Sign up

CHỢ QUÊ - NNC

Nguyễn Ngọc Chiến


CHỢ QUÊ


Ghi chép

        

              Không hiểu vì sao mà tên chợ, đi từ Nam ra Bắc tôi thường thấy tên nó chỉ một chữ, ví như chợ Cầu, chợ Bầu, chợ Rồng, chợ Sàng, chợ Huyện, chợ Mai, chợ Hôm...Chắc người ta đặt tên chợ như vậy cho dễ nhớ, chứ thực ra nó chẳng gắn gì với địa danh ở những nơi đó cả. Trường hợp cái chợ có tên là chợ Do ở quê tôi cũng thế.
          Chợ Do lớn thứ nhì ở huyện Vĩnh Linh sau một cái chợ ở trung tâm huyện lỵ và là một trong những cái chợ thôn quê lớn nhất ở tỉnh Quảng Trị. Độ mười lăm, hai mươi năm trước, chợ Do chưa có tên trong lòng người Quảng Trị. Nó chỉ là một địa danh chìm lặng trong  chiến tranh tàn phá chưa kịp phục hồi, trong đói nghèo dĩ vãng. Lụp xụp, lèo tèo năm ba hang xén, hàng vải vóc, áo quần, còn lại là hang khoai sắn, rau quả...nhưng cũng không nhiều lắm. Chợ họp thì chóng vánh, vội vàng, chưa đi đã ngại, chưa đến đã tan, chậm chân một chút thì...ôi thôi cắp rổ về không. Thật quả là ngày ấy cuộc sống làng quê ở đây ra sao thì ngày ngày nó bày ra lồ lộ ở chợ thế ấy.


         
          Nay thì khác lắm rồi! Chợ đã được xây dựng lại khang trang, rộng rãi hẳn ra, người đông đúc hơn. Hàng hóa thì chả thiếu một thứ gì, nhưng có lẽ sôi động nhất vẫn là hàng nông sản, thủy sản...ngày ngày tấp nập đổ về, bày bán la liệt. Chả thế mà có hai câu ca dao truyền tụng:
         
Chợ Do chợ của nhà quê
         
Chợ sắn, chợ cá, chợ chè, chợ tiêu.
        
Cá thì chưa dám nói là nhiều nhất, chứ sắn, chè, hạt tiêu...nhất là  hạt tiêu thì đố ai tìm ra một cái chợ nào ở Quảng Trị nhiều hơn. Đây là một đặc điểm riêng biệt mà không một chợ nào ở cả cái rẻo đất miền Trung này có được. Hồ tiêu ở chợ Do bày bán la liệt khi vào vào vụ thu hoạch và quanh năm không lúc nào vắng hạt hồ tiêu ở chợ. Người sản xuất hồ tiêu quanh vùng, có thói quen là không bao giờ bán đổ bán tháo hạt hồ tiêu khi thu hoạch, mà cứ thủng thẳng, túc tắc khi vài yến, vài cân, thậm chí vài lon như kiểu...chọc thèm chơi! Và có một điều lạ lùng và cũng hết sức tế nhị gần như là "thiên vị", là "ưu tiên" cho loại đặc sản này. Ấy là nhà nông khi mang hồ tiêu ra chợ thì chưa ai phải mất công ngồi bán, dù chỉ là một giây, một phút nào. Là bởi vì ai cần bán bao nhiêu, ít hay nhiều, thì người mua đã chặn hỏi, vồ vập ngả giá ngay từ ngoài cổng cả rồi.


         
          Đến đây xin được "khoe" một chút hãnh diện của chợ Do nhờ hồ tiêu, ấy là khách thập phương, kể cả các ông tây bà đầm, mỗi khi về bãi tắm Cửa Tùng hay địa đạo Vĩnh Mốc, thường vẫn không quên ghé vô chợ Do, mua ít ký hồ tiêu làm quà cho gia đình, bè bạn...coi như là một chút đặc sản của miền đất đỏ Vĩnh Linh - Quảng Trị.
         
Chẳng biết cây chè xanh ở Vĩnh Linh ngày ngày bày bán ở chợ Do, có tất cả bao nhiêu loại, khi nấu uống thì thơm ngon, đậm nhạt thế nào, mà người nghiện chè khắp các vùng quê Quảng Trị lại "mách" cho các cô, các chị buôn chè là phải chọn cho được giống chè xanh Vĩnh Linh.
         
Tìm hiểu kỹ mới hay chè xanh ở Vĩnh Linh cũng có khá nhiều loại, chè Hà Giang, chè Phú Thọ, chè Thái Nguyên, chè, Nghệ An...Mấy giống chè này không hiểu do đâu mà lại "lạc" từ phía bắc vào tận đây rồi sinh tồn, phát triển cho tới ngày nay. Đặc điểm của các loại chè này là lá to, mỏng, ra ngọn non quanh năm, khi nấu uống chỉ một nước là hết chát, hết mùi vị, lại chóng thiu. Cây chè xanh Vĩnh Linh mới thực sự hợp khẩu vị người nghiện chè. Giống chè xanh Vĩnh Linh, tuy lá nhỏ, nhưng dày và khi nấu uống thường nước thứ hai, thứ ba vẫn còn chát còn thơm và lại có vị ngọt đậm đà chứ không đắng như mấy loại chè kia. Trên đường 70, đường Một...cứ sáng sang ra là y như rằng mấy cái xe đi Huế, đi Đông Hà...bao giờ cũng được chất ngồn ngộn trên nốc chè xanh từ chợ Do, từ Vĩnh Linh.


         
          Trước đây nhà nông quanh vùng muốn mua lưỡi cày, yến phân u rê, cái soong hay mảnh vải tốt...thường phải lặn lội vào tận Đông Hà hay gần chi cũng phải Hồ Xá mới sắm nổi. Nay thì thả sức mua sắm ngay tại chợ Do. Hàng nội, hàng ngoại, hàng to tiền, hàng nhỏ tiền, hàng trả ngay, hàng trả góp...có thể nói không thiếu một thứ gì. Thật quả là vui lòng người bán, vừa long người mua. Thì điều kiện kinh tế đã thay đổi, cuộc sống của nhà nông đã khá lên rồi! Mức tiêu dùng, từ cái ăn, cái mặc, đến tiện nghi sinh hoạt, phương tiện sản xuất...ngày càng đòi hỏi cao hơn.
          Chợ quê gắn bó với nhà nông như hình với bóng, ấy là tiêu thụ mặt hàng sản xuất ra và đáp ứng mặt hàng cần mua sắm lại. Nghĩa là quy luật cung - cầu không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày. Chợ quê giữa thời mở cửa giúp không ít nhà nông "hái" ra tiền để trở thành những "ông chủ", "bà chủ" ngấp nghé cuộc sống giàu sang, phú quý. Và chợ quê cũng góp phần "xóa đói giảm nghèo" cho nhà nông, ấy là ngày ngày hàng bao lượt hộ nghèo tận dụng chút thời gian rảnh rỗi mở ra buôn bán nhỏ tăng thu nhập.

          Mai này, ai về bãi tắm Cửa Tùng lộng gió, nhớ ghé qua chợ Do, ăn một đĩa bánh sắn bột lộc nhân tôm, cay xé lưỡi hạt hồ tiêu rồi uống một bát nước chè xanh từ tay chị chủ quán, chát...quẹo miệng, trước khi để Cửa Tùng dội sóng lên da thịt một ngày thư dãn với đất trời....                                                                                                                                                   N.N.C




(70) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

TRANG VĂN BÈ BẠN - THƠ LA TRUNG

65 NĂM QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
            
(22.12.1944 - 22.12.2009)



         
          Nhà thơ La Trung hiện là hội viên Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh Quảng Nam. Trước năm 1975 anh từng là chiến sỹ biệt động nội thành và tham gia phong trào văn hóa văn nghệ cơ sở phục vụ đồng bào, cán bộ chiến sỹ ta ngay tại mặt trận.  Anh yêu thơ và sáng tác thơ ngay từ những ngày ấy. Tôi đã đọc thơ anh với những bài thơ đầy cảm xúc, trăn trở, chiêm nghiệm về nhân tình thế thái, về đất nước, quê hương...Bên cạnh đó anh vẫn có những bài thơ rất tình cảm và xúc động khi viết về đồng đội, bạn bè...những người đã một thời cùng anh chiến đấu, hy sinh trong những năm tháng chiến tranh vô cùng gian khổ, ác liệt trước đây.
         
Nhân ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam năm nay, anh có gửi tôi hai bài thơ cùng mấy dòng tâm sự: "Hàng năm cứ đến ngày 22 tháng 12 là cảm xúc trong tôi lại dâng trào khi nhớ về những tháng năm ấy, nhớ về những đồng đội đã hy sinh, thương tật cùng những người còn sống đang lận đận với áo cơm hôm nay...". Quý mến một tấm lòng luôn đau đáu về đồng chí đồng đội thân yêu của mình, tôi xin giới thiệu hai bài thơ này của nhà thơ La Trung. Kính chúc anh mạnh khỏe, tiếp tục sáng tác để có thêm những tác phẩm thơ mới dâng tặng cho đời...
                                                                                                           NGUYỄN NGỌC CHIẾN




GIỌT NGHĨA TÌNH

thơLaTrung

Tặng hương hồn Liệt sỹ Trần Thị Chiến -
Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân
và Thương binh Lê Văn Nuôi!


Nạng gỗ gõ ngập ngừng
Dạo quanh bờ dĩ vãng
Môi cười thơm đời cạn
Vướng màu xưa khói bom.

Thương ai mũ tai bèo
Xuân đời xanh lên mắt
Chân đêm nhàu đất giặc
Bóng tựa vầng trăng treo.

Vào trận dưới trời sao
Mùa xuân trải bên cầu
Pháo gầm rung kẽ tóc
Đồn thù tan nát bay!



Em đi vào giấc ngủ
Sợi buồn thật lá lay
Chân ngày xuân nở vội
Để lại đời hương say!

Quê mẹ trắng sương chiều
Sầu đông buồn nhỏ giọt
Đường làng im hiu hắt
Tưởng niệm người con yêu.

Chân đời sương thấm lạnh
Chạnh nhớ thời đao binh
Ngẩn ngơ nhìn khoảng vắng
Long lanh giọt nghĩa tình!

L.TR



VỖ GIẤC ANH HÙNG
thơLaTrung

Kính tặng các Anh hùng - Liệt sỹ
đã anh dũng hy sinh vì độc lập - tự do của Tổ quốc!

Thắp nén hương...
Tôi vái giữa rừng bia mộ
Nghe đại ngàn vọng lại nỗi riêng chung
Gió mơn man vỗ giấc anh hùng
Hương khói tỏa thơm bờ quá khứ.

Là người trong cuộc
Tôi say tình đồng chí
Đứng lặng bên hàng bia liệt sĩ
Lòng thẩn thờ thấy chữ vô danh!

Ngần ấy năm anh nằm lại ven rừng
Đời trăn trở
Người cùng thời đôi khi ngủ mớ
Giật mình
Nhớ buổi vong thân...



Vầng trăng xưa vẫn lấp lánh thượng nguồn
Đi
Về
Lặng lẽ
Mở lòng che cả bóng đêm!

Nắng chiều rơi
Vỡ tràn lên mộ sứ
Từng ánh sao lung linh huyền ảo
Bia đá trần nhắn gởi điều chi?!

Tôi khấn thầm với quê hương
Và hồn thiêng sông núi
Còn đó những đồng đội
Lao đao...
Tạm trú giữa quê mình!

L.TR


(34) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI CÁC TƯỚNG LĨNH QUÂN ĐỘI - NNC

65 NĂM QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

              (22.12.1944 - 22.12.2009)





Chủ tịch Hồ Chí Minh

với các tướng lĩnh Quân đội




Chủ tịch Hồ Chí Minh - người cha thân yêu
của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam


NGUYỄN NGỌC CHIẾN

        

         Chủ tịch Hồ Chí Minh là người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân. Tư tưởng của Người là ngọn cờ để quân đội ta "bách chiến bách thắng" đưa Cách mạng Tháng Tám đến thành công, tiếp tục cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.
         
Với tấm lòng của một vị lãnh tụ vĩ đại, Bác Hồ đã dành cho quân đội ta nói chung, các tướng lĩnh trong quân đội ta nói riêng một tình cảm ưu ái và một sự quan tâm đặc biệt.


Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp -
Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia và Dân quân Tự vệ tại Chiến khu Việt Bắc


Đại tướng Võ Nguyên Giáp
         
          Theo cuốn "Hồ Chí Minh - Biên niên sử, tập 4" thì ngay từ những năm 1947 - 1948, khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang ở vào giai đoạn ác liệt và cam go, trên cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bác Hồ đã ký những sắc lệnh phong quân hàm cấp tướng đầu tiên cho quân đội ta.
         
Đó là sắc lệnh 110/SL phong quân hàm Đại tướng cho ông Võ Nguyên Giáp - Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia và Dân quân Tự vệ kể từ ngày 20 tháng 01 năm 1948. Trước đó Bác đã ký sắc lệnh 107/ SL bổ nhiệm Thiếu tướng Lê Thiết Hùng làm Tổng thanh tra Quân đội. Cả hai sắc lệnh trên đều được Bác Hồ ký ngày 20 tháng 01 năm 1948.


Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tại Hà Tĩnh

 

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh
          
         
Cũng trong ngày này Bác Hồ còn ký sắc lệnh số 111/ SL phong hàm tướng cho một loạt các tướng lĩnh khác. Theo đó thì kể từ ngày 01.01.1948 phong quân hàm Thiếu tướng cho các ông Hoàng Văn Thái - Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia Việt Nam; Nguyễn Sơn - Khu trưởng Khu 4; Hoàn Sâm - Khu trưởng Khu 2; Chu Văn Tấn - Khu trưởng Khu 1. Cũng trong ngày 01.01.1948 Bác còn ký sắc lệnh 112/SL phong quân hàm Thiếu tướng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1948 cho các ông Trần Tử Bình - Trưởng phòng Kiểm tra cán bộ; Văn Tiến Dũng - Cục Chính trị; Lê Hiến Mai - Chính ủy Chiến khu 2.
          Ngày 25 tháng 01 năm 1948 Bác tiếp tục ký sắc lệnh số 115/SL phong quân hàm Trung tướng cho ông Nguyễn Bình - Trưởng chiến Khu 7, kiêm ủy viên quân sự Nam Bộ. Sắc lệnh số 117/SL phong quân hàm Thiếu tướng cho ông Trần Đại Nghĩa - Cục trưởng cục Quân giới. Ngày 07 tháng 07 năm 1948 Bác ký sắc lệnh 203/SL phong quân hàm Thiếu tướng cho ông Lê Thiết Hùng để "hợp lý hóa" sắc lệnh 107/SL Bác đã ký trước đó.  Trước đó, vào ngày 23 tháng 9 năm 1947 Bác cũng đã ký sắc lệnh số 89/SL truy phong hàm tướng (không ghi rõ cấp bậc gì) cho ông Phùng Chí Kiên, một cán bộ quân đội đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.


Đại tướng Văn Tiến Dũng


Thượng tướng Song Hào         
         

          Đó là những sắc lệnh phong hàm cấp tướng đầu tiên của quân đội ta. Trong một buổi lễ phong hàm cấp tướng cho một số cán bộ quân đội, Bác Hồ đã nói: " Các cụ ta qua bao thế hệ chiến đấu cho độc lập mà không thành, nhắm mắt mà chưa thấy được dân tự do. Chúng ta may mắn hơn nhưng còn phải bao nhiêu hy sinh, cố gắng. Hôm nay việc phong hàm cho chú Giáp và các chú khác cũng là kết quả của bao nhiêu hy sinh, chiến đấu của đồng bào, đồng chí. Chúng ta phải cố gắng, phải quyết dành cho được độc lập tự do cho thỏa lòng những người đã mất...".


Đại tướng Hoàng Văn Thái


Đại tướng Lê Trọng Tấn
          
          
         
Khi sự kiện này được công bố, có một nhà báo phương tây hỏi Bác: " Vì sao một lúc phong nhiều tướng tá như vậy và việc phong cấp này tiến hành dựa theo những tiêu chuẩn nào?". Bác đã điềm tĩnh trả lời rất giản dị rằng: "Đánh thắng đại tá phong đại tá, đánh thắng thiếu tướng phong thiếu tướng, đánh thắng trung tướng phong trung tướng, đánh thắng đại tướng phong đại tướng!".
         
Tháng 8 năm đó tại Hội nghị Quân sự lần thứ 5, Bác đã phát biểu nói về tư cách một vị tướng. Theo Bác, những người tướng phải: "  TRÍ - DŨNG - NHÂN - CHÍNH - LIÊM - TRUNG. Phải thưởng phạt cho công minh. Chớ vì ưa ai mà thưởng, ghét ai mà phạt. Ai hạp với mình thì dùng, ai trực tính nói ngay thì bỏ...Có đồng cam công khổ với binh sỹ thì khi dẫn họ đi đâu, dù có nguy hiểm mấy, họ cũng vui lòng đi, khi đánh họ sẽ hăng hái đánh. Bộ đội ta tuy còn trẻ mà tiến bộ rất nhanh, nếu người tướng không chịu học hỏi thì nhất định bị lạc hậu. Đối với dân, bộ đội được dân yêu, dân tin, dân phục thì nhất định thắng lợi. Đối với địch thì tuyệt đối chớ khinh địch, khinh địch thì sẽ dẫn tới thất bại...".


Đại tướng Đoàn Khuê


Đại tướng Chu Huy Mân


         
Tướng Nguyễn Sơn là người được Bác Hồ đưa sang Trung Quốc và ông đã từng tham gia Vạn Lý Trường Chinh, được phong quân hàm cấp tướng của quân Giải phóng Nhân dân Trung quốc. Khi về nước, ông được Bác phong quân hàm Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam.
          Còn đối với Đại tướng  Lê Trọng Tấn thì kể: " Tháng 9 năm 1964, tôi được chuẩn bị đi cùng anh Nguyễn Chí Thanh vào Nam chiến đấu. Trước ngày chúng tôi lên đường, Bộ Chính trị có tổ chức một bữa cơm thân mật, có cả Bác đến dự. Sau khi nhìn xung quanh Bác hỏi: " Sao hôm nay chỉ có một cô thôi?". Đồng chí Nguyễn Chí Thanh đáp: "Thưa Bác nhà tôi bận ạ!". Ý Bác là trong bữa cơm thân mật hôm ấy, đáng lẽ theo chỉ thị của Bác phải có cả chị Cúc, vợ anh Nguyễn Chí Thanh và nhà tôi cùng đến dự...


Đại tướng Nguyễn Quyết


Thượng tướng Phùng Thế Tài
          
         
Trong một cuộc hội nghị cán bộ cao cấp toàn quân vào tháng 5 năm 1969, trước lúc đi xa Bác đã đến dự, phát biểu và chỉ thị cho quân đội ta: "Quân đội ta phải xây dựng lực lượng thật tốt, chất lượng thật cao. Bởi quân cần tinh chứ không cần nhiều. Trần Hưng Đạo xưa cũng đã từng nói như vậy...".
         
Đã hơn 40 năm Bác đi xa nhưng tất cả sự yêu thương, quan  tâm, dạy bảo của Bác đối với quân đội ta và các tướng lĩnh quân đội ta vẫn còn nguyên giá trị đến hôm nay.
                                                                                                                                          N.N.C

(34) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

THƠ TRẦN NGỌC THANH

65 NĂM QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

           (22.12.1944 - 22.12.2009)


       

          Anh Trần Ngọc Thanh là sỹ quan Quân đội nghỉ hưu, hiện sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh vừa gửi cho tôi hai bài thơ và tâm sự: "Cha tôi cũng là người lính. Ông nguyên là Chính ủy Sư đoàn 304. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ ông đã đi khắp các chiến trường. Hiện nay ông đã 82 tuổi, sức khỏe  không được tốt lắm! Nhân kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam, qua trang blog anh Nguyễn Ngọc Chiến, tôi xin gửi chút tình cảm của người con tặng cha, của người lính trẻ tặng người lính già. Có lẽ lần này là lần cuối cùng cha tôi có thể đọc được. Và nhân đây cũng xin có bài thơ gửi tặng tất cả những ai đã từng là người lính...". Tôi xin giới thiệu hai bài thơ này của anh Trần Ngọc Thanh. Chúc anh mạnh khỏe, thành đạt trong cuộc sống và công việc nơi Thành phố mang tên Bác. Qua anh, tôi xin gửi lời chào và lời chúc sức khỏe đến người cha kính yêu của anh - vị Chính ủy Sư đoàn một thời xông pha trận mạc...

                                                                                                                   Nguyễn Ngọc Chiến



MỪNG CHA TÁM MƯƠI TUỔI

thơTrầnNgọcThanh

 

Kính tặng cha

Không ai tắm trên dòng nước hai lần
Con mượn lời của người thiên cổ
Kính dâng cha những dòng thơ trong lành
Kính dâng cha những dòng thơ tươi xanh
Sao lòng con cứ tràn đầy nỗi nhớ
Nhớ con rào quê cha từng một thuở
Đi xa về gần rứa là đã mấy mươi năm
Con nằm nôi nghe mạ hát xa xăm
Giọng quê hương mặn mà chao chát
Con mường tượng thấy cha trong từng câu hát
Như "gió đưa bông cải về trời
rau răm ở lai chịu lời đắng cay...''



Lời ru lặn vào đời con cho nỗi nhớ thêm dày
Để con tằm quê mình thót lòng rút ruột
Cá tràu, cá diếc đi đâu về võng dưa chao nghiêng câu hát
Để tréc canh chua lá me thiếu vị mỗi ngày
Chiếc nôi ru thằng út đứt tao bên nọ bên này
Mạ thui thủi ngồi tay nâng tay nối
Mắt con nhìn bối rối
Mạ thút thít lầm bầm gửi gió gọi mình ơi
Tháng năm dài chờ đợi cứ dần trôi
Cái đinh cha đóng ở cột nhà móc mùng mục ruỗng
Rỉ rụng mấy lần tụi con gọi cha ơi!
Cha ở nơi đâu trời Quảng Trị xanh ngời
Mạ chỉ trăng khuya và bảo rằng:
Cha đang ngóng nhìn và nhớ mạ con mình lắm lắm
Con rào quê ngày xưa cha tắm
Nước mắt đong đầy lòng mạ cứ long lanh



Sư đoàn ba lẻ lư (304) cùng cha hành quân
Ngàn dặm máu xương dấu chân người lính
Mang theo quê hương sâu nặng nghĩa tình
Mang theo bên cha chúng con là những bóng hình
Hàng dương xanh rặng tre quê đầu bãi
Làng quê mình ngày cha trở lại
Lưng mạ con cũng hết thì con gái
Mái đầu đã điểm sương
Bờ mi hoen dấu chân chim dầu dãi
Chúng con trở thành những chàng trai
Đi bốn phương trời đạp đất Đồng Nai
Trải Phú Xuân ngọt ngào câu hát
Rồi ai cũng trở lại với tao nôi một thời
Câu ca cha dạy chúng con làm người:
"làm trai dọc ngang Đồng Nai - Xứ Huế"
Hôm nay giữa đất trời tráng lệ
Chúng con mừng cha
tám mươi xuân
Kính chúc cha khỏe mãi với thời gian.

T.NG.T




NHỚ VỀ ĐỒNG ĐỘI THÂN YÊU

thơTrầnNgọcThanh


Từ ngày ấy ra đi bao mùa trăng khuyết
Ra chiến trường bằng nhiệt huyết con tim
Đứa vào nam, đứa ở lại núi rừng
Đứa qua Lào, qua Campuchia...đứa tận cùng hải đảo
Dù ở nơi đâu chúng mình cùng sắc áo
Sắc áo màu xanh của cây cỏ yêu thương
Mái tóc xanh giờ điểm bạc pha sương
Ngần ấy thời gian trong chiến trường đạn lửa
Tuổi thanh xuân chập chờn trong giấc ngủ



Nơi mối tình đầu gửi lại quê hương
Bức thư xanh viết vội ở chiến trường
Tay cầm bút run run vì bao ngày cầm súng
Nét chữ reo vui vẽ lên niềm sung sướng
Nhận ra nhau trên từng cánh thư xanh
Ta ra đi khi đất nước chiến tranh
Ngày gặp lại nhau đứa còn đứa mất
Thắp nén nhang lòng tưởng nhớ người đã khuất
Ở mọi miền không có mặt hôm nay
Đã hóa thân vào bông lúa rừng cây
Cho cuộc sống ngày mai no ấm.
T.NG.T

(43) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

ÔNG LÃO VÀ CÁNH RỪNG BÊN ĐƯỜNG XUYÊN Á - NNC

NGUYỄN NGỌC CHIẾN
Ông lão và cánh rừng
bên đường xuyên Á
BÚT KÝ
         
         
* Chương trình Phát thanh Văn nghệ Đài TNVN.
         
* Tạp chí Cửa Việt.
         
...Không dừng lại ở hai trăm hécta rừng, ông Lưu còn dành hẳn vài chục hécta ưu tiên cho phát triển các loại cây có giá trị kinh tế cao hơn như cao su, cây ăn quả, cây lấy dầu... Ông đã chi phí ngót nghét cả tỷ đồng cho việc xây dựng trang trại. Cuốn sổ ông trao tôi ngồn ngộn những con số về chi tiêu các khoản.
         
Tôi xin chọn lọc chép nguyên văn ra đây vài số liệu để thấy được mức đầu tư của ông. "Ngày 12 tháng 4 năm 1997 chi 76 triệu đồng mua lưới B40 làm 1.900 mét hàng rào lớp trong, chi 24 triệu đồng mua kẽm gai làm 4.000 mét hàng rào vòng ngoài". "Ngày 17 tháng 6 năm 1999 chi 15 triệu đồng lắp đặt 1.800 mét ống dẫn nước từ đỉnh đồi xuống trang trại phục vụ tưới tiêu và lấy nước nuôi cá". "Ngày 11 tháng 03 năm 2000 chi trả tiền máy san lấp ba đợt 39 triệu đồng". "Ngày 15 tháng 3 năm 2006 xây dựng hoàn chỉnh hồ nuôi cá rộng 500 mét vuông hết 13 triệu đồng". "Ngày 28 tháng 9 năm 2006 mua cây cao su giống: 108 triệu đồng". "Ngày 4 tháng 7 năm 2006 trả lương tháng 6 cho nhân công hết 29 triệu đồng"...Còn hàng trăm khoản khác mà số tiền chi phí cũng lên đến hàng trăm triệu đồng. Có chi thì phải có thu, đó là lẽ đương nhiên trong làm ăn.


         
         
Tuy nhiên không phải ai cũng gặp may, không phái lúc nào, việc gì cũng thuận buồm xuôi gió. Thiếu gì người đã mất cả số tiền lớn lên đến hàng trăm triệu đồng, thậm chí hàng tỷ đồng do chi phí, đầu tư thiếu tính toán, cân nhắc hoặc là do các yếu tố chủ quan, khách quan khác. Trường hợp ông Lưu thì ngược lại, ông đã thành công. Ngoài hai trăm hécta rừng, trang trại của ông còn có gần tám hecta cao su, trong đó có năm hecta đã được đưa vào kinh doanh khai thác mủ, mỗi ngày thu tới vài triệu đồng. Có được diện tích cao su lớn như vậy quả là niềm mong ước của bao người. Vườn cây ăn quả của ông rộng ba hecta với trên sáu trăm gốc nhãn đã cho thu hoạch quả ba vụ liền. Ông cho biết, nhãn của ông là giống nhãn lồng Hưng Yên được ông đặt hàng và được chuyển thẳng vào đây từ Viện cây ăn quả ở Hà Nội. Tuy đất đai thổ nhưỡng, thời tiết không được màu mỡ, mưa thuận gió hoà như ở miền Bắc nhưng nhờ được chăm bẵm kỹ càng nên mười cây như chục đều phát triển tốt, chỉ mấy năm đã sum suê cành lá, đơm hoa kết quả. Cây nhãn Hưng Yên trên đất Quảng Trị chất lượng quả chắc chắn không được như xứ sở của nó nhưng vẫn ngọt, thơm, cùi dày được thị trường chấp nhận. Ra thăm vườn nhãn của ông, trong nắng hè đổ lửa, vậy mà tôi thấy trăm cây trổ quả cả trăm, cành nào cành ấy chi chít những chùm quả. Giá lúc này có trận mưa thì hẳn vụ nhãn năm nay ông Lưu sẽ bội thu.


         
         
Cây dầu sở, một loại cây hương liệu dùng để sản xuất dầu ăn lần đầu tiên được ông đưa về trồng ở Cam Lộ. Ban đầu chỉ vài ba hécta sau ông tăng lên chín hécta. Tất cả giờ đang ở độ tuổi năm đến bảy năm là độ tuổi phù hợp để khai thác chế biến dầu. Ông Lưu đã thử chế biến dầu ăn từ cây dầu sở bằng phương pháp thủ công. Kết quả thành công ngoài dự kiến. Sản phẩm dầu thực vật do ông sản xuất ra chất lượng không thua kém các loại dầu sở đóng chai đang được bán trên thị trường. Và tất nhiên giá của chúng cũng cao hơn hẳn các loại dầu ăn được chế biến từ lạc hoặc vừng. Tuy nhiên, đây mới chỉ là kết quả ban đầu, bởi tất cả vẫn đang trong quá trình mày mò thử nghiệm. Ước mơ của ông trong tương lai là có hẳn một máy ép dầu. Chắc chắn lúc ấy ông phải tính đến chuyện đăng ký chất lượng, mẩu mã hàng hoá. Trang trại của ông còn có ao cá, chăn nuôi lợn gà và nhiều loại cây trồng khác như hồ tiêu, chanh tứ mùa, măng tre Bát Độ, vải thiều Lục Ngạn...Ông đã tạo việc làm cho bà con nghèo trong vùng. Bình quân mỗi ngày có từ sáu đến mười người đến làm việc cho ông. Khi vào vụ có ngày lên tới vài chục người. Ông trả công cho người làm không tính theo tháng mà tính theo ngày. Cứ mỗi công ông trả năm mươi ngàn đồng. Có tháng ông phải chi trả tiền công lên tới ba mươi triệu đồng.


         
         
Trong số những người làm công cho ông, có người quê ở mãi tận Quảng Bình, Hà Tĩnh...Những người này hoặc là bộ đội, công nhân công tác ở Quảng Trị sau khi xuất ngũ, nghỉ việc; hoặc là từ quê hương ra đi làm ăn, nhọc nhằn xuôi ngược mưu sinh, nay chỗ này, mai chỗ kia rồi phiêu bạt đến đây. Trong số họ có người hoàn cảnh thật thương tâm. Ông Lưu đã đón họ về trang trại của mình, bố trí việc làm cho họ, lo cho họ từ bữa ăn đến manh quần tấm áo. Từ đấy họ trở thành người làm công cho ông. Có người "ăn dầm nằm dề", lăn lộn với ông năm này qua năm khác, nhưng cũng có người mỗi năm chỉ thoáng qua vài lần khi mùa màng, thời vụ tới. Ai đến với ông cũng nhiệt tình, say sưa với công việc, bởi họ thương ông, quý ông, mang ơn ông thuở hàn vi, khốn khó đã tận tình giúp đỡ họ. Có người làm việc cho ông, chắt chiu được vốn liếng tách ra lập gia đình tự túc làm ăn. Ông thường nói với mấy chàng trai trẻ chưa vợ là nếu ai không muốn về quê, thích ở lại vùng núi đồi này xây dụng gia đình, sinh sống lâu dài, ông sẽ đứng ra lo cưới vợ cho. Cưới rồi ông cho một khoảnh đất dựng nhà, có việc gì ngon hơn thì làm, còn không cả vợ lẫn chồng cứ làm việc cho ông, ông trả lương hàng tháng cho.
         
Khi tôi hỏi ông về các khoản thu nhập, ông chỉ cười trả lời khiêm tốn rằng: Năm 2006, trừ các khoản chi phí ông chỉ thu được chín mươi triệu đồng; năm 2007 cao hơn một chút: một trăm hai mươi lăm triệu đồng. Nhưng trong năm 2008 này ông dự trù thu ba trăm triệu đồng. Bởi, theo tính toán của ông, chỉ riêng năm hecta cao su đang khai thác mủ, ông đã có chắc chắn một trăm hai chục triệu đồng, và vườn nhãn nếu đạt mười lăm tấn quả, ông cũng thu được khoảng ngần ấy tiền nữa. Còn hai trăm hecta rừng, nếu một, hai năm nữa tỉnh cho khai thác và nếu áp dụng phương thức ăn chia: chủ rừng bảy mươi phần trăm, Nhà nước ba mươi phần trăm thì hẳn ông sẽ có trong tay cả tỷ đồng.


         
         
Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Công Tạn trong chuyến thăm Quảng Trị trước đây, khi đến Cam Lộ đã ghé thăm trang trại ông. Lúc ấy ông đang trồng cây dầu sở. Phó Thủ tướng đã động viên ông trồng thật nhiều loại cây này, vì theo Phó Thủ tướng, dầu sở là loại cây có lợi nhiều mặt, vừa là rừng chắn gió, lại vừa làm được dầu ăn. Và chỉ mới năm kia, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát cũng đã đến đây. Bộ trưởng nhìn khắp lượt trang trại, bắt tay chúc mừng ông và khen: "Bác tuổi cao nhưng chí bác còn cao hơn". Còn ông, ông chẳng nghĩ gì khác ngoài những lo toan, bộn bề của công việc. Có chăng chỉ là đôi lúc cuộc đời tủi nhục xưa kia chợt hiện về. Anh em ly tán. Những ngày đi ở, đi xin ăn. Những ngày bị bắt lính...Càng ngẫm lại sự đời ông càng say sưa làm việc. Có lẽ đối với ông, dù nay đã tuổi cao sức yếu, công việc vẫn trên hết, công việc là tất cả.

                                                                                                                                            NNC

 
Từ sau bài viết này, do một số việc riêng, nên chắc tôi sẽ ít có thời gian giao lưu.
Mong tất cả các anh, các chị và các bạn thông cảm!
Chào thân mến
!
Nguyễn Ngọc Chiến

(30) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

GỬI VỀ ANH - THƠ NGUYỄN THU HÀ

 

GỬI VỀ ANH

thơNguyễnThuHà



 

Gửi về anh dịu ngọt giấc mơ em

mượn trăng, chở  tấc gang dày nỗi nhớ

mượn lời thơ, gói trăn trở buộc vào thành mây lờ lững

chậm chạp trôi ngược phương trời em ngóng.




Gửi về anh cơn mưa chiều bong bóng


mưa buồn nhỏ lệ tiễn chân ai?


mưa khắc khoải rơi hoài rơi mãi


mưa thương em, mưa nhớ anh!


Gửi về anh con đường mòn chưa đi hết


vết trượt dài tới cửa ngõ hoàng hôn


                                              tím sẫm ngày...


góc khuyết cuối đường bện dấu chân di


                                                    đi đâu về đâu?




Dẫu bờ chẳng rộng bến không xa


bàn chân nhỏ bước hoài sao chẳng đến


bàn tay gầy vẫy mãi chẳng hồi âm


thời gian ơi! Thầm lặng đến bao giờ?


Gửi về anh tháng ngày năm ấy


nụ hôn còn nợ mãi chưa trao


vẫn vẹn nguyên dưới vành môi khô đắng


giấu nghẹn ngào mình em nơi xa vắng.

N.T.H

(54) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

ÔNG LÃO VÀ CÁNH RỪNG BÊN ĐƯỜNG XUYÊN Á - NNC

NGUYỄN NGỌC CHIẾN

Ông lão và cánh rừng

bên đường xuyên Á

BÚT KÝ

          *Chương trình Phát thanh VĂN NGHỆ Đài TNVN.
          *Tạp chí CỬA VIỆT.
           Bây giờ đã là tháng bảy ta, tháng nắng nóng nhất trong năm ở Quảng Trị. Có lẽ không một nơi nào trên dải đất miền Trung này nắng nóng lại hoành hành dữ dội như ở đây. Suốt ngày, từ sáng sớm đến chiều tối, bầu trời lúc nào cũng cao xanh vòi vọi, chói chang ánh mặt trời. Và gió Lào thì ràn rạt, ràn rạt như những trận cuồng phong. Nắng nóng vắt cạn những con suối, con khe, lấy đi những giọt nước hiếm hoi cuối cùng. Nắng nóng thiêu cháy những cây non mới trồng, gây nguy cơ hoả hoạn cho lớp lớp những cánh rừng đang lên. Con Đường Chín anh hùng xưa, nay là đường xuyên Á rộng rãi, phẳng lì, trườn mình qua những quả đồi bỗng như trở nên xa ngái, vắng vẻ hơn.
         
Tôi đang ở Cam Lộ, một huyện chủ yếu là vùng trung du đồi núi của tỉnh Quảng Trị. Trong cái nắng nóng khủng khiếp nơi miền sơn cước này tôi chợt nhận ra ở đây đang có một thứ có thể làm giảm đi phần nào không khí oi bức, ngột ngạt. Đó là trùng trùng, điệp điệp màu xanh của cây. Cây ở Cam Lộ vừa là rừng tự nhiên, vừa là rừng trồng, trong đó rừng trồng chiếm một tỷ lệ đáng kể. Chỉ riêng ở đây, dọc hai bên đường xuyên Á, trải dài hàng chục cây số, từ thị trấn Cam Lộ lên đến giáp huyện miền núi Đakrông, nơi nào cũng bạt ngàn màu xanh. Màu xanh của cây lâm nghiệp,  của cao su, hồ tiêu và cây ăn quả... như hoà quyện dệt nên tấm thảm nhung khổng lồ trang điểm cho đất đai, núi đồi Tổ quốc.


         
          Tại cây số hai mươi trên tuyến đường lịch sử này, tôi ghé thăm một trang trại vườn rừng. Lúc còn dưới thị trấn huyện lỵ, trong câu chuyện tâm tình, nhà báo Ngọc Sĩ, Trưởng đài truyền thanh huyện có nói với tôi đây là một trong những trang trại vườn rừng lớn nhất ở Cam Lộ với diện tích lên đến hàng trăm hécta. Điều đặc biệt thú vị và gây không ít ngạc nhiên với tôi đó là chủ nhân của trang trại không phải ai khác mà là một ông lão năm nay đã ngoài bảy mươi tuổi. Ông là Đào Văn Lưu. Khác với tưởng tượng ban đầu của tôi về một ông chủ rừng già nua, khắc khổ...ông Lưu có vóc người dong dỏng cao, dáng thanh cảnh, nhưng nhanh nhẹn, tháo vát. Nghĩa là ông hãy còn trẻ, khoẻ hơn nhiều so với tuổi tác. Hình như càng lao động vất vả ông lại càng khoẻ mạnh, dẻo dai ra. Gặp tôi, biết ý định của tôi, ông vồn vả tay bắt mặt mừng, kể đủ chuyện. Và chuyện ông kể với tôi nhiều nhất là chuyện trồng rừng, làm trang trại. Khuôn mặt ông lúc nào cũng nở sẵn nụ cười, dù lúc đó ông đang tâm sự về những thăng trầm của cuộc đời ông hay đang nói về những khó khăn tưởng như không thể vượt qua của buổi đầu lên đây lập nghiệp.


          
          Thuở trẻ, ông Lưu có những tháng ngày đầy bất hạnh. Nhưng như ông nói, chính cuộc đời "ba chìm bảy nổi" đầy bất hạnh của ông ngày ấy đã là một phần nguyên nhân thúc giục ông làm nên "sự nghiệp" sau này. Ông kể rằng, tuổi thơ ông là một chuỗi ngày dằng dặc đau khổ. Ông chưa từng biết cha mẹ ông là ai. Anh em ông lớn lên chưa kịp đủ lông, đủ cánh đã sớm phải cù bất cù bơ phiêu bạt mỗi người một phương. Bản thân ông, ngay từ tuổi mười một, mười hai đã phải đi làm thuê ở đợ. Rồi lại phải rong ruổi khắp các làng quê ngửa tay xin của bố thí sống qua ngày. Ăn đói, mặc rách, không học hành, sống lang thang bờ bụi...cứ thế choán hết tuổi thơ ông. Lớn lên, dưới chế độ Mỹ - nguỵ , ông bị bắt đi lính. Ông đào ngũ, rồi lại bị bắt. Chỉ đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, cuộc đời ông mới thực sự được tự do. Ông trở về quê hương, gặp lại người thân. Và không hạnh phúc nào hơn, sau mấy chục năm phiêu bạt, không tin tức, ông gặp lại người anh ruột của mình lúc này đã là một sĩ quan quân Giải phóng. Hai anh em, hai chiến tuyến, gặp lại nhau giữa rừng cờ hoa trong ngày mừng đất nước độc lập, họ chỉ biết ôm chầm lấy nhau mừng mừng, tủi tủi. Cũng từ đây ông mới có một mái nhà riêng, một gia đình riêng, cuộc sống đã bắt đầu mỉm cười với ông. Ngày ngày ông tích cực cùng bà con thi đua sản xuất, góp sức hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng lại quê hương. Thế rồi đất nước bước vào thời kỳ làm ăn mới, cơ hội như cánh cửa mở ra cho tất cả mọi người. Chủ trương hợp ý Đảng lòng dân ấy đã thúc giục ông lao vào làm ăn. Ông muốn mình phải vươn lên làm giàu và phải giàu thực sự từ chính đôi bàn tay mình để rửa nỗi nhục xưa...Nhưng phải làm gì và bắt đầu từ đâu? Chiều chiều ông đứng nhìn về phía mấy quả đồi hoang mà lòng nhen lên biết bao niềm hy vọng. Cam Lộ quê ông ruộng ít nhưng đồi núi thì mênh mông, bạt ngàn. Thế là ông nghĩ đến việc xây dựng trang trại từ chính trên những quả đồi ấy và bắt đầu sự nghiệp từ đây.


         
          Ngôi nhà sàn của ông bốn bề lồng lộng gió và ngoài kia là mênh mông nắng, ngút ngàn màu xanh. Ngồi ở đây tôi có thể nhìn khắp lượt trang trại của ông. Bên kia đường xuyên Á là rừng, bên này thượng nguồn sông Hiếu cũng là rừng. Những cánh rừng mỡ màng, xanh biếc làm mát dịu cả đất trời. Ông Lưu nói với tôi đó là hai trăm hécta rừng ông trồng từ dự án 327 gần mười lăm năm trước. Tất cả giờ đã toả bóng sum suê, phủ kín núi đồi. Nhớ lại ngày ấy, khi cầm trong tay bản dự án do tỉnh phê duyệt, mà đâu phải ít ỏi gì, những hai trăm hécta; rồi nhìn những quả đồi trơ trọi trong nắng; nhớ cái lúc dựng trại, bổ những nhát cuốc đầu tiên, ươm những mầm cây đầu tiên; sau đó là những ngày dài dằng dặc vất vả, lo âu chăm từng cây, tỉa từng cành sao cho cây sống đều, phát triển lớn lên...ông Lưu không khỏi giật mình. Hồi ấy bên cạnh người hiểu ông, ủng hộ kế hoạch táo bạo của ông, nhưng cũng có không ít người cho ông là liều, già cả rồi mà không biết lượng sức, cả gan vuốt râu hùm. Ngay cả vợ con ông cũng thở ngắn than dài không tin lắm vào việc ông làm. Cái dự án hai trăm hécta đất mà người ta cho là miếng mồi béo bở cũng khiến không ít người ghen ăn tức ở nói ra nói vào, thậm chí ganh tị, hằn học với ông. Nhưng mọi chuyện rồi cũng qua, mọi khó khăn rồi cũng phải quy phục trước quyết tâm và ý chí của ông. Hai trăm hécta đất đồi hoang hoá cứ mỗi ngày một tươi xanh mơn mởn như vết thương liền sẹo trên da thịt. Chỉ đến lúc ấy ông mới thở phào nhẹ nhõm như trút đi được gánh nặng.


         
          Cam Lộ quê ông là một huyện nghèo, trong chiến tranh lại là chiến trường ác liệt. Sau giải phóng và có lẽ kéo dài cho đến những năm tám mươi, chín mươi vẫn còn nghèo. Cái nghèo, cái đói vẫn thường xuyên ngự trị, rình rập trong biết bao gia đình. Còn ở đây, chỉ mươi, mười lăm năm trước thôi, cả vùng đất này hãy còn là đồi hoang cỏ cháy, chi chít hố đạm bom. Nhìn bốn phía chẳng thấy đâu là màu xanh, chỉ bàng bạc, khô khốc một màu đất và ngằn ngặt gió Lào quạt lửa. Vẫn còn đó trơ trơ hàng rào kẽm gai, đồn bốt, hầm hào, công sự của địch. Vẫn còn đó trong ký ức những trận đánh quyết liệt giữa ta và bọn Mỹ - nguỵ. Máu đào của biết bao đồng bào đồng chí đã đổ xuống thấm đỏ mảnh đất này. Nhiều địa danh mãi mãi gắn liền với chiến công của quân dân Cam Lộ, trở thành biểu tượng anh hùng, đi vào cổ tích, huyền thoại như  Đường Chín, cao điểm 241, cầu Đầu Mầu, đồi Phu Lơ...Những địa danh ấy giờ đã không còn cô quạnh nữa. Cây xanh đã mọc lên, làng xóm đang hình thành. Rồi những trang trại vườn rừng, vườn đồi lần lượt ra đời. Hơi ấm của người dân Cam Lộ đã sưởi ấm đến tận từng tấc đất quê hương... (Còn nữa)

N.N.C

(24) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

TRANG VĂN BÈ BẠN - THƠ PHẠM HẢI YẾN

PHẠM HẢI YẾN


Phạm Hải Yến trong trang phục áo dài

          Phạm Hải Yến là một cán bộ văn hóa đang công tác ở tỉnh Đồng Nai. Rất yêu thơ nên say sưa với việc làm thơ. Vui làm thơ. Buồn làm thơ. Đi công tác ra Hà Nội cũng có thơ về Thủ đô. Ra đường gặp một bông hoa đẹp cũng làm thơ. Và cho đến nay Yến đã làm được hàng trăm bài thơ. Yến thường nói rằng, em là người yêu thơ nên luôn tìm cảm xúc để...học làm thơ. Học các chị các anh để làm thơ. Và đã có lần Yến làm bài thơ "Em tập làm thơ", trong đó có những câu như thế này:
          Em đây cao hứng tập làm thơ
          Ngơ ngẫn ngẫn ngơ chẳng biết gì
          Đôi dòng tâm sự tuôn ra hết
          Chẳng biết dở hay có ai cười.
          Ngày lại ngày qua em tập miết
          Viết hoài viết mãi cũng thành thơ
          Thế rồi thơ thẩn đâm ra thích
          Thích đọc thích viết thích ngâm thơ...
          Lời thơ tâm sự nhỏ nhẹ, khiêm nhường ấy cũng như thơ Yến vậy, mộc mạc, dung dị, thỏ thẻ, tâm tình...Đọc những bài thơ của Yến, tôi thấy âm thanh phát ra từ những câu thơ, bài thơ của Yến có cái gì đó như tiếng hót trong trẻo, non nớt và rất dễ thương của chú chim đang độ ra ràng vào một buổi sớm mai khi bình minh vừa hé rạng, và như chỉ đợi đủ lông đủ cánh là chú chim ấy sẽ vỗ cánh bay vút lên không trung để cất tiếng hót bay bổng và vang xa hơn.
         
Tôi rất vui khi được giới thiệu chùm thơ này của Phạm Hải Yến. Chúc Yến vui khỏe, công tác tốt và làm nhiều thơ hay hơn nữa. Và trong thâm tâm tôi vẫn hằng tin thơ Yến sẽ hay hơn nữa!
                                                                                                                   Nguyễn Ngọc Chiến



ĐỪNG NHÉ

thơPhạmHảiYến


Anh có biết em vẫn thầm ao ước
Gom nắng vàng rải khắp lối anh qua
Nhặt chiếc lá thả dòng nước cuốn xa
Thả nỗi buồn
trôi vào trong quá khứ.

Dẫu bao lần trong em luôn do dự
Nhớ thương rồi
Nỡ đành lòng quên sao
Và trong em đã có lúc ước ao
Mang trăng sáng về trong thơ anh đó.

Những đêm tối trăng nào đâu có tỏ
Lại vô tình
Thơ bạc phếch
buồn vương.

Cũng bởi thương
Nên mãi muốn chung đường
Luôn đau đáu một niềm tin...chờ đợi
Mong thu về...đừng nhé...vội vàng đông.

PH.H.Y




THẢ

thơPhạmHảiYến


Thả trôi một chiếc lá vàng
Làm thuyền trên sóng nhẹ nhàng lướt đi
Thả môi lướt nhẹ bờ mi
Nàng thu e ấp mím chi thẹn thùng.

Thả hồn về chốn mông lung
Tìm bao kỷ niệm vui cùng nàng thơ
Thả thêm một chút tình thơ
Cho ai lòng dạ ngẩn ngơ theo về.

Thả bay theo gió câu thề
Tìm về bến đỗ bờ đê quê mình
Thả cho những ngón tay xinh
Mềm mại khéo gấp thuyền tình chở trăng.

Thả thơ say với đêm rằm
Thả ngàn mây trắng dệt trăm mộng chờ
Thả mênh mông thả vô bờ
Thả vàng hoa cúc bâng quơ thả lòng.

PH.H.Y

         


          Và sau đây là bài thơ Yến làm để tặng tôi. Hôm ấy tôi bị đau răng không sao chịu nổi. Nghe tin, Yến đã làm bài thơ này và bảo tôi đọc. Kỳ lạ thay, đọc xong bài thơ của Yến, tôi thấy hết...đau! Chả trách hồi xưa người ta bảo thơ cũng là vũ khí đánh giặc. Bây giờ tôi không sợ đau răng nữa, vì nếu có đau lại, tôi sẽ bảo Yến làm tặng cho bài thơ khác chắc cũng sẽ...khỏi!

THƠ TẶNG ANH

thơPhạmHảiYến

(Tặng anh NNC)
Thơ tặng anh em gõ rong đêm vắng
Bằng tấm lòng em gái nhỏ phương xa
Gởi đến anh đôi chút gọi là quà
Mong anh nhận cho vui lòng em nhé!

Nghĩ tới anh hồn thơ ngân khe khẽ
Phút đợi chờ anh có thấy nôn nao
Những câu thơ em chẳng biết nói sao
Cho anh hiểu những điều em muốn nói.

Em mong anh cơn đau mong chóng khỏi
Để yên lòng ngon giấc nhé đêm nay
Nghĩ về anh em lại thấy vui thay
Bởi cơ duyên em gặp anh trên nét.

Những sẻ chia qua commen rất thật
Nên đồng hành trên blog luôn có anh
Vần thơ tặng em viết rất chân thành
Rằng mến anh em yêu từng trang viết.

Mỗi khi sang em đọc truyện mải miết
Đọc xong rồi mới thấy thời gian trôi
Giờ khuya rồi em dừng lại đây thôi
Gởi mấy lời mong anh luôn vui khỏe!

PH.H.Y





Và đây là Phạm Hải Yến tại cơ quan làm việc

(74) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

«Trước   1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18  Sau»