và nếu như người làm đơn có thêm các giải thưởng về văn chương, đặc biệt là giải thưởng của các tờ báo, tạp chí Văn nghệ có uy tính như báo Văn nghệ hay tạp chí Văn nghệ Quân đội thì càng tốt.


         
          Xem ra cái tiêu chí mà chỉ như vậy thì không phải là khó lắm! Mới nghe qua ai cũng ngỡ sẽ dễ dàng vượt qua ngưỡng cửa ấy để nghiễm nhiên được...ngồi vào cái ghế...nhà văn! Nhưng hoàn toàn không phải vậy. Tôi đã mất cả ngày để đọc đi đọc lại cái danh sách được đề cử kết nạp năm nay xem trong tổng số 131 gương mặt tiêu biểu ấy ai là người mà mình từng đọc tác phẩm, ai là người mà mình từng quen tên, biết tiếng. Rồi lại vào trang của Hội Nhà văn để xem một cách chi tiết đối với từng người. Quả là rất nhiều những gương mặt quen biết đã làm tôi hết sức ngạc nhiên. Đó là có rất nhiều người mà từ lâu tôi cứ ngỡ rằng họ đã là hội viên rồi. Càng ngạc nhiên hơn, là trong số những người mà tôi "ngỡ" ấy, lại có rất nhiều người không phải lần đầu tiên làm đơn mà có người đã làm đơn từ hai, ba, thậm chí nhiều năm nay mà đến nay vẫn chưa được kết nạp. Trong số ấy có người đã có một độ dài sáng tác khá lâu và đã có nhiều tác phẩm đáng nể. Nếu như đem tác phẩm của họ, giải thưởng của họ đối chiếu với tiêu chí để xét kết nạp trên thì rõ ràng là họ đã có thừa năng lực để trao cho họ cái áo...nhà văn. Tôi xin được giới thiệu ra đây một số gương mặt tiêu biểu để mọi người cùng xem:
1. VŨ THẢO NGỌC (Quảng Ninh)

* Đã có các tác phẩm xuất bản:

- Đêm chuyển mùa (truyện ngắn, Nxb. Phụ nữ, 1997);

- Được làm đàn bà (truyện ngắn, Nxb. Lao động, 2001);

- Ba người đàn ông (tiểu thuyết, Nxb. Công an, 2003);

- Đêm huyền ảo (tiểu thuyết, Nxb. Lao động, 2004).




2. LƯƠNG VĂN  (Hà Nội)

* Đã có các tác phẩm xuất bản:

- Nỗi khổ tình yêu (tiểu thuyết, Nxb. Lao động, 1994);

- Đóa hoa hồng dành cho em (tiểu thuyết, Nxb. Công an, 1999);

- Niềm kiêu hãnh của Viôlét (tiểu thuyết, Nxb. Hội Nhà văn, 2000);

- Chỉ có tình yêu (Nxb. Hội Nhà văn, 2000);

- Thì thầm (tiểu thuyết, Nxb. Hội Nhà văn, 2004).

3. ĐẶNG TIẾN HUY (Bắc Giang)

* Đã có các tác phẩm xuất bản:

- Chủ quán Phù Vân (tiểu thuyết, Nxb. Thanh niên, 1993);

- Vòng tay ngọt ngào (tập thơ, Nxb. Thanh niên, 1991);

- Tình anh (tập thơ, Nxb. Thanh niên, 1994);

- Bức tranh lụa đêm tân hôn (tập truyện, Nxb. Thanh niên, 1995);

- Trăng khuyết (tiểu thuyết, Nxb. Phụ nữ, 1997);

- Gối sóng (tập thơ, Nxb. Phụ nữ, 1997);

- Xe xóc xe êm (tập thơ, Nxb. Văn hóa Dân tộc, 1999);

- Bức tranh lụa (tập truyện ngắn, Nxb. Thanh niên, 2003);

- Thiên nhãn (tuyển, Nxb. Hội Nhà văn, 2002).
         
Đây chỉ là vài ví dụ, chứ có rất nhiều người, cả thơ lẫn văn còn nổi bật hơn cả ba vị này. Một điều đáng  nói ở đây, đó là cả ba vị này đều được đưa vào danh sách đề cử năm nay từ kết quả bao lưu năm ngoái. (Cũng có thể ba người này đã làm đơn từ nhiều năm trước đây). Tôi không thể hiểu vì sao họ sáng tác như thế, tác phẩm của họ như thế mà năm ngoái, thậm chí một, hai năm trước nữa Ban Chấp hành Hội Nhà văn không biểu quyết kết nạp họ vào hội?


         
          Một số tác giả văn thơ khác như Đoàn Mạnh Phương (Hà Nội), Lê Hoài Lương (Bình Định), Trung Phương (Hà Nội), Nguyễn Cẩm Hương (Thanh Hóa), Di Li (Hà Nội), Hoàng Quốc Cưỡng (Phú Yên), Đỗ Thị Thu Hiền (Hà Nam), Trương Thị Thanh Hiền (An Giang),  Đỗ Nhật Minh (Bắc Giang)...Và còn rất nhiều những gương mặt khác nhưng do hạn chế bởi bài viết mà tôi đã không nêu tên được ở đây. Những gương mặt này có thể nói là họ đã từng "làm mưa làm gió" trên rất nhiều tờ báo Văn nghệ. Tên họ, tác phẩm của họ đã hình như giới sáng tác ai cũng thuộc làu làu. Vậy mà họ vẫn chưa phải là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Vậy như thế nào mới là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam? Tôi dám nói rằng, những người bây giờ đấy, những người trong ban chấp hành, những người ở các hội đồng chuyên ngành, ngày các vị vào Hội Nhà văn, tác phẩm của các vị chắc cũng rưa rứa như họ mà thôi, thậm chí có người chắc gì tác phẩm đã bằng họ! Và cả một số người đã được kết nạp, bây giờ oai phong khoác cái áo nhà văn tác phẩm chắc gì đã bằng họ! (Còn nữa)

N.N.C

(70) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

CHUYỆN RIÊNG CỦA CỤC TRƯỞNG - NNC

Nguyễn Ngọc Chiến

Chuyệnriêng

củacụctrưởng

TRUYỆN NGẮN

         
         *Chương trình "Đọc chuyện đêm khuya" Đài TNVN đêm 2.6.2009
        
*Tạp chí Cửa Việt số 181, tháng 10.2009

         Ông Đoàn hết trở mình bên này lại lật mình sang bên kia. Đêm nay đã là đêm thứ hai, rất khuya rồi ông vẫn không sao ngủ được. Chiếc đồng hồ đặt trên nốc tủ cứ lách cách, lách cách...đều đặn, tiếng nó không to, nhưng âm thanh phát ra vào những lúc khuya khoắt này khiến người đang thao thức  phải chú ý, thế là lại càng không sao chợp mắt được. Ông cũng đã cố quên đi mọi chuyện, cố quên đi...người đàn bà ấy, quên đi tất cả. Khuya lắm rồi, mệt mỏi lắm rồi, ông muốn ngủ một giấc thật ngon để ngày mai làm việc. Chuyện gì còn có đó, ngày rộng tháng dài lo gì không giải quyết được.


         
          Nhưng ông vẫn không sao ngủ được. Hình ảnh người đàn bà  vẫn cứ hiện ra rờ rỡ trước mắt ông. Hơn năm năm làm cục trưởng ở đây, với một núi công việc liên quan đến ngành hải quan do ông "đứng mũi chịu sào", chưa bao giờ ông gặp một trường hợp khó xử như trường hợp này. Phòng bên mấy đứa con ông đều đã ngủ say. Ngoài kia, phố xá cũng đã im lìm như ngủ, tất cả mọi âm thanh đều đã tạm thời lắng lại nhường chỗ cho một không gian yên tĩnh, trong lành. Chỉ mình ông trong đêm khuya thức một mình, trăn trở một mình. Phải giải quyết việc này như thế nào đây? Câu hỏi như một mũi dao vô hình ngoáy sâu vào từng tế bào trên cơ thể ông, khơi dậy trong ông biết bao nỗi niềm thầm kín.
         
Là một cán bộ hải quan có thâm niên trên ba mươi năm trong ngành, dù ở cương vị nào, được phân công làm việc gì; khó khăn, vất vả đến đâu, ông cũng là người luôn luôn hoàn thành nhiệm vụ. Rồi hơn mười năm làm phó cục trưởng, hơn năm năm làm cục trưởng, lãnh đạo cả một tập thể hàng mấy trăm con người, ông đã thể hiện được mình là một cán bộ xốc vác, năng nổ, có uy tín, được trên trọng dưới kính. Từ trước đến nay, mọi công việc xảy ra trên địa bàn, dù to nhỏ nặng nhẹ gì, khi được cán bộ cấp dưới đề xuất ý kiến, với chức trách quyền hạn của mình ông đều chỉ thị giải quyết một cách chóng vánh, thấu tình đạt lý. Vậy mà lần này chỉ một việc cỏn con ông đã phải nghĩ suy đến đau cả óc suốt từ hôm qua đến nay vẫn không sao tìm được cách giải quyết thỏa đáng. Lúc thì ông quyết định thế này, lúc lại quyết định thế kia. Rồi suy đi nghĩ lại, ông thấy cả hai cách giải quyết, cách nào cũng không ổn. Trong tình trạng bế tắc, lòng dạ ông càng thêm rối bời, xen một chút buồn bã, lo lắng. Không biết lúc này đã mấy giờ rồi nhưng ông thì đã nghe rất rõ tiếng gà gáy từ đầu phố bên kia vọng sang. Chắc cũng phải quá nửa đêm rồi!


         
          Không ngủ được, ông ngồi dậy, nhẹ nhàng đẩy cửa đi ra ngoài hiên và ngồi lại ở đó nhìn ra xa, rất xa...Ừ, mới đó mà đã hơn ba mươi năm rồi! Thời gian như ngọn gió trôi qua thật nhanh, chả trách mái tóc ông ngày một thêm nhiều sợi bạc. Còn người ấy, người đàn bà khiến ông phải trăn trở cả đêm, chắc nay cũng không còn trẻ nữa. Hơn ba mươi năm trôi qua, tưởng đâu mọi chuyện đã khép vào quá khứ, chẳng ai nhớ đến ai nữa. Thế mà nay bỗng từ đâu tất cả lại lần lượt hiện về. Có một cái gì đó không bình thường, không vui trong chuyện này ư? Không, chẳng có gì là không bình thường cả, mà trái lại rất đáng mừng. Ông phải cảm ơn số phận, cảm ơn cuộc đời đã cho ông niềm vui vì được biết tin về người ấy...
         
Sáng ra, ông Đoàn ăn uống qua quýt rồi đến cơ quan thật sớm. Ông ngồi vào bàn làm việc, mở tập tài liệu đọc lướt qua một lượt rồi đặt bút ký. Xong, ông để tất cả về một bên, chỉ cần để vào đúng vị trí ấy, cô văn thư không cần hỏi cũng biết chắc chắn số tài liệu ấy đã được ông ký duyệt rồi. Tính ông vốn vậy, việc gì cũng phải ngăn nắp, đâu ra đấy.
         
Bỗng có tiếng chuông điện thoại, ông vội vàng cầm lấy ống nghe. Từ đầu dây bên kia có tiếng cậu Tuấn, đội trưởng đội chống buôn lậu trên biên giới: "Em gọi về xin ý kiến anh nên xử lý thế nào về số hàng lậu bắt giữ chiều hôm trước ạ?". Ông trả lời gần như quát: "Còn thế nào nữa, cứ đúng pháp luật mà làm. Đã là hàng lậu, hàng cấm thì cứ tùy theo mức độ mà xử  lý"." Báo cáo anh đây là lô hàng của...". "Của ai?". "Dạ...của chị Mai Thùy ạ!". Có một cái gì đó chợt nhói đau trong lòng ông khi ông nghe người cán bộ cấp dưới nhắc đến tên người ấy với một thái độ có vẻ hơi nể nang, rụt rè. Hầu hết các nhân viên của ông trên biên giới đã phần nào hiểu được mối quan hệ giữa ông với người đàn bà có tên là Thùy nên mới tỏ ra lúng túng như thế. Chẳng những trên đó mà ngay ở cơ quan cục mọi người cũng đều biết rất rõ "câu chuyện tình" của ông mấy mươi năm trước. Bởi đã có lần ông từng kể cho họ nghe. Rồi khi người đàn bà đó sau mấy chục năm bặt vô âm tính, nay xuất hiện với một bức thư thì họ càng có cơ sở để khẳng định những gì ông kể với họ là có thật một trăm phần trăm. Họ rất hiểu nỗi trăn trở của ông khi đứng trước một  sự việc mà giải quyết cách nào cũng không dễ.


         
          Một lát trôi qua, ông nói: "Của ai cũng thế thôi, các cậu cứ cho lập biên bản rồi cho hàng vào kho không nể nang ai hết. Hôm trước tôi cũng đã chỉ thị như vậy rồi". Sau câu nói ông ngồi lặng đi một lúc. Có vẻ như ông rất miễn cưỡng khi phải thốt ra những lời lẽ mà ông hoàn toàn không muốn. Ông thấy mình quá khắt khe nếu không muốn nói là tàn nhẫn khi quyết định như thế. Rồi ông lục tìm xem lại lá thư của người ấy.
         
Sáng hôm kia trong lúc ông đang làm việc thì cô văn thư mang đến cho ông một bức thư. "Thưa chú, có một người phụ nữ nói quen chú gửi lại cho chú lá thư này. Cô ấy đưa cho cháu, cháu chưa kịp hỏi gì cô ấy đã đi ngay rồi ạ!". Cô văn thư còn tả tỉ mỉ rằng người phụ nữ ấy năm nay khoảng ngoài năm mươi tuổi, dáng người mập mạp, cách ăn mặc có vẻ dân thành phố, nói năng rất lịch thiệp.
         
Cầm trong tay chiếc phong bì ông Đoàn vô cùng ngạc nhiên. Ông có quen ai mà phải gửi thư cho ông bao giờ đâu. Xưa nay mọi mối quan hệ, dù thân hay sơ, dù trao đổi bàn bạc công việc hay chỉ là tình cảm, xã giao...thì thường là người đó trực tiếp gặp ông, nếu không thì chủ yếu liên lạc qua điện thoại, chứ mấy khi gửi thư bao giờ. Mà đây lại là thư của một người phụ nữ mới lại càng ngạc nhiên hơn. Ai thế nhỉ? (Còn nữa)
                                                                                                                                        N.N.C

Thu Phương - BTV Văn học - Đài Tiếng nói Việt Nam
Chụp trong dịp Thu Phương vào Quảng Trị công tác (Ảnh N.N.C)

(36) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

«Trước   1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18  Sau»