CHIẾC NHẪN BẠC - NNC
ChiếcNhẫnBạc
TRUYỆN NGẮN
*Tạp chí Xứ Thanh số tháng 12.2008;
*Tạp chí Văn nghệ Bình Dương số 5 tháng 5.2009.
Loanh quanh một lúc rồi thì Tư cũng nhận ra con hẽm nhỏ quen thuộc. Chỉ không đầy năm năm mà đổi thay nhiều quá! Hồi ấy, cái xóm nhỏ ven thị trấn này chỉ lèo tèo mấy túp nhà lá, họa hoằn lắm mới có được ngôi nhà gỗ lợp ngói hoặc lợp tôn. Vậy mà giờ đây, nhà cửa, quán sá... đã mọc lên như nấm. Thời tiết đang cuối đông, mưa phùn với gió bấc phả vào hai bên thái dương Tư lạnh buốt. Anh bước vội vàng. Con hẽm nhỏ lầy lội với không khí lạnh lẽo, ảm đạm càng gợi lên trong lòng Tư nỗi buồn của chuyến trước anh đến đây. Lần ấy, chú Bảy đã lạnh nhạt với anh. Một sự lạnh nhạt nửa trách móc, nửa giận hờn mà Tư chưa kịp hiểu duyên cớ vì đâu. Sau đó, anh chỉ buồn chứ không hề giận chú. Nỗi buồn ấy cứ day dứt tâm can anh đằng đẵng mấy năm qua. Còn bây giờ, sau gần năm năm, Tư lại đi trên con hẽm này để trở về với chú. Trong lòng không còn anh mang nỗi u uất ấy nữa, mà tràn ngập niềm xúc động khó tả. Chỉ một lát nữa thôi, anh sẽ gặp lại chú. Chao ôi! Cứ nghĩ đến phút giây ấy là Tư xao xuyến cả lòng. Anh ước sao từ trong nhà, chú Bảy sẽ nhìn thấy anh mà chạy ra đón. Anh cũng sẽ nhào đến ôm lấy chú, gục đầu vào vai chú để khóc với chú những giọt nước mắt mừng vui và cả nỗi tủi hờn.

...Ngày mới nhập ngũ, đơn vị Tư đóng quân ở đây. Ngày ấy, anh ít có thời gian để đi đây đó, càng không có điều kiện để về thăm nhà. Hàng ngày, sau giờ công tác anh chỉ nằm ở nhà đọc sách, cùng lắm thì đến chơi nhà chú Bảy, một ngôi nhà lợp tôn nằm tít tận cuối con hẽm. Chú Bảy làm nghề thủ công tại nhà. Vợ chú bán quần áo cũ ở chợ. Tư không ngờ chỉ với cái đe, cái kéo, cái búa... và vài dụng cụ đơn giản khác mà những mảnh tôn méo mó, dị dạng từ phế liệu chiến tranh được đôi bàn tay chú tạo thành những vật dụng có ích. Chú làm nghề này từ trước ngày giải phóng, lúc mới lập gia đình. Vợ chú chỉ sống với chú được bốn năm, sinh cho chú một mụn con gái rồi chết vì bom Mỹ. Chú ở vậy nuôi con cho mãi đến sau ngày giải phóng mới làm bạn lại với thím Bảy là vợ chú bây giờ. Hai người ăn ở với nhau đã hơn ba năm mà chưa có con. Từ ngày chú có vợ, Hằng - cô con gái riêng của chú bỏ nhà đi biệt tăm. Căn nhà này là do chú và người vợ trước tạo dựng nên. Thím Bảy lúc về ở với chú chỉ có độc một gánh hàng là quần áo cũ, nêu bán hết, cả vốn lẫn lời được chừng hai chỉ. Tiền thím bán được thím để riêng. Tiền chú làm được thím quản lý hết. Buổi trưa thím ăn tại chợ. Buổi tối thím mua con cá, mớ rau về nhà cùng ăn với chú. Cứ vậy, vợ làm vợ ăn, chồng làm chồng ăn. Tình cảm vợ chồng không có chuyện gì to tát nhưng như thể nhạt dần, xa nhau dần. Không nói ra nhưng chú Bảy rất buồn cho tình cảnh của mình. Từ ngày quen Tư ở cái lần đi nhặt phế liệu bị mấy thằng du côn ức hiếp, rồi may mắn được Tư bảo vệ, chú Bảy vui hẳn lên. Chú không gọi Tư là cháu như những người lính khác mà gọi anh bằng con rất thân mật. Tư vốn mồ côi cha từ bé nên anh sẵn sàng đón nhận tình cảm của người đàn ông xa lạ dành cho anh. Chủ nhật nào Tư đến chơi, chú cũng giữ anh ở lại cùng ăn cơm với chú. Nhưng không phải lúc nào chú Bảy cũng tỏ ra vui vẻ. Nhiều lúc nhìn chú làm việc, Tư bắt gặp ở đôi mắt chú có một nỗi buồn, rất buồn đang ẩn chứa bên trong. Tư đoán chú buồn về con gái và hoàn cảnh hiện tại của gia đình. Có lần chú nói với anh: "Giá chú có được đứa con như con, chú sẽ không mong muốn một điều gì trên đời này nữa. Ở tuổi chú không có niềm vui nào bằng được hàng ngày đoàn tụ, sum họp và cũng không có nỗi buồn nào bằng phải hàng ngày sống trong sự cô đơn,trống trải. Đã bao năm qua, chú phải sống trong cảnh cô đơn, trống trải ấy. Bây giờ chú đã có con làm bạn, cuộc sống đã mỉm cười với chú rồi!".
Chủ nhật này chú Bảy không thấy Tư lại nhà chơi. Chú đoán chắc là Tư về quê thăm bà nội. Mấy ngày nay chú cũng ốm không làm được gì. Không như chú Bảy nghĩ. Cả tuần qua, Tư phải trực tại đơn vị vì đang có lệnh mới. Bây giờ vừa nghe ban chỉ huy phổ biến xong nhiệm vụ, Tư chỉ kịp sửa soạn ba lô, súng đạn thật gọn gàng rồi nhào ra khỏi cổng. Chú Bảy đang nằm trong nhà, nghe tiếng Tư gọi thì ngẩng đầu lên nhìn ra. Rồi chú ngồi bật dậy như cái lò xo khi nghe Tư nói. Cảm giác mỏi mệt trong người chú cũng biến mất. Chú trở nên hoạt bát nhanh nhẹn. "Đi ngay bây giờ sao?". Chú hỏi. "Dạ, đi ngay!". Tư đáp. "Vậy con có biết đi đâu không?". "Ban chỉ huy không nói cụ thể, chỉ phổ biến chung là đi xa thôi ạ!".Chú Bảy nhăn trán lại suy nghĩ rồi kéo Tư lại gần nói khẽ: "Chú đoán ra rồi! Đi biên giới chứ gì? Suốt cả thời gian qua tình hình biên giới căng thẳng lắm. - Giọng chú trở nên xúc động - Chú cũng buồn vì mình già rồi không làm được gì cho đất nước. Mới gặp con đã lại xa con rồi.". "Con cũng rất buồn vì phải xa chú .- Tư nói giọng nghẹn ngào - Chẳng biết bao giờ chú cháu mình mới lại gặp nhau. Chú nhớ giữ gìn sức khoẻ. Thôi, gần đến giờ xuất phát rồi, con phải về đơn vị kẻo không kịp". Tư bóp mạnh tay chú. Chú Bảy vẫn ngồi vậy thần mặt ra nghĩ ngợi. Khi thấy Tư đứng dậy, chú hốt hoảng đứng dậy theo và níu tay anh lại. "Khoan, đợi chú một lát. - Chú bước đến chỗ góc buồng, mở cái rương, lục lọi một hồi rồi quay lại chỗ Tư đứng. Chú nắm lấy tay anh, bảo anh xoè bàn tay ra, rồi đặt vào đó một vật gì lành lạnh. Chú rơm rớm nước mắt nói với anh - Chú chỉ có một đứa con mà giờ đây cũng coi như không có. Bằng này tuổi đời rồi mà không giữ được nó, không nuôi nó được tử tế, để nó phải tha phương cầu thực. Không biết nó có còn quay lại với chú nữa không? Chú ân hận quá! Tư ơi, chú có chiếc nhẫn bằng bạc này tặng con. Nó chẳng đáng là bao, nhưng là kỹ vật của vợ chồng chú ngày còn trẻ. Hồi ấy, chú và thím cũng trẻ như con. Bây giờ chú già rồi, chẳng biết ốm đau, sống chết lúc nào. Chú...chú...coi con...như ...con đẻ...của chú...nên chú tặng nó cho con...". Tư tự tay đeo chiếc nhẫn vào ngón tay mình. Trống ngực anh đập thình thịnh, lòng anh xao xuyến và nước mắt anh ứa ra. Ngửng nhìn lên, anh thấy mắt chú Bảy cũng nhoà lệ. Tiếng còi xe thúc giục Tư. Anh quàng tay qua vai chú, ép má mình vào má chú: "Con đi đây! Vào đến nơi con sẽ viết thư cho ba". Đó là tiếng "ba" đầu tiên trong đời Tư thốt lên gọi một người đàn ông.
Đơn vị Tư hành quân vào biên giới đúng vào lúc tình hình ở đây đang diễn ra hết sức ác liệt. Đơn vị anh lên thẳng biên giới. Từ đấy nhiệm vụ chiến đấu cuốn theo anh và đồng đội. Tuy vậy, lúc nào anh cũng nghĩ đến chú Bảy. Mỗi lần nghĩ đến chú, Tư lại duỗi ngón tay ra ngắm nghía chiếc nhẫn. Hơn nửa năm sau, trong một trận chiến đấu, Tư lập được chiến công xuất sắc rồi được chọn đi báo cáo điển hình. Lúc ôtô chạy ngang qua thị trấn, anh thuyết phục được người lái xe dừng lại nghỉ, rồi vội vã mua ít quà đến thăm chú Bảy. Anh cắm cúi bước trên con đường rải đá dăm, lòng hân hoan nghĩ đến phút giây được gặp lại chú. Mới chỉ mấy tháng thôi mà Tư thấy là lạ. Anh có cảm tưởng cái thị trấn nhỏ như lòng bàn tay này đang có sự đổi thay gì đây mà anh chưa kịp nhận ra, chưa kịp khám phá ra. Trời đã sang thu rồi mà thời tiết vẫn chưa hết ngột ngạt. Càng gần đến ngôi nhà tôn nhỏ ở cuối con hẽm nhỏ, Tư thấy mình càng hồi hộp, sung sướng. Anh chờ tiếng búa, tiếng kim loại quen thuộc vang lên rộn rã như ngày nào. Nhưng tất cả đều lặng im. Tư đang phân vân trước những đổi thay kỳ lạ ấy thì một con chó to, từ trong nhà lao qua hàng rào nhằm anh chồm tới. Tư né người tránh được hàm răng sắc nhọn của nó, sẵn đà, anh giáng luôn một cú đá vào mõm nó. Con chó bất ngờ bị đòn đau, "oẳng" lên một tiếng rồi lủi mất. Tức thì trong nhà có tiếng nạt nộ, rồi một gã thanh niên cởi trần, tóc húi cua, bụng phệ, hằm hằm đi ra. Theo sau gã là một người phụ nữ bận đồ ngủ, mặt mũi phấn son loè loẹt. Cả hai nhìn Tư không chớp mắt. Gã thanh niên mở cánh cổng sắt, quắc mắt nhìn Tư, giọng ong ỏng: "Tôi nói cho anh hay, nhà này không còn là nhà của ông Bảy, ông Tám nào nữa. Nhà này là nhà của tôi, thuộc quyền sở hữu của tôi. Tôi đã mua của ông ta. Còn anh muốn biết chú Bảy của anh ở đâu, thế nào, thì anh cứ thẳng đường này mà đi. Chú Bảy của anh đang ở một mình dưới đó, ông ta vừa đi nghỉ mát về". - Gã kéo dài hai tiếng "nghỉ mát" một cách mỉa mai rồi chỉ tay về phía con đường. Tư lấy làm lạ trước câu nói của gã nên anh cứ chần chừ, nấn ná để hỏi thêm: "Tại sao chú Bảy ở một mình? Thím Bảy đâu?". Người phụ nữ dài giọng trả lời: "Bà ấy lấy chồng khác rồi!". Và chị ta cười to thành tiếng. "Này chị, chị có thể cho tôi biết chuyện gì đã xẩy ra với chú Bảy không?". Gã thanh niên lừ mắt nhìn Tư rồi bước vào trong cổng. Gã quay lại đứng dạng háng, hách dịch nói: "Thôi, bây giờ anh có thể đi được rồi. Chúng tôi không có thời gian đáp ứng những băn khoăn của anh. Anh muốn biết chuyện gì hãy cứ gặp ông Bảy sẽ biết. - Ngừng một lát, gã tiếp - Với tư cách là người lớn tuổi hơn anh, hơn nữa, thấy anh là một quân nhân, tôi thành tâm khuyên anh nên chấm dứt mọi quan hệ với ông Bảy càng sớm càng tốt. Nên nhớ, càng sớm càng tốt!". Rồi gã kéo mạnh cánh cổng khép lại, dắt tay người phụ nữ đi vào nhà.
Niềm vui được gặp lại chú Bảy thế là vơi đi một nửa trong lòng Tư. Anh buồn bã quay ra con đường mà gã thanh niên đã chỉ cho anh. Tư bước đi với bao câu hỏi ngổn ngang trong đầu. Chuyện gì đã xẫy ra với người chú mà anh tôn kính như cha, để đến nỗi phải bán nhà, mất vợ? Hay vì thiếu cân nhắc nên chú đã làm gì đó vi phạm pháp luật? Tư nhớ đến câu nói mỉa mai của gã thanh niên mà thoáng giật mình. Tư cứ miên man như thế cho đến lúc chân anh bước vào khoảng sân nhỏ. Anh dừng lại nhìn quanh rồi đi thẳng vào cửa chính. Từ giữa sân, Tư nhìn thấy một người đàn ông đang nằm trên chiếc giường tre. Con người ấy, dáng người ấy, thoạt nhìn, anh nhận ngay ra chú Bảy. Tư khe khẽ lên tiếng. Chú Bảy giật mình quay lại rồi ngồi dậy, lim dim mắt mhìn ra. Tư kêu to "Ba ơi!" rồi dang cả hai tay bước nhanh về phía chú. Nhưng anh bỗng dừng lại, hai chân như bị chôn chặt xuống đất. Trước mặt anh là một đôi mắt trong suốt, sâu thẳm nhưng lạnh ngắt như băng giá đang nhìn anh không chớp. Đôi mắt ấy vừa thân quen, vừa xa lạ, long lanh một nỗi buồn vô biên, bao bọc lấy anh. Chính cái ánh mắt lạ lùng ấy buộc Tư phải dừng bước. Anh buông thõng hai tay kêu lên khe khẽ: "Chú Bảy, chú không nhận ra con sao? Con là Tư, là Tư đây mà!". Chú Bảy khẽ nhếch mép cười rồi nặng nề đứng dậy bước đến chắn ngang lối ra vào. Đôi mắt chú âu sầu, đờ đẫn nhìn Tư. Tư phải nhìn đi chỗ khác để tránh cái nhìn ấy. "Sao, Tư à? Tư nào mà ta không biết nhỉ?- Chú Bảy bất chợt cất giọng khàn khàn hỏi nhỏ, phải chú ý lắm Tư mới nghe ra - Ta quên hết rồi, quên hết tất cả rồi". Tư hoảng hốt khi nghe chú Bảy nói. Anh không tin những gì chú vừa thốt lên. Chả lẽ chú đã hoá rồ hay đã lú lẫn đến mức này rồi sao? "Bây giờ ta chẳng còn gì nữa. Tất cả đã mất sạch rồi. Nhà cửa, danh dự, gia đình...không còn gì nữa rồi. Ta không nhớ gì nữa hết. Ta không cần gì nữa hết". Và chú gục xuống lối ra vào nấc lên khe khẽ. Tư bước đến đỡ chú. Người anh cũng run rẩy theo những tiếng nấc của chú. "Chú ơi, chú làm sao mà ra nông nỗi này? Con là Tư đây, con về với chú đây!". Anh lại kêu lên. Chú Bảy vịnh cửa đứng dậy rồi đùng đùng chỉ tay vào mặt Tư quát to: "Cả anh nữa, anh cũng đi đi. Tôi khổ nhiều rồi, đừng đến đây quấy rầy tôi nữa". Tư sợ hãi lùi lại: "Kìa, chú Bảy!". Tiếng chú càng to hơn: "Đi đi, tôi nói anh phải nghe, đi đi cho...". "Kìa chú, sao chú lại đuổi con?". Chú Bảy hạ giọng: "Làm ơn đi đi cho. Đừng đến đây gieo rắc tai họa vào nhà tôi nữa". Rồi chú đóng sầm cửa lại. Bàng hoàng và không tin vào những gì vừa xẩy ra, Tư buồn bã quay ra thị trấn. Vì sợ anh em đợi lâu, anh không còn có thời gian dừng lại để tìm hiểu, nên cũng không biết chuyện gì đã xẩy ra với chú Bảy. Mãi ba năm sau, chiến tranh biên giới kết thúc, Tư mới có dịp trở lại tìm hiểu ngọn ngành. Lúc ấy anh đã là một sỹ quan biên phòng vừa được cấp trên cho nghỉ phép về thăm nhà.
...Và bây giờ thì Tư đang đi trên con hẽm nhỏ, lầy lội dẫn đến nhà chú Bảy với cái lạnh buốt giá ngày cuối đông. Tư tin rằng lần này anh sẽ không phải thất vọng nữa và chú Bảy cũng đã trở lại bình thường như những ngày đầu anh gặp. Tư đến đúng căn nhà lá nhỏ mà anh đã đến lần đầu cách đây hơn ba năm. Vẫn căn nhà ấy, vẫn cánh cửa ấy, vẫn mảnh sân nho nhỏ ấy, không có gì thay đổi. Một người con gái có khuôn mặt trái xoan với đôi mắt đen lay láy từ trong nhà chạy ra thẹn thùng nhìn anh. "Chào cô!". "Chào anh!". Cả hai người hơi bối rối khi chào nhau. "Cô cho tôi hỏi thăm chú Bảy có nhà không cô?". Tư hỏi và cảm thấy trống ngực mình đập thình thịch. Cô gái ngước cặp mắt đen, lung linh, tròn xoe như hai hạt nhãn nhìn Tư nghiêm nghị. Từ ánh mắt cô toả ra một nỗi niềm mong đợi như thể cô đã chờ đợi giây phút này từ rất lâu. "Người mà anh hỏi đã mất rồi anh ạ!". Cô trả lời giọng run run như đang phải nén chặt một tiếng nấc từ sâu thẳm tâm hồn dội lên. "Chú Bảy mất rồi ư? - Tư thoảng thốt kêu lên, lòng quặn đau như có một lưỡi dao vô hình vừa xía vào - Trời ơi, vậy mà tôi đinh ninh là lần này tôi sẽ được gặp chú". "Anh ơi, có phải anh là Tư không? - Cô gái đột nhiên reo lên hỏi Tư. Cặp mắt xinh đẹp nhìn thẳng vào mắt Tư - Có lẽ anh là người mà ba nhắc nhiều đây. Mới nhìn thấy anh, linh tính đã mách bảo em điều này. Đúng là anh Tư rồi!". "Đúng, tôi là Tư đây! Còn cô, cô có phải là...là Hằng không?". "Dạ, em là Hằng! Anh vào nhà đi, vào đi anh". Hằng đỡ chiếc cặp trên tay Tư, dẫn anh vào nhà. Tư lặng lẽ bỏ mũ, bước đến trước bàn thờ chú Bảy. Tư thắp hương rồi từ từ cúi đầu xuống. Lúc anh ngẩng lên, quay ra, Hằng nhìn thấy hai dòng nước mắt còn đọng lại trên khoé mắt và gò má Tư. Cả ngày hôm ấy, Tư ở lại với Hằng. Và Hằng đã kể cho Tư nghe chuyện xẩy ra với người cha của mình.
Sau ngày Tư vào biên giới được chừng hai tháng, một đêm tối trời có một người đàn ông lạ mặt tự xưng là bộ đội đi công tác lỡ đường vào nhà chú Bảy xin ngủ nhờ qua đêm. Người lạ mang theo một ba lô và một túi du lịch, chẳng biết đựng gì bên trong, nhưng nhìn cách anh ta mang, xách cũng biết là rất nặng. Vốn quý bộ đội và cũng tin anh ta là bộ đội nên chú Bảy đồng ý ngay. Chú lo sửa soạn giường chiếu, chăn màn, còn bảo vợ lo cơm nước cho người lạ ăn. Ăn uống xong, người lạ kêu mệt xin phép vợ chồng chú Bảy đi ngủ ngay vì ngày mai phải đi sớm cho kịp ôtô. Anh ta còn dặn, nếu anh ta ngủ quên thì gọi hộ. Ba lô, túi du lịch, anh ta mang cả vào trong mùng. Vì hôm đó làm mệt nên vợ chồng chú Bảy cũng đóng cửa, cài then, tắt đèn đi ngủ sớm. Sáng ra, vợ chồng chú Bảy thức dậy lúc gà chưa gáy. Khi nước uống sôi, nhớ lời dặn của người lạ, chú Bảy đến bên giường người lạ nằm khe khẽ gọi. Thấy không động tĩnh, chú Bảy gọi to hơn. Gọi mãi vẫn không thấy anh ta nhúc nhích, trả lời. Hoảng quá, chú Bảy gọi vợ thắp đèn lên rồi cả hai luống cuống mang đèn đến soi. Chú Bảy run run hai tay nắm vạt mùng kéo lên. Chú bỗng "Ối!" một tiếng, hai tay thả vạt mùng lùi lại. Thím Bảy cũng khiếp vía ngã nhào ra phía sau. Cái đèn trong tay thím rơi xuống nền nhà vỡ tan. Cả chú và thím cùng chạy ra ngoài sân hét toáng lên. Thế là làng xóm ầm ầm chạy đến. Các anh công an cũng kịp thời có mặt. Chẳng mấy chốc trong nhà ngoài sân chú Bảy chật cứng người. Cái mùng được vén lên, người ta nhìn thấy một người đàn ông nằm ngửa, mắt trợn ngược, hai chân dang ra. Người đàn ông đã chết do một nhát dao đâm vào ngực. Trên giường, ngoài thi thể nạn nhân, không có gì khác. Vợ chồng chú Bảy bị mời lên đồn công an ngay sau khi lập xong biên bản. Hai ngày sau thím Bảy được thả về. Còn chú Bảy phải ba tháng sau mới được trả tự do, nhưng vẫn chịu sự quản lý của địa phương, đi đâu phải khai báo, khi cần phải có mặt. Trong thời gian chú Bảy bị tạm giữ, thím Bảy ở nhà quan hệ bừa bãi. Thím bán sạch mọi thứ, rồi sau cùng ngang nhiên bán nhà, ôm gọn tiền chạy theo một người đàn ông đi nơi khác sinh sống. Chú Bảy trở về thế là không nhà không cửa, phải sống nhờ nhà một người quen. Lúc ấy, Hằngvừa tốt nghiệp phổ thông trung học, đang ở với người gì ruột, nghe tin, vội vã chạy về. Hai cha con xin đất, mua tranh tre dựng lên căn nhà này.
"Anh ơi, chỉ một thời gian ngắn mà ba sút đi trông thấy. - Hằng lau nước mắt nghẹn ngào nói - Người ba gầy guộc, em đếm được từng đường gân, từng chiếc xương sườn trên người ba. Suốt ngày ba thở ngắn thở dài buồn bã, chán nản. Thêm vào đó là sự xa lánh, khinh miệt của mọi người. Sau khi sự việc xẩy ra lập tức trong vùng có lời đồn rằng: ba chứa chấp kẻ buôn lậu hàng cấm, đêm đến thông đồng với kẻ xấu bên ngoài, giết người ta cướp của chia nhau. Khi được xác minh không có tội gì và được trở về rồi, có người vẫn không tin đó là thật và vẫn dựng lên bao chuyện hoang đường đổ lên đầu ba. Chẳng mấy khi có ai đến nhà. Ai cũng sợ quan hệ với ba rồi liên lụy đến vụ giết người. Ngày ngày ba đi giúp việc cho một ông thợ ngoài thị trấn. Bà làm bữa đực bữa cái vì ốm đau luôn. Được cái, ông thợ này là bạn thân của ba từ trước giải phóng nên thương ba và giúp đỡ ba nhiều lắm! Hồi ấy, em đang ôn thi vào cao đẳng sư phạm, định nghỉ ở nhà chăm nom giúp đỡ ba, nhưng ba không đồng ý. Vậy là em tiếp tục ôn thi rồi thi đỗ và bây giờ đã học xong ra trường, đang chờ phân công đi dạy". Hằng dừng lại, kéo tấm khăn quàng cổ lên đỉnh đầu che bớt ngọn gió lạnh từ ngoài thổi vào. Tư nhìn sang, thấy mặt Hằng đang tái đi vì lạnh. "Mấy tháng nghỉ hè em về ở hẳn với ba. Đêm đêm hai cha con rì rầm nói chuyện cho đến tận khuya mới đi ngủ. Ba kể chuyện ba ngày còn trẻ, chuyện gặp mẹ rồi yêu nhau, chuyện em khi còn bé. Ba cũng kể rất nhiều chuyện về anh, về tình cảm ba dành cho anh, anh dành cho ba. Ba nói rằng, anh là người tốt, biết thương người, biết học hỏi, rồi thế nào cũng có ngày anh trở lại thăm ba và ba đợi cái ngày ấy quắt quay, quắt quay từng ngày một. Cái ngày anh ghé về thăm ba là đúng vào những ngày ba đang đau khổ vô tận. Tinh thần ba suy sụp, đầu óc ba lúc tỉnh lúc mê, lại có lúc như người dở hơi, như người điên dại. Về sau, sực tỉnh lại, ba mới nhớ ra là anh về và ba đã xử sự với anh ra sao. Ba đã khóc vì ân hận và vì thương anh. Thời gian sau này không rõ vì lý do gì mà ba hoạt bát, vui vẻ hẳn lên. Có lần ba nói với em: "Hằng ơi, giá mà chiến tranh biên giới đừng xẩy ra, giá mà thằng Tư còn ở lại đây, để cả ba cha con mình cùng đoàn tụ thì cuộc đời sẽ vui biết mấy. Từ nay ba sẽ sống khác đi, phải vui vẻ, lạc quan, khoẻ mạnh lên đợi thằng Tư trở về...". Nhưng rồi ba lâm bệnh, một căn bệnh hiểm nghèo mà không thầy, không thuốc nào có thể chữa lành được. Một ngày trước khi mất, ba gọi em đến ngồi cạnh, nắm tay em, đặt lên ngực, thều thào nói: "Hằng ơi, con hãy tha thứ cho ba vì có một thời gian dài ba đã không chăm sóc được cho con...". Em không cho ba nói, rồi gục đầu lên ngực ba mà khóc. Ba lại bảo: "Con hãy viết cho thằng Tư một lá thư, bảo nó về thăm cha con mình". Em phải nói không có địa chỉ của anh, ba mới chịu nằm yên. Rồi chiều ấy ba tắt thở". Hằng sụt sùi khóc. Tư cũng cay xè hai mắt vì không sao ngăn được nước mắt trào ra. Bây giờ anh mới hiểu cặn kẽ tấm lòng của người cha nuôi đối với anh. Người cha ấy đã thương anh, tin anh, nghĩ về anh cho đến phút cuối cùng của cuộc đời. "Ba mất được khoảng hai tháng - Hằng nghẹn ngào nói tiếp - thì trong một cuộc họp dân, công an thị trấn thông báo đã phá được vụ án, bắt được kẻ giết người. Đó là một tên tội phạm chuyên cướp của giết người. Hắn theo dõi một người đàn ông giả danh bộ đội buôn trầm hương từ lúc trời còn sáng. Đã mấy lần hắn định giết người này dọc đường đi, nhưng chưa dám vì sợ lộ, nên bí mật bám theo. Đến lúc người này xin vào ngủ nhờ thì hắn nằm phục sẵn bên ngoài. Hắn nằm yên, đợi cho trong nhà ngủ say, hắn mới khoét vách chui vào giết người và cướp hết trầm hương biến mất. Trước đó, hắn đã gây ra mấy vụ án mạng khác để cướp xe máy và giật dây chuyền vàng. Anh Tư ơi, em thương cho ba quá, vì cho đến lúc chết ba vẫn chưa giải được nỗi oan...". Hằng gục đầu lên bàn khóc. Tư nhìn sang và rất muốn được đặt tay lên vai Hằng an ủi, dỗ dành cô. Lúc này, Tư vừa thương cho số phận cha nuôi lại vừa thương cho hoàn cảnh của Hằng. Chờ cho Hằng khóc thoải mái xong, Tư mới nhỏ nhẹ nói với cô: "Hằng ơi, ngày anh đi biên giới, ba có tặng cho anh một chiếc nhẫn bằng bạc rất đẹp. Đó là kỹ vật từ hồi ba mẹ mới thương nhau. Bao nhiêu năm qua, anh đã đeo nó trên tay mình và gìn giữ nó như một kỹ vật thiêng liêng của cuộc đời anh. Bởi, chiếc nhẫn ấy là cuộc đời của ba và cả cuộc đời của mẹ. Cũng vì có chiếc nhẫn ấy anh em mình mới gặp nhau. Nay được gặp em rồi, anh muốn trao lại nó cho em, vì dẫu sao em cũng là máu thịt của ba mẹ còn lại trên đời này". Hằng nhìn chiếc nhẫn, nhìn Tư, rồi lắc đầu dịu dàng trả lời: "Sao lại thế được anh! Ba có quý anh, ba có thương yêu anh đến thế nào ba mới tặng cho anh chiếc nhẫn ấy. Dẫu là con đẻ, em cũng không thể làm sai ý nguyện của ba. Hơn nữa, lúc còn sống ba cũng đã từng coi anh như con đẻ thì có khác gì em đâu. Em cũng phải có bổn phận coi anh là người anh và em cũng mong ở anh một tình thương đáp lại". Nói rồi, Hằng đeo chiếc nhẫn vào tay cho Tư. Cô chưa vội buông tay anh ra mà cứ để nguyên như thế một lúc lâu trong tay mình. Hằng ngửng lên nhìn Tư, bắt gặp cặp mắt của Tư nhìn cô âu yếm. Ngoài sân, trời vẫn lất phất mưa và gió vẫn ngang tàng múa lượn. Bông hồng nhung nở bên lối đi khẽ rung rinh, long lanh những giọt nước như báo hiệu một mùa xuân tươi đẹp đang đến gần.
NNC
(20) Góp ý (0) Trackbacks
Đường dẫn cố định
Chỉnh sửa
Bản in




















