Sign up

HOA BẰNG LĂNG - THẤM ĐẪM MỘT HỒN THƠ - NNC

HOA BẰNG LĂNG
thấm đẫm một hồn thơ

NGUYỄN NGỌC CHIẾN

 

          

          Hoa Bằng Lăng yêu thơ và đến với thơ để rồi từ cảm xúc đến diễn đạt, chị đã có một lối đi riêng, một phong cách riêng, đó là cảm xúc thiên về ấn tượng và diễn đạt thiên về khái quát. Thơ chị mềm mại, đắm đuối, giàu tự sự và rất nữ tính. Người đọc khi đọc thơ của Hoa Bằng Lăng sẽ dễ dàng đồng cảm và chia sẻ với chị những cảm xúc mà chị gửi gắm trong từng bài thơ.
         
Đọc thơ của Hoa Bằng Lăng, tôi có thể chia cái cảm xúc của chị ra làm hai mảng. Một là thơ chị dành cho nguồn cội, quê hương, gia đình, người thân. Và hai là thơ chị dành cho tình yêu.
         
Ở tập thơ "Thức đồi cỏ may", tập thơ do Nhà Xuất bản Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh ấn hành ra mắt bạn đọc vào cuối tháng mười vừa qua, Hoa Bằng Lăng có rất nhiều bài thơ dành viết về quê hương. Chị có một cái nhìn khá sâu sắc, tinh tế, nhưng lại rất tình cảm khi thể hiện cảm xúc đó qua những bài thơ này. Có lẽ đây là đề tài đã được nói nhiều, viết nhiều không chỉ trong thơ mà còn ở rất nhiều các loại hình nghệ thuật khác. Nhưng viết thế nào để không trùng lặp lại với những người trước đã viết mới là điều khó, mới là điều khiến Hoa Bằng Lăng phải trăn trở. Có một bài thơ tôi rất tâm đắc ở trong tập này, đó là bài "Mơ về nguồn cội". Bài thơ phần đầu được viết dưới hình thức thơ tự do. Có lẽ ở thể thơ này nhà thơ mới không bị ràng buộc bởi bất cứ một yếu tố nào khi diễn tả mạch cảm xúc mãnh liệt của mình. Bài thơ như cho người đọc được sống lại cái thuở ông cha tảo tần với mảnh vườn thửa ruộng bằng chiếc rìu đá dựng xây cơ đồ từ ngàn năm trước:
         
Mẹ ngậm răng đen nhưng nhức
         
Bàn chân Giao Chỉ tòe ngơ
         
Cắm cúi bờ sông bến bãi
         
Chỉ chăm gieo cấy gốc bờ...
         
Cha vác cày đi mở đất
         
Phù sa xanh ngút mắt sông Hồng
         
Tóc cài ngược lông chim bay phơ phất
         
Dâu bờ tím bãi ven sông...
         
(Mơ về nguồn cội)


         
          Tôi đặc biệt yêu thích hình ảnh bà mẹ có "bàn chân Giao Chỉ tòe ngơ" trong bài thơ. Đây là một phát hiện độc đáo của Hoa Bằng Lăng và nhờ hình ảnh này mà bài thơ được nâng lên rất nhiều. Hoa Bằng Lăng đã thể hiện hình ảnh về bà mẹ chỉ bằng mấy câu thơ thôi  nhưng đã hội tụ được đầy đủ những đức tính đẹp đẽ nhất của người phụ nữ Việt Nam từ xa xưa đến nay. Hình ảnh bà mẹ trong bài thơ làm tôi nhớ đến đã rất lâu rồi tôi cũng từng nhìn thấy những bà cụ rất già, có cụ ngót nghét cả trăm tuổi, cũng có bàn chân y hệt như bà mẹ trong thơ của Hoa Bằng Lăng. Đó là bàn chân mà cả hai ngón chân cái đều chõe về hai phía khiến cho bàn chân từ gót lên đến ngón cái cong hẳn lại không sao có thể mang được dép. Người ta gọi đó là bàn chân Giao Chỉ và ai là người có bàn chân Giao Chỉ thì mới đúng là người có gốc gác, nguồn cội con Lạc cháu Hồng.
         
Đọc bài thơ "Mơ về nguồn cội" ta như có cảm tưởng đang được sống lại cái không khí của thuở vua Hùng dựng nước, thuở Bà Triệu, Bà Trưng cưỡi voi xông trận tiêu diệt kẻ thù giữ yên bờ cõi. Bài thơ có cả tiếng tù và, tiếng trống, tiếng gươm khua, tiếng ngựa hý, tiếng voi gầm... Một âm thanh trầm hùng, khí phách vang vọng núi sông như được ôm trùm, lan tỏa cả bài thơ.
         
Đâu tiếng trống đồng ngày hai bà cưỡi voi trắng
                                                               
hiên ngang xông trận
         
Giặc mê man chết gục dưới dấu voi dày
         
Hình hài cha ông tỏ mặt
         
Hạc vàng điệu vũ say say...
         
(Mơ về nguồn cội)


         
          Hoa Bằng Lăng có nhiều bài thơ với một nỗi niềm đau đáu về quê hương, mẹ cha của mình, như các bài "Cuộc trần gian ta bước về đâu", "Tạ lễ quê hương", "Tháng năm này con lại nhớ mẹ cha", "Cha", "Thay cha về tạ lỗi quê hương", "Đứa bé trong chiều buông"...Có lẽ đối với mỗi người Việt Nam, dù đi đâu về đâu, dù xa cách bao nhiêu và dù thời gian có vật đổi sao dời thì ai ai trong cõi sâu thầm kín của lòng mình vẫn luôn dành cho quê hương, mẹ cha...những tình cảm ơn sâu nghĩa nặng. Tình cảm ấy được mỗi người thể hiện một cách khác nhau. Hoa Bằng Lăng là người làm thơ và chị đã thể hiện được tình cảm đó qua những vần thơ ngọt ngào của mình:
         
Cha ơi!
         
Một thời tuổi thơ cơ cực
         
Trèo lên Rú Nhọn, Rú Thành
         
Môi sim tím chiều Trung Mỹ
         
Tìm trâu chạy lạc Văn Lang...
         
(Thay cha về tạ lỗi quê hương)
         
Đó là những địa danh ở Xứ Nghệ gắn với một thời tuổi thơ của chị, là quê hương chị, là nơi chị cất tiếng khóc chào đời.
         
Còn đây là tình cảm khi chị nghĩ về người cha kính yêu của mình:
         
Nhà bốn phía dột đều cha hứng
         
Chỗ ấm con nằm. Chỗ dột đời cha
         
Đầu cá trích. Cuống rau. Chát đắng
         
Con bé bỏng cười khoe áo trắng hoa.
          (Cha)
          Và khi cha không còn nữa thì chị đã khóc bên mộ cha bằng những câu thơ nức nở như thế này:
         
Con biết nghĩ cha đã đi biền biệt
         
Chốn trăm năm. Lạnh lẽo một chiều
         
Con chạy mãi. Phía nào cha đứng
         
Kêu gọi hoài. Vọng núi cô liêu...
         
(Cha)
         
Hay:
         
Chừ cha nằm với đất
         
Đất xanh ngàn cây chim hót
         
Có nôn nao đường quê hương
         
Mà con bỗng dưng muốn khóc
         
Thương cha chưa lần thăm mộ tổ tiên
         
(Thay cha về tạ lỗi quê hương)


         
          Mảng thơ về tình yêu có thể được xem là mảng thơ chủ đạo, chiếm một số lượng lớn và gần như xuyên suốt trong quá trình sáng tác của Hoa Bằng Lăng. Điều này cũng rất dễ hiểu. Bởi không hiếm người suốt cả một đời sáng tác, mặn mà với văn chương, nhưng tác phẩm chỉ theo đuổi một đề tài nào đó mà họ có sở trường hoặc là yêu thích. Với Hoa Bằng Lăng, chị chọn đề tài tình yêu để thể hiện nó qua ngôn ngữ của thơ, của nghệ thuật tôi nghĩ là một thế mạnh của chị.  Bởi, đọc thơ về tình yêu của chị, tôi hiểu là thơ về tình yêu của chị không hẳn chỉ là vì thơ, vì nghệ thuật, mà thơ về tình yêu của chị còn là tất cả những gì mà chị tiếc nuối, xót xa, đau khổ, khát khao...trong hạnh phúc và tình yêu.
         
Trong tập thơ "Chậm một nửa" của Hoa Bằng Lăng do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành năm 2008 có tổng số 46 bài  thì có tới gần 40 bài là thơ về tình yêu. Nhiều bài trong tập này được Hoa Bằng Lăng diễn tả với một tâm trạng khá buồn. Nhưng tôi lại nghĩ đây chưa hẳn là tâm trạng của chị, mà có thể qua thơ mình chị muốn nói hộ cho ai đó:
         
Anh, người chia sẻ đời em
         
Mỗi ngày gặp nhau mười phút ăn cơm tối...
         
Người yêu dấu của em
          Chỉ lăn vào giường lúc đã nồng nàn hơi rượu...
         
Anh, người từng hiểu em mọi niềm bí mật
         
Sẵn sàng cáu khi em vờ hờn dỗi
         
Và sẵn sàng ra khỏi nhà đến sáng...
         
(Trái đất đang nóng dần lên)


         
          Vâng, trong tình cảm con người, và nhất là trong tình yêu lứa đôi ai cũng có những lúc vui lúc buồn, lúc thương lúc giận.  Và hạnh phúc thì như trái chín đầu mùa, ngọt ngào đấy nhưng không phải không có lúc thế này thế kia khi ta gặp phải quả đắng. Điều quan trọng là ta biết hướng tới những gì tốt đẹp hơn, yêu thương hơn. Đó mới là tình yêu đích thực của đời mình.
         
Thơ tình yêu của Hoa Bằng Lăng ngoại trừ một vài bài như đã nói trên, còn lại tất cả đều là tình cảm rất đẹp đẽ, rất trong sáng và lãng mạng. Mỗi bài thơ của chị về tình yêu bao giờ cũng ngọt ngào hương vị của thứ tình cảm đặc biệt này. Mỗi bài thơ về tình yêu của chị bao giờ cũng chứa chan và thấm đẫm tình yêu thương trong nhung nhớ, đợi chờ.
         
Đường vẫn chờ bước chân anh đấy
         
Em tin rằng sẽ có một ngày mai
         
Anh nhẹ bước trên con đường trải rộng
         
Có tình em đón đợi cuối canh dài
         
(Con đường vẫn chờ bước chân anh)
         
Chẳng có anh biển vỡ làm đôi
         
Nửa khao khát chắt chiu thành muối mặn
         
Đến cháy trong anh nỗi niềm lặng đắng
         
Nửa ngấm tim em dào dạt sóng triều dâng
         
(Biển vỡ)


         
          Có một thực tế trong thơ Hoa Bằng Lăng, nhất là thơ về tình yêu mà tôi gặp, đó là, hình như tình yêu trong chị càng mặn nồng bao nhiêu thì những bài thơ về tình yêu của chị càng sâu sắc và chín đỏ bấy nhiêu, cũng có nghĩa là thơ về tình yêu của chị càng ngày càng hay hơn, càng ngày càng được bạn đọc yêu thích và mến mộ hơn. Phải chăng đó là sự đồng thuận giữa tâm hồn nhà thơ với nghệ thuật? Điều này được chứng minh rất rõ qua một loạt bài thơ về tình yêu mà chị sáng tác sau này và một số đã được chị chọn in trong tập "Thức đồi cỏ may".
         
Có thể kể ra đây tên những bài thơ ấy như "Trái tim không nguôi nhớ", "Miền nhớ riêng anh", "Đêm nay trên trời chỉ có một vì sao", "Thức với vầng trăng", "Vẫn đợi ngày xa", "Khúc hát ngày cho anh", "Biết bao giờ trở lại mùa thu"...và nhiều bài khác nữa.
         
Trong thơ tình yêu của Hoa Bằng Lăng tôi nghĩ là chị đã dành tất cả niềm thương nỗi nhớ cho người mình yêu. Như thân tằm rút ruột nhả tơ, chị cũng đã dốc cạn nỗi lòng mình cho người mình yêu. Chị đã gửi gắm vào đó tất cả tình yêu của chị. Những vần thơ của chị trong những bài thơ về tình yêu sau này thật đẹp đẽ vô cùng, mềm mại vô cùng và cũng chan chứa tình yêu thương không thể còn viết thế nào để có thể hay hơn được nữa, dốc hết nỗi lòng của mình hơn được nữa.
         
Ngày trải biếc hồng qua biển cả mênh mông
         
Sóng dẫu lớn chẳng bằng dòng thương cuộn chảy
         
Mạch đập của tim trong vòng tay run rẩy
         
Có mạnh bằng nỗi nhớ của em không?
         
(Đêm nay trên trời chỉ có một vì sao)
         
Trăng đã về. Anh chẳng ở quanh đây
         
Tròn con nước trăng lại về đúng hẹn
         
Bay sóng sánh trăng xõa vàng tóc bến
         
Aó em sương rơi bàng bạc trăng ngà.
         
(Thức với vầng trăng)
         
Ngay cả khi
         
Cô đơn kề bên
         
Em bước bên bờ vực của tuổi già vĩnh cửu
         
Niềm đau lặng chôn
         
Niềm yêu thương từ lâu phai dấu
         
Em vẫn biết rằng
         
Trái tim mình không nguôi nhắc nhớ
         
Đã - sẽ - và yêu anh!
         
(Trái tim không nguôi nhớ)


         
          Với một giọng thơ đắm đuối, mượt mà, cuốn hút, dù viết về quê hương, mẹ cha, hay viết về tình yêu, thơ Hoa Bằng Lăng bao giờ cũng hấp dẫn bạn đọc.Theo dõi thơ của Hoa Bằng Lăng từ trước đến nay, dù được diễn đạt dưới bất kỳ hình thức nào, có một vấn đề nổi trội mà tôi thường gặp, đó là chị đã rất chịu khó tìm tòi có chọn lọc những từ ngữ để đưa vào thơ. Nhiều bài thơ của Hoa Bằng Lăng có rất nhiều từ ngữ mới và đẹp nhưng vẫn rất dung dị, mộc mạc, gần gụi với lời ăn tiếng nói hàng ngày. Có lẽ chính vì vậy mà thơ Hoa Bằng Lăng có cái hay, cái sang, cái lạ riêng. Đọc thơ Hoa Bằng Lăng đã nhiều nên tôi cũng xin được nói thật, đó là, nếu như gặp một bài thơ của Hoa Bằng Lăng lẫn đâu đó giữa nhiều bài thơ khác, tôi vẫn có thể nhận ra bài nào là của chị.
         
Nhiều năm làm thơ, với số lượng đã lên đến hàng trăm bài, nhưng Hoa Bằng Lăng mới chỉ cho ra mắt hai tập thơ là "Chậm một nửa" và "Thức đồi cỏ may" giới thiệu với bạn đọc. Thơ chị cũng đã góp mặt trong nhiều tập thơ in chung và in trên nhiều các tạp chí Văn nghệ trong và ngoài tỉnh. Chị cũng đã dành một số giải thưởng về thơ. Không được chào đón, tán tụng, ngợi ca...một cách vồ vập, chóng vánh như một số người làm thơ khác, Hoa Bằng Lăng chỉ có viết, miệt mài viết. Tôi lại nghĩ đến có rất nhiều những người viết văn làm thơ cứ sau mỗi khi có sách xuất bản là chạy ngược chạy xuôi tìm người viết bài giới thiệu, rồi lại chạy đôn chạy đáo tới báo này, tạp chí nọ cầu cạnh để người ta đăng lên. Nực cười hơn, có những tác phẩm xuất bản chất lượng chả ra sao nhưng người viết bài giới thiệu lại thổi phòng lên to bằng...ông trời, cốt để câu khách, hoặc vì những mục đích không chính đáng khác. Đinh Tiểu Lăng không thế và tôi biết chị không bao giờ muốn thế! Chị vẫn khiêm nhường nói rằng, chị làm thơ là để cho vui khi thời gian rảnh rỗi sau một ngày bận bịu với đủ thứ công việc.


         
          Dù âm thầm, lặng lẽ với thơ, mặn mà, thủy chung với thơ, không quá quan trọng với việc làm thơ, chỉ xem thơ như một đam mê, một thú vui để giải tỏa...nhưng qua những gì có được trên một chặng đường thơ đầy vất vả, cực nhọc, bạn bè yêu thơ và cả những người hiểu thơ cũng đã khẳng định được bản ngã của chị và đã dành cho thơ chị nhiều tình cảm và lòng mến mộ. Phần tôi, qua hai tập thơ của Hoa Bằng Lăng mà tôi đã đọc, tôi có thể nói rằng, thơ chị đã là thơ của thi sỹ rồi đấy và bản thân chị cũng đã là thi sỹ rồi đấy.

N.N.C

(72) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

NGÀY 10.12 VÀ NHỮNG TẤM ẢNH MỘT THỜI - N.N.C

NGÀY 10.12

NHỮNG TẤM ẢNH MỘT THỜI

        
          Ngay sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng không lâu, vào ngày 10.12.1975, năm ấy mới chỉ gần mười bảy tuổi, tôi đã viết đơn tình nguyện gia nhập Lực lương Công an Nhân dân Vũ trang (ngày nay là Bộ đội Biên phòng). Rồi từ đó cho đến hết tháng giêng năm 1979, nghĩa là trong suốt cuộc chiến tranh biên giới Tây -  Nam, tôi đã có mặt ở chiến trường. Đó là quãng đời tươi đẹp nhất của tôi. Vì trong những năm tháng ấy tôi đã chứng kiến biết bao là tội ác mà bè lũ Pônpốt - Iêngxary gây ra đối với đồng bào ta, đặc biệt là vụ thảm sát của chúng đối với hơn 3000 người dân vô tội ở xã Ba Chúc, huyện Bảy Núi, tỉnh An Giang. Vì tôi đã được thử thách, chịu nhiều gian khổ, hy sinh. Vì tôi đã cùng đồng đội lập công xuất sắc trong chiến đấu bảo vệ biên cương của Tổ quốc thân yêu. Vâng, mới đó mà đã hơn ba mươi năm trôi qua rồi...Sau đây là một vài hình ảnh do phóng viên Báo Quân đội Nhân dân thường trú tại chiến trường biên giới Tây - Nam ghi lại được mà tôi còn lưu giữ đến hôm nay. (N.N.C)


Trước ngày nhập ngũ.


Lính binh nhì



Quyết tâm bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc!


Ban chỉ huy Đại đội 5 Công an Nhân dân Vũ trang An Giang năm 1978. Lê Doãn Vấn - Chính trị viên phó; Phạm Thanh Đuyền - Đại đội trưởng; Trương Quang Hiệt - Chính trị viên (trái sang).



Chính trị viên Đại đội Trương Quang Hiệt và đồng đội.


Nguyễn Ngọc Chiến (bên phải) cùng đồng đội tại chiến hào.


N.N.C trong trận đánh đêm 27.3.1978 tại kênh Năm Xã.


Trận đánh tại kênh Năm Xã - xã Phú Hữu - huyện Phú Châu - tỉnh An Giang.


Đêm 27.3.1978.

 

Phóng sự ảnh của Báo CAVT năm 1978 về đại đội 5


Nguyễn Ngọc Chiến, hạ sỹ, (A8 - B3 - đại đội 5) tham gia chiến đấu nhiều trận trên kênh Năm Xã, đã nêu cao tinh thần chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, vận dụng chiến thuật đánh gần, bẽ gãy nhiều đợt tấn công tội ác của lực lượng vũ trang Campuchia. Đồng chí được đề nghị tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba. (Báo Công an Vũ trang năm 1978).


Hồi đó mình đã tranh thủ tập viết báo ghi lại chiến công của đồng đội...


Chính trị viên phó Đại đội 5 Bùi Ngọc Giáp.


Trung ương Đoàn tặng cờ TUỔI TRẺ ANH HÙNG BẢO VỆ TỔ QUỐC cho Đại đội 5.


N.N.C


Pônpốt - Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Campuchia; Thủ tướng Chính phủ Campuchia Dân chủ, kẻ chủ mưu tàn sát dân tộc Campuchia và trực tiếp gây ra cuộc chiến tranh biên giới Tây - Nam, giết hại đồng bào Việt Nam ở biên giới.

Iêngxary - Phó Thủ tướng; Bộ trưởng Ngoại giao chế độ Khơmeđỏ

 

Tamok - Tổng Tư lệnh mặt trận Đông - Nam quân đội Khơmeđỏ.

 

Duch - Chỉ huy nhà tù Tuol Sleng giết hại 16.000 tù nhân Campuchia

 

Nhà mồ Ba Chúc, thuộc xã Ba Chúc, huyện Bảy Núi, tỉnh An Giang, nơi đây chỉ trong một ngày đêm (tháng 4.1978) bọn đao phủ Pônpốt đã tàn sát trên ba nghìn người dân Việt Nam vô tội.

(67) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

MỘT NGÀY VỚI CÁC CHIẾN SỸ HẢI QUAN CỬA VIỆT - NNC

NHÂN TỔNG KẾT TRẠI SÁNG TÁC HẢI QUAN

         
          Nhân kỷ niệm 60 năm thành lập Hải quan Việt Nam và 20 năm thành lập Hải quan tỉnh Quảng Trị sắp tới, vừa qua Cục Hải quan Quảng Trị đã phối hợp với Hội Văn học - Nghệ thuật Quảng Trị tổ chức Trại sáng tác Văn học viết về người Hải quan Quảng Trị. Trại sáng tác đã rất thành công với nhiều tác phẩm thơ - văn và sẽ được in thành sách trong thời gian tới. Đóng góp cho Trại sáng tác, ngoài truyện ngắn MAI VÀNG RỰC RỠ (Chuyện Riêng Của Cục Trưởng) đã được phát trong Chương trình "ĐỌC CHUYỆN ĐÊM KHUYA" của Đài TNVN và in trên một số Tạp chí Văn nghệ các tỉnh, tôi còn có bút ký MỘT NGÀY VỚI CÁC CHIẾN SỸ HẢI QUAN CỬA VIỆT. Xin giới thiệu với các bạn bút ký này.(N.N.C)



 

NGUYỄN NGỌC CHIẾN

Một ngày với các chiến sỹ

Hải quan Cửa Việt

BÚT KÝ

         
           (Đoạn cuối)
         
Ở Chi cục Hải quan Cửa Việt có chín cán bộ, nhân viên thì có tới bảy người quê ở Quảng Bình, tất cả đều đã ở độ tuổi bốn mươi, năm mươi và đã có thâm niên hàng chục năm trong ngành, người trẻ nhất như anh Nguyễn Ngọc Lâm cũng đã có tới hai mươi hai năm công tác trong lực lượng Hải quan. Họ đa số vào ngành ngay từ những năm Quảng Trị đang là tỉnh Bình - Trị - Thiên trước đây, vì thế khi tách tỉnh ai cũng tình nguyện xin được ở lại làm việc tại Quảng Trị. Một số người như anh Dụng, anh Lâm, anh Thành... trước khi trở thành nhân viên Hải quan đã từng là chiến sỹ quân đội công tác ở nhiều vùng, miền khác nhau. Anh Lê Chí Dụng nhập ngũ tháng ba năm 1979 trong một lần tổng động viên vì có "sự cố" ở biên giới phía bắc. Sau hơn bốn năm là lính chủ lực của binh đoàn Hương Giang đóng quân ở Hà Bắc, anh được chuyển ngành trở về quê hương làm nhân viên Hải quan, rồi từ đó gắn bó một mạch gần ba mươi năm với lực lượng, phấn đấu trở thành Chi cục trưởng như bây giờ. Quê anh ở Quảng Bình, gia đình cũng đang ở Quảng Bình. Anh có hai con trai học rất giỏi, một cháu giờ đang học Đại học Công nghệ thông tin và một đang học Đại học Kinh tế ở thành phố Hồ Chí Minh. Cũng như Hoàng Báu và hầu hết anh em ở đây, mấy chục năm qua Lê Chí Dụng cũng phải "nay chỗ này, mai chỗ kia", biền biệt xa nhà, xa vợ con. Thế nên, khi rảnh rỗi, cứ vài ba tuần, nhớ gia đình quá anh lại phải "nhảy" xe đò về thăm.


         
          Chẳng biết các cán bộ, nhân viên Hải quan có suy nghĩ gì không khi bản thân nhiều người trong số họ hàng mấy chục năm nay luôn trong tình cảnh biền biệt xa nhà, nhớ vợ, thương con. Phần tôi, lần đầu tiên được tiếp xúc với các anh, nghe các anh tâm sự chuyện công tác, chuyện riêng tư, tôi bỗng nãy ra một sự so sánh. Đó là tôi thấy người cán bộ Hải quan có nét gì đó giông giống với người chiến sỹ Biên phòng ở môi trường công tác, ở sự thiếu vắng tình cảm gia đình.
         
Vâng, bất kỳ một sự so sánh nào cũng trở nên khập khiểng, nhưng không hiểu sao tôi vẫn muốn so sánh các anh, những cán bộ, nhân viên áo màu xanh da trời với những người chiến sỹ trong lực lượng vũ trang thân yêu của chúng ta. Và tôi bỗng nhớ tới có một lần tôi cùng đoàn văn nghệ sỹ Quảng Trị lên thăm cán bộ, nhân viên Chi cục Hải quan cửa khẩu La Lay ở tít tận trên biên giới Việt - Lào. Hôm ấy là một ngày cuối tháng tư, trời nắng nóng khủng khiếp, nhiệt độ có lúc lên tới ba bảy, ba tám độ. Ở đấy rừng núi bao bọc ba bề bốn bên, chỉ duy nhất có một con đường độc đạo uốn lượn, gồ ghề, lổ chổ ổ voi, ổ trâu nối từ đường Trường Sơn lên. Không có bản làng dân cư sinh sống. Không có sóng điện thoại di động.  Những ngày nghỉ, những đêm trăng không biết đi chơi ở đâu, không biết lấy ai làm bạn ngoài những người đồng đội. Nhiều lúc thèm được nghe một giọng nói con gái, thèm được ngắm nhìn một khuôn mặt thiếu nữ hay một tà áo dài thướt tha. Mọi cái nơi "thâm sơn cùng cốc" này đều hết sức thiếu thốn.


         
          Anh Thành, Chi cục trưởng Hải quan La Lay bùi ngùi nói: " Đấy, cuộc sống của chúng tôi là như thế đấy! Ai cũng bảo đã là Hải quan là đầy đủ lắm, là sung sướng lắm! Ở đây chúng tôi cũng phải tăng gia sản xuất bằng cách chăn nuôi thêm lợn, gà...trồng thêm rau xanh để cải thiện bữa ăn  hàng ngày cho cán bộ nhân viên...". Cũng như người chiến sỹ Biên phòng đồn cửa khẩu La Lay, người chiến sỹ Hải quan ở đây cũng phải chịu biết bao gian khổ. Trong số họ, khi đang công tác ở đội kiểm soát hay ở cửa khẩu Lao Bảo, không ít người đã lập được thành tích xuất sắc trong khi làm nhiệm vụ truy bắt bọn tội phạm buôn bán chất ma tuý, hoặc phân phui nhiều vụ buôn bán hàng lậu, hàng gian lận thương mại với số lượng lớn có giá trị lên đến hàng tỷ, thậm chí hàng chục tỷ đồng.
         
Anh Nguyễn An Định, Chi cục phó Hải quan La Lay chỉ một người đàn ông khoảng ngoài năm mươi tuổi, mái tóc bạc trắng gần hết, nói với tôi: "Anh ấy là một người trong số ấy. Tên anh là Lê Văn Thược, người lớn tuổi nhất ở đây và là một nhân viên kỳ cựu, tiếng tăm, không ai là không biết. Thành tích của anh ấy có thể được xếp vào hàng nhất, nhì ở Hải quan Quảng Trị. Còn bọn buôn bán ma tuý, buôn lậu thì chỉ cần nghe đến tên anh ấy đã phải kiêng dè, khiếp sợ...". Thì ra anh Thược trước đây là đội trưởng đội kiểm soát quân sự của Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Trị. Nghe nói hồi ấy chưa bao giờ anh chịu nương tay với bất cứ quân nhân nào khi ra khỏi doanh trại mà ngang nhiên vô tổ chức kỷ luật, quậy phá, vi phạm điều lệnh quân đội, gây mất lòng tin của nhân dân. Cùng với Công an, anh thẳng tay trừng trị bọn tội phạm hình sự, bọn gây rối trật tự trị an...ở thị xã Đông Hà và các vùng lân cận. Khi chuyển qua công tác ở lực lượng Hải quan Quảng Trị có một thời anh được cử làm đội trưởng đội kiểm soát Hải quan và đã làm được rất nhiều việc có ích cho ngành. Đội kiểm soát do anh làm đội trưởng từng được mệnh danh là " trụ cột", là "xương sống" của ngành Hải quan Quảng Trị. Rất tiếc hôm ấy do thời gian đến La Lay quá hạn hẹp tôi đã không gặp riêng được anh Thược để trực tiếp nghe anh kể về thành tích của anh.


         
          Bây giờ ở Cửa Việt, ngồi nghĩ đến anh, tôi lại liên tưởng đến anh Hoàng Đình Kính, nhân viên Chi cục Hải quan ở đây. Anh Kính có lẽ là bậc "cao niên" nhất trong ngành Hải quan Quảng Trị, bởi tuổi ngành của anh đã hơn ba mươi năm và tuổi đời của anh cũng đã sắp sửa...đến ngày được nghỉ chế độ. Quê anh ở xã Quảng Thủy, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Trước năm 1981 anh là nhân viên của đội phòng chống ma túy Hải quan tỉnh Nghệ An. Chuyển vào Hải quan Quảng Trị từ những năm đang là tỉnh to Bình - Trị - Thiên, năm lần bảy lượt thuyên chuyển công tác, hết lên rừng lại xuống biển, hết Lao Bảo lại La Lay; rồi lại từ La Lay về Cửa Việt. Đường công tác gần như là một vòng xoáy trôn ốc. Chỉ có lần  thuyên chuyển này anh mới có đủ cơ sở để khẳng định chắc chắn là mình sẽ được "yên vị" ở Cửa Việt, không phải đi đâu nữa. Nguyễn Đình Kính hồi còn công tác ở cửa khẩu Lao Bảo đã nêu một tấm gương sáng về tính liêm khiết, trong sạch của người cán bộ Hải quan Việt Nam. Đó là anh đã kiên quyết từ chối không nhận một số tiền lớn mà bọn buôn lậu đã hối lộ anh hòng  tẩu thoát. Việc làm và nghĩa cử đẹp đẽ ấy của anh cho đến bây giờ mọi người trong ngành vẫn nhớ và nhắc nhủ nhau học tập, làm theo.


         
          Một ngày với các chiến sỹ Hải quan Cửa Việt trôi qua thật nhanh! Trong một bài viết ngắn này, tôi không có ý định đưa vào đây những sự việc, những con số, rồi phương hướng, nhiệm vụ...những cái thuộc về công tác chuyên môn của các anh. Mặc dù khi trao đổi với tôi, các anh đã nhiệt tình cung cấp tương đối đầy đủ các số liệu. Và đây nữa, có tới ba, bốn bản báo cáo tình hình công tác hàng năm, trong đó ghi rất cụ thể những việc đã làm được và cả những việc chưa làm được ở Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Cửa Việt. Một ngày với các anh bên một cửa biển đẹp, một bãi tắm yên lành, hấp dẫn, được sóng gió dội lên da thịt, thư giản với đất trời, được nghe các anh dốc bầu tâm sự chuyện nhà, chuyện công tác, chuyện quê hương...Đó là tất cả những gì mà tôi chỉ kịp vội vàng ghi lại trong bài viết này. Một ngày với các anh! Vâng, chỉ một ngày thôi, nhưng đã mở ra trong tôi rất nhiều những hiểu biết về các anh, những chiến sỹ Hải quan, những người áo màu xanh da trời nơi đầu sóng ngọn gió, nơi biên cương, hải đảo của Tổ quốc thân yêu.
N.N.C
                                                                

(32) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

GỌI TÊN ANH TRONG NỖI NHỚ - THƠ NGUYỄN THU HÀ

Gọi tên anh

trong nỗi nhớ

 

thơNguyễnThuHà

 

Lời buồn nào em đã gọi anh
vọng mãi chân mây
đong đầy nỗi nhớ
tiếng em gọi
hao gầy vầng trăng cũ.



Em tìm anh giữa dòng đời cuộn chảy
chỉ thấy xa lạ
không dấu vết thân quen
người chen người, lấn dài trên phố.

Mình em lặng lẽ bên dòng người hối hả
nhặt hy vọng
gom lại niềm tin
miệt mài tìm mãi bóng hình anh.

Đêm hoang dại, giấc mơ khuya thẩn thờ
em vẫn cô đơn
vẫn đợi chờ
giọt buồn lặng lẽ vẫn rơi
vẫn gọi tên người dấu yêu ơi!

N.TH.H

 

(42) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

MỘT NGÀY VỚI CÁC CHIẾN SỸ HẢI QUAN CỬA VIỆT - NNC

NHÂN TỔNG KẾT TRẠI SÁNG TÁC HẢI QUAN


 

          Nhân kỷ niệm 60 năm thành lập Hải quan Việt Nam và 20 năm thành lập Hải quan tỉnh Quảng Trị sắp tới, vừa qua Cục Hải quan Quảng Trị đã phối hợp với Hội Văn học - Nghệ thuật Quảng Trị tổ chức Trại sáng tác Văn học viết về người Hải quan Quảng Trị. Trại sáng tác đã rất thành công với nhiều tác phẩm thơ - văn và sẽ được in thành sách trong thời gian tới. Đóng góp cho Trại sáng tác, ngoài truyện ngắn MAI VÀNG RỰC RỠ (Chuyện Riêng Của Cục Trưởng) đã được phát trong Chương trình "ĐỌC CHUYỆN ĐÊM KHUYA" của Đài TNVN và in trên một số Tạp chí Văn nghệ các tỉnh, tôi còn có bút ký MỘT NGÀY VỚI CÁC CHIẾN SỸ HẢI QUAN CỬA VIỆT. Xin giới thiệu với các bạn bút ký này. 
         
         


NGUYỄN NGỌC CHIẾN

Một ngày với các chiến sỹ

Hải quan Cửa Việt

BÚT KÝ

          

           Từ cầu Cửa Tùng, cây cầu nối đôi bờ sông Bến Hải, theo tuyến đường ven biển thảm nhựa phẳng lỳ, êm ái, tôi đến Cửa Việt, thị trấn mới thành lập của huyện Gio Linh và là cảng cửa khẩu đường biển của tỉnh Quảng Trị. Dẫu không ồn ào, tấp nập, không bề thế, khang trang như một số thị trấn, thị tứ khác, nhưng Cửa Việt vào những tháng năm này đã bắt đầu manh nha cái thế đi lên và đang dần dần hội đủ những yếu tố cần thiết để vẫy chào, mời gọi khách thập phương đến với xứ sở quê hương mình. Ở đây, ngoài các đơn vị Biên phòng, Công an, Cảng vụ...còn có một lực lượng không thể thiếu là các cán bộ, nhân viên Hải quan, những người đang được mệnh danh là người lính bảo vệ cửa ngõ kinh tế của đất nước. Nếu như toàn bộ thị trấn Cửa Việt nằm ở cuối đường xuyên Á - con đường có chiều dài trên một trăm kylômét nối từ đông sang tây tỉnh Quảng Trị - thì trụ sở làm việc của các chiến sỹ Hải quan Cửa Việt lại nằm ở vị trí cuối cùng của thị trấn, nằm ở những mét đường cuối cùng của đường xuyên Á.


         
          Mới chỉ đầu mùa hạ, nhưng sáng ra, nắng đã tràn trề, nhuộm một màu hồng phơn phớt lên mặt cát. Nắng ròng ròng tuôn chảy tạo nên những tia sáng chấp chới trên mặt đại dương bao la. Đất trời, biển cả...nơi cửa biển này sau những ngày gió mưa tầm tã nay bỗng sáng bừng lên trong sắc nắng.  Biển Cửa Việt thật đẹp, một vẻ đẹp mộc mạc, dung dị, hài hoà. Ngắm nhìn phong cảnh đôi bờ, với những trảng cát dài thoai thoải, những gợn sóng lúc dập dờn, lăn tăn, lúc ào ạt, dâng trào; rồi bến cảng, kho tàng, những con tàu, những chiếc cần cẩu vươn cao...tôi lại nhớ đến câu nói của cụ Lê Quý Đôn khi nhắc đến Cửa Việt trong Phủ biên tạp lục viết năm 1776 lúc cụ đang giữ chức Hiệp trấn, Tham tán quân vụ của chúa Trịnh ở Thuận Hoá: "Huyện Võ Xương có Cửa Việt, sông từ hai nguồn Cảo Cảo và Viên Kiệu chảy về... Cửa này sâu rộng, sóng gió dữ dội, hai bờ đều bãi cát". Như thế thì cái tên Cửa Việt đã được người đời xưa lấy đặt cho cửa biển này từ lâu lắm rồi! Và chắc chắn cũng từ lâu lắm rồi nơi đây đã là một cửa biển lớn, nổi tiếng, ngày ngày tàu thuyền tấp nập vào ra giao thương, buôn bán làm ăn. Trong chiến tranh chống Mỹ, cả vùng đất này là chiến trường ác liệt. Ở một địa bàn có quân cảng như Cửa Việt thì chiến sự còn ác liệt hơn nhiều. Bởi nơi đây là chỗ tập kết vũ khí, lương thực, cùng các loại quân trang quân dụng khác của địch. Để rồi từ đây, bằng đường biển, đường sông, đường bộ, kẻ địch vận chuyển, chi viện cho các căn cứ của chúng ở Đông Hà, Dốc Miếu, Cồn Tiên...và nhiều nơi khác. Năm 1972, sau mười tám năm ròng rã chiến đấu, quân và dân ta đã giành lại Cửa Việt từ tay kẻ thù. Ngày nay, trong công cuộc đổi mới và xây dựng quê hương, Cửa Việt là cảng cửa khẩu đường biển có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của tỉnh Quảng Trị. Trong tương lai, thị trấn Cửa Việt nói chung và cảng Cửa Việt nói riêng là cửa ngõ đường biển, cùng với thị trấn Lao Bảo đang được quy hoạch, xây dựng thành khu thương mại đặc biệt Lao Bảo, là cửa ngõ đường bộ, cả hai cùng nằm trên đường xuyên Á của trục hành lang kinh tế đông - tây giữa nước ta với các nước Lào, Thái Lan, Mi-an-ma, sẽ là cơ hội để thị trấn mang tên một cửa biển từng được gọi là Cửa Việt khách này cách cánh vươn lên. Tôi đã nhiều lần đến Cửa Việt, nhưng có lẽ đây là lần vui hơn cả, vì lần này, ngoài được tận mắt "mục sở thị" những  đổi thay ở Cửa Việt, tôi còn được gặp gỡ các cán bộ, nhân viên Hải quan, được tìm hiểu về họ và công việc mà họ đang làm nơi cảng cửa khẩu này.


         
          Anh Lê Chí Dụng, Chi cục trưởng; anh Phan Văn Cường, Chi cục phó Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Cửa Việt cùng có chung một cảm nhận khi tôi hỏi về công việc của đơn vị. Theo các anh thì nhiệm vụ của đơn vị không đến nỗi vất vả như ở các đơn vị cửa khẩu đường bộ. Ở Cửa Việt, tính đến thời điểm hiện nay chưa từng có tình trạng buôn bán hàng lậu xãy ra. Vì thế, ở đây không có cửu vạn mang vác hàng thuê, không có cảnh tranh mua tranh bán, giành giật, ẩu đã. Càng không có bọn buôn bán, vận chuyển trái phép chất ma tuý và người nghiện ma tuý. Trải bao năm tháng, dù lúc gian khó, nhọc nhằn, hay cả khi đã có trong tay vận hội mới, thời cơ mới, Cửa Việt vẫn chỉ là một thị trấn bình yên bên cửa biển với những người ngư dân cần cù, chất phác, quanh năm chỉ biết "ăn sóng nói gió", "ra khơi vào lộng", một đời mặn mà, thuỷ chung cùng biển cả. Mặc dù vậy, nhiệm vụ của các chiến sỹ Hải quan Cửa Việt không vì thế mà lơ là, mất cảnh giác. Ngược lại, các anh thường xuyên chủ động bám địa bàn, tích cực kiểm tra, giám sát, quản lý đối với từng loại hàng hoá khi qua cảng. Phải vận dụng một cách triệt để chức trách, quyền hạn, nhưng cũng phải hết sức mềm mỏng, khôn khéo trong thi hành nhiệm vụ. Đồng thời phải luôn luôn tạo điều kiện một cách tốt nhất cho các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá, xuất nhập cảnh phương tiện khi đến làm thủ tục tại đơn vị. Hàng hoá qua cảng không đa dạng, phong phú về chủng loại như ở một số nơi khác, nhưng có giá trị kinh tế cao, trong đó mặt hàng gỗ có nguồn gốc nhập khẩu từ Lào và một số các loại hàng khai thác trong nước như như quặng titan, phụ kiện may mặc, cà phê, tinh bột sắn...là chủ yếu. Anh Dụng cười nói với tôi: " Đấy! Công việc của chúng tôi ở đây chỉ có thế, anh viết thế nào được thì viết. Nhưng khó mà hay đấy!". Nghe anh Dụng nói, tôi thấy cũng có lý. Nhưng tôi lại không quan tâm lắm đến công việc của các anh nhiều hay ít, nặng hay nhẹ, càng không quan tâm đến những số liệu mang tính báo cáo mà các anh vừa cung cấp cho tôi. Điều tôi quan  tâm  ở các anh lại ở một khía cạnh khác.


         
          Cách đây hơn mười năm, vào ngày 14 tháng 8 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã có công văn cho phép công bố mở cảng Cửa Việt. Chỉ sau đó gần một năm, vào ngày 12 tháng 7 năm 1999, Tổng cục Hải quan Việt Nam cũng đã có quyết định cho thành lập Hải quan cửa khẩu cảng Cửa Việt. Thấm thoăt mới đó mà đã gần mười năm trôi qua. Hồi ấy ở đây, cả thị trấn ven biển này và một số xã lân cận như Gio Hải, Gio Việt...hãy còn rất nghèo! Lúc ấy ở đây mọi việc dường như chỉ mới bắt đầu. Đường xuyên Á chưa thông. Bến cảng chưa được nâng cấp, sửa chữa. Tàu thuyền, hàng hoá qua lại chưa nhiều. Nhưng một Chi cục Hải quan đã có mặt tại đây ngay từ những ngày đầu cảng mới thành lập vừa làm nhiệm vụ theo chức năng của mình, vừa tăng gia sản xuất, cấy lúa, trồng khoai...cải thiện đời sống. Mười năm trôi qua! Với một bến cảng tỉnh lẻ, chậm phát triển, một bến cảng không phải là cảng nước sâu, một bến cảng chưa có gì để được gọi là "ăn nên làm ra" trong tiến trình đổi mới và phát triển như hiện nay, nhưng những gì mà các cán bộ, nhân viên Hải quan ở đây đã sánh vai, đồng cam cộng khổ cùng với đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương cũng như các đơn vị đóng quân trên địa bàn đã làm được thì thật đáng trân trọng.


         
          Tâm sự với tôi về những khó khăn ở cảng Cửa Việt, anh Hoàng Báu, một nhân viên Hải quan đã nói: "Cảng Cửa Việt muốn phát triển thì phải có chính sách đầu tư thoả đáng. Vài năm trở lại đây, cảng đang có chiều hướng ngày một xuống cấp, nhất là hệ thống cửa ngõ cảng luôn trong tình trạng bị cát bồi lấp nên mực nước cứ càng ngày càng cạn dần, rất khó cho việc tàu thuyền, nhất là tàu có trọng tải lớn ra vào cảng bốc xếp, giao trả hàng hoá. Đặc biệt, vào những tháng bảy, tám trong năm là thời điểm gió mùa thổi mạnh, cát cuồn cuộn bốc lên không trung kéo dài ròng rã hàng tháng trời nên cửa vào cảng bị bồi lấp đến mức mực nước chỉ còn lại vài mét, thậm chí có lúc chỉ còn lại ngang đầu gối. Đã có lần tàu trọng tải lớn vào cảng nhưng không sao ra được, đành phải nằm chết dí tại chỗ tới ba, bốn tháng trời. Trước đây, loại tàu có trọng tải năm, sáu trăm tấn vẫn có thể ra vào bình thường. Bây giờ, giỏi lắm chỉ đón được loại tàu chừng ba, bốn  trăm tấn là cùng. Một phần nữa do cảng cứ càng ngày càng cạn nên tàu bè vào ra cũng thưa dần. Trước đây, mỗi năm có tới vài chục chuyến vào ra, nay chỉ còn ngo ngoe vài chuyến. Có thời gian, nhất là vào những tháng mùa mưa, cảng cứ vắng tanh vắng ngắt, vắng còn hơn cả chợ cá mùa biển động". Rồi anh đưa ra một vài ví dụ để chứng minh điều anh nói. Cuối cùng anh kết luận: "Bởi vậy, tụi em mang tiếng là Hải quan cửa khẩu nhưng nhiều lúc thật nhàn. Thì anh bảo có tàu bè gì ra vào mấy đâu mà không nhàn nhã, thảnh thơi. Tàu nước ngoài hay những tàu có trọng tải lớn trong nước thì họ tìm những cảng nước sâu như Đà Nẵng, Chân Mây, mèng lắm thì Nhật Lệ, Vũng Áng... họ vào, chứ đời nào họ cập cảng Cửa Việt. Phải không anh?". Anh Báu quê ở huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, đã có thâm niên gần ba mươi năm trong ngành Hải quan. Anh cũng đã đi khắp các đơn vị Hải quan trong tỉnh, từ La Lay, Lao Bảo và bây giờ là Cửa Việt. Không biết quãng thời gian công tác còn lại anh sẽ  phải thuyên chuyển những đâu. Gia đình anh hiện đang sinh sống ở thành phố Đồng Hới. Xa cách, bận bịu với công việc của một công chức nhà nước nên có khi phải hàng tháng trời anh mới về thăm vợ con được một lần.


         
          T
ính Báu vui nhộn, hay cười, cách nói chuyện hóm hỉnh, có duyên. Anh dẫn tôi dạo một vòng quanh cảng, vừa đi vừa chỉ trỏ, giới thiệu nơi này chỗ kia và nói chuyện rất cởi mở, chân tình. Có vẻ như anh rất yêu thích văn học nghệ thuật và quý mến những người đang có ý định tìm hiểu viết bài phản ảnh về đơn vị mình. Nhìn anh, tôi sực nhớ đến một nhân vật cũng là nhân viên Hải quan trong một truyện ngắn của Dương Hướng, một nhà văn từng công tác và trưởng thành trong ngành Hải quan, người trước đây từng nổi tiếng với tiểu thuyết " Bến không chồng", một tác phẩm văn học xuất sắc đã được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam. Truyện ngắn ấy, dù đọc đã lâu rồi, không còn nhớ chi tiết lắm, chỉ thấp thoáng, le lói hình bóng nhân vật  trong trí nhớ và tôi luôn có cảm tưởng rất giống với Hoàng Báu của Hải quan Cửa Việt bởi nhân vật ấy cũng hay nói, hay cười và đáng yêu như anh... (Còn nữa)

                                                                                                                                        N.N.C

Chi cục Hải quan cảng Cửa Việt - Quảng Trị (Ảnh NNC)

(36) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

CHUYỆN RIÊNG CỦA CỤC TRƯỞNG - NNC

Nguyễn Ngọc Chiến

Chuyệnriêng

củacụctrưởng

TRUYỆN NGẮN

          (Đoạn cuối)
         
...Hai ngày nghỉ cuối tuần, ông Đoàn một mình trở lại vùng biên nơi từng để lại trong ông những kỷ niệm đẹp. Lâu lắm rồi ông mới có dịp thăm lại nơi này. Những ngày sau tết nguyên đán phong cảnh ở đây vẫn như còn nguyên vẹn hương sắc của mùa xuân. Tiết trời thật trong trẻo. Và nắng gió cũng thật dễ chịu. Nhưng đẹp hơn cả, xao xuyến lòng ông hơn cả vẫn là những rừng mai. Ngày ấy ông chưa được nhìn thấy mùa mai nở. Bây giờ trước mặt ông là cả một rừng mai nở muộn. Màu vàng của triệu triệu cánh hoa như một tấm lụa trải dài vắt mình bên những sườn đồi đẹp đến ngơ ngẩn. Người ta chỉ cho ông một ngôi nhà mới xây ngay giữa thị trấn, phía trước trồng rất nhiều hoa mai nói với ông đó là nhà của bà Mai Thùy.


         
          Chần chừ một lát rồi thì ông Đoàn cũng mạnh dạn bước vào ngôi nhà ấy. Ông gặp ngay bà Mai Thùy khi bà vừa từ trong nhà đi ra. Tim ông đập rộn lên như trống khải hoàn. Đã lâu lắm rồi ông mới gặp lại cảm giác trẻ trung ấy ở mình. Một phút sững sờ trôi qua, cả hai cứ đứng lặng nhìn nhau mà không nói được một lời. Có vẻ như ai cũng rất xúc động, bồi hồi khi gặp lại nhau. Nếu có thể họ đã lao vào ôm lấy nhau như những ngày cả hai còn ở trong rừng sâu. Nhưng  hình như cả hai đã cố nén, cố giữ cho nhau một khoảng cách, cho dẫu khoảng cách đó chỉ là tạm thời, ít nhất là trong lúc này.
         
Cuộc hội ngộ vừa bất ngờ vừa như được báo trước này diễn ra đúng cái nơi họ từng gặp nhau lần đầu. Đó là ngày cả hai hãy còn rất trẻ, phơi phới sức xuân. Ba mươi năm trôi qua, giờ thì tóc ai cũng đã lưa thưa sợi bạc. Gặp nhau họ như quên đi mọi chuyện vừa xãy ra. Họ tránh không đã động gì đến chuyện công tác,  làm ăn của nhau. Ký ức về một thời bên nhau cứ thế ùa về. Nó lấn át tất cả mọi mặc cảm, giận hơn, trách móc. Nhưng họ cũng không biết phải nói gì nhiều. Câu chuyện chốc chốc trở nên rời rạc, đứt quãng. Rồi như không biết phải nói gì, hai người lại đưa mắt nhìn nhau. Một chút ngập ngừng, e thẹn ở cả hai và hình như trên khoé mắt bà Mai Thùy có mấy giọt lệ lăn ra chỉ đủ để ươn ướt nơi vành mi. Ba mươi năm trôi qua nhưng đôi mắt bà không khác xưa là mấy. Đôi mắt ấy vẫn đen thăm thẳm, vẫn lay động lòng người. Ông Đoàn đã nhìn rất lâu vào đôi mắt ấy, đôi mắt một thời từng làm ông mê mẩn. Đôi mắt mà trong suốt hàng bao nhiêu năm qua không lúc nào ông nguôi ngoai nỗi nhớ. Và bây giờ khi lại được nhìn vào đôi mắt ấy thì trong ông tất cả quá khứ lại lần lượt hiện về. Những đám lửa, những quầng khói. Căn hầm và rừng mai bên triền núi. Người con gái giao liên và những lời hò hẹn...


         
          Trong lúc ông Đoàn đang mơ màng nhớ về một thời đã qua thì bà Thùy lại đột ngột nhớ tới một chuyện khác. Đó là cách đây mấy ngày, Mai Hương, con gái bà phát hiện trong trong tài khoản cá nhân của nó có ai đó vừa gửi vào hai trăm triệu đồng. Nghe con gái khoe, ban đầu bà hơi ngạc nhiên nhưng rồi bà cũng đoán ra ai là người đã gửi số tiền đó. Theo bà người đó không ai khác ngoài ông Đoàn. Nhưng bà không vội nói với con gái, cũng như bây giờ khi ông Đoàn đến nhà bà cũng chưa vội đả động gì đến chuyện đó.
         
Mãi lúc ông Đoàn đứng dậy ra về, bà Mai Thùy mới rơm rớm nước mắt nói với ông. Rằng bà đã làm phiền ông một việc khiến ông khó xử. Nhưng tại sao ông phải làm vậy? Tại sao ông lại phải mang tiền riêng của ông ra chuyển vào tài khoản của Mai Hương con gái bà? Những hai trăm triệu đồng! Đó là một số tiền lớn cả đời ông dành dụm mới có được. Rằng ông không thể tha cho con gái bà để khỏi mang tiếng dung túng cho kẻ buôn lậu, nên muốn dùng số tiền đó bù đắp cho con gái của bà ư? Hay là ông muốn đền ơn trả nghĩa bà vì trước đây bà đã từng chăm sóc, cứu sống ông? Giọng bà nửa thương cảm, nửa giận hờn, trách móc. Thì ra mọi việc ông làm bà Thùy đã biết cả.


         
          Đúng là tuần trước ông đã hỏi trạm hải quan cửa khẩu số tài khoản cá nhân của con gái bà đang được giữ ở đó để chuyển số tiền ấy. Bây giờ nghe bà Thùy nói vậy ông không biết phải trả lời bà thế nào. Có lẽ ông không cần phải thanh minh gì nữa. Bởi tất cả những gì bà Thùy vừa nói đã trả lời hộ ông. "Nhưng nếu chỉ vì vậy thôi thì em xin được hoàn trả lại cho anh số tiền đó. - Bất chợt bà Thùy nhìn thẳng vào mặt ông Đoàn và nói - Đồng tiền rất quý nhưng không phải ai cũng có thể nhận chỉ vì những lý do như thế. Một người như em thì lại càng không bao giờ cho phép mình được làm như thế". "Anh chỉ muốn giúp em. - Ông Đoàn ngậm ngùi nói. - Từng đó đã ăn thua gì, đã thấm tháp vào đâu so với những gì...". Bà Thùy cắt ngang: "Em đã nói rồi...nếu chỉ vì thế em sẽ trả lại anh". "Tại sao?". "Anh không biết gì ư? - Tiếng bà Thùy trở nên hổn hển. - Anh ngây thơ, khờ khạo đến thế ư? Anh vô tâm đến thế ư? Anh không biết gì cả sao, anh không nhớ chút gì sao? Trời ơi, em biết nói gì đây để anh hiểu. Bao nhiêu năm trôi qua, em đã phải một mình cực nhọc, vất vả nuôi con, một mình chịu đủ lời ong tiếng ve, khổ sở trăm đường...Anh khờ khạo đến thế sao?...".


         
          Những câu sau cùng phải cố gắng lắm bà Thùy mới thốt ra được. Tiếng bà nghẹn lại như không thể nói thêm được nữa. Nước mắt bà chảy tràn trên má. Rồi bà loạng choạng suýt nữa ngã vật xuống đất. Ông Đoàn bước đến choàng tay ôm lấy bà. Cả người bà như lọt thỏm trong vòng tay ông. Một lát, chỉ một lát thôi nhưng họ cùng có cảm giác gần gũi, thân thiết nhau lạ lùng. Vừa dìu bà ngồi xuống ghế, ông vừa hỏi, giọng lạc đi: "Em vừa nói gì? Em...em nói lại cho anh nghe đi!". Bà Thùy nhìn ông nói trong nước mắt nghẹn ngào: "Nó đấy! Nó là  Mai Hương,  là cái con đi buôn lậu bị bắt, là cái con mà anh đã bỏ tiền túi ra cho nó. Nó...nó là con gái của anh đó!". "Con của tôi ư? - Ông Đoàn kêu lên, cảm thấy chới với như nghe tiếng sét bên tai. - Trời ơi, vậy mà bao nhiêu năm nay anh sờ sờ ra đó mà em không hề cho anh hay biết. Nó đâu rồi? Mai Hương đâu rồi? Con của chúng ta đâu rồi? Em gọi nó về đây cho anh!". Rồi ông từ từ bình tâm lại nhìn ra bên ngoài. Ở đó, ngay trước mặt ông là những rừng mai. Những rừng mai bạt ngàn, mênh mông một màu vàng rực rỡ.

                                                                                                                                        N.N.C

(32) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

MUỘN - THƠ NGUYỄN THU HÀ

 

mun

thơNguyễnThuHà

Anh ...
Mình gặp nhau khi mùa sắp ngủ đông
không có nắng hồng, chẳng có mưa ngâu
chỉ có gió cong người khô khan thổi
tiếng gió khàn lang thang tựa cành khô mệt mỏi.



Anh...

Em gặp anh khi hoàng hôn đang giận dỗi
trút hờn ghen vào  đám mây bạc mệnh
em cố vạt hạt nắng cuối mùa sót lại
vá cho lành mảnh trời thương rạn nứt.



Anh....
Em gặp anh khi cánh đồng  hết vụ
ngổn ngang cỏ dại cùng những gốc rạ trơ
em tập làm thôn nữ dọn lại cánh đồng hoang
gom từng hạt lúa mầm  ngủ nhờ  trong
                                              
kẽ đất cằn khô
cấy đám mạ non cho mùa gặt mới.



Anh....

Mình gặp nhau khi đầu hai thứ tóc
em giật mình một sáng mùa đông không có
                                               
bình minh chiếu rọi
sợ ban mai ngại đường xa không đến
quên cuối chân trời, tình nhân đang ngóng đợi.

N.TH.H




 

(38) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ TRẠI SÁNG TÁC HẢI QUAN - N.N.C

MỘT VÀI HÌNH ẢNH

VỀ TRẠI SÁNG TÁC

VIẾT VỀ NGÀNH

HẢI QUAN QUẢNG TRỊ






Nguyễn Ngọc Chiến (bên trái) và Đức Tiên

 



N.N.C tại cửa khẩu La Lay


Ảnh chụp tại cửa khẩu La Lay

Tác giả thơ Cát Miên vừa tốt nghiệp

Trường Viết văn Nguyễn Du (cũ) trở về 

 

Phạm Minh Quốc, Hoài Nhạn, Nguyễn Ngọc Chiến, Lê Văn Thê (từ trái sang)

 

"Lão tướng" Xuân Đức

 

Ảnh 2 người

Nguyễn Ngọc Chiến (trái) và Phan Văn Quang

 

 

 Nguyễn Ngọc Chiến và Văn Tuyên (trái sang)

tại cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo

 

 

Một số hình ảnh đi thực tế tại cửa khẩu La Lay và Lao Bảo (Ảnh bên trên)

 

Ông Lê Văn Tới - Cục trưởng Cục H.Q Quảng Trị (ngoài cùng bên trái)

 

Trần Biên (trái) và Lê Văn Thê

 

 


Đinh Ngọc Du, Võ Văn Luyến, N.N.C, Trần Đình Thành (trái sang)


 

Trần Tích (trái) và Chánh văn phòng Cục H.Q Quảng Trị

 

Vui múa hát

 

Ông Cục trưởng tham gia văn nghệ trong buổi tổng kết

 

 

Thúy Sâm, Minh Hiền, Đức Tiên, Nguyễn Ngọc Chiến,

Phan Văn Quang và Phan Đăng Quy

 

Một số hình ảnh buổi tổng kết trại viết tại Đông Hà sáng 18.11.2008

(52) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

«Trước   1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18  Sau»