Sign up

CHIẾC NHẪN BẠC - NNC

NGUYỄN NGỌC CHIẾN

ChiếcNhẫnBạc

TRUYỆN NGẮN


*Tạp chí Xứ Thanh số tháng 12.2008;
*Tạp chí Văn nghệ Bình Dương số 5 tháng 5.2009.

             
          Loanh quanh một lúc rồi thì Tư cũng nhận ra con hẽm nhỏ quen thuộc. Chỉ không đầy năm năm mà đổi thay nhiều quá! Hồi ấy, cái xóm nhỏ ven thị trấn này chỉ lèo tèo mấy túp nhà lá, họa hoằn lắm mới có được ngôi nhà gỗ lợp ngói hoặc lợp tôn. Vậy mà giờ đây, nhà cửa, quán sá... đã mọc lên như nấm. Thời tiết đang cuối đông, mưa phùn với gió bấc phả vào hai bên thái dương Tư lạnh buốt. Anh bước vội vàng. Con hẽm nhỏ lầy lội với không khí lạnh lẽo, ảm đạm càng gợi lên trong lòng Tư nỗi buồn của chuyến trước anh đến đây. Lần ấy, chú Bảy đã lạnh nhạt với anh. Một sự lạnh nhạt nửa trách móc, nửa giận hờn mà Tư chưa kịp hiểu duyên cớ vì đâu. Sau đó, anh chỉ buồn chứ không hề giận chú. Nỗi buồn ấy cứ day dứt tâm can anh đằng đẵng mấy năm qua. Còn bây giờ, sau gần năm năm, Tư lại đi trên con hẽm này để trở về với chú. Trong lòng không còn anh mang nỗi u uất ấy nữa, mà tràn ngập niềm xúc động khó tả. Chỉ một lát nữa thôi, anh sẽ gặp lại chú. Chao ôi! Cứ nghĩ đến phút giây ấy là Tư xao xuyến cả lòng. Anh ước sao từ trong nhà, chú Bảy sẽ nhìn thấy anh mà chạy ra đón. Anh cũng sẽ nhào đến ôm lấy chú, gục đầu vào vai chú để khóc với chú những giọt nước mắt mừng vui và cả nỗi tủi hờn.


                         

            ...Ngày mới nhập ngũ, đơn vị Tư đóng  quân ở đây. Ngày ấy, anh ít có thời gian để đi đây đó, càng không có điều kiện để về thăm nhà. Hàng ngày, sau giờ công tác anh chỉ nằm ở nhà đọc sách, cùng lắm thì đến chơi nhà chú Bảy, một ngôi nhà lợp tôn nằm tít tận cuối con hẽm. Chú Bảy làm nghề thủ công tại nhà. Vợ chú bán quần áo cũ ở chợ. Tư không ngờ chỉ với cái đe, cái kéo, cái búa... và vài dụng cụ đơn giản khác mà những mảnh tôn méo mó, dị dạng từ phế liệu chiến tranh được đôi bàn tay chú tạo thành những vật dụng có ích. Chú làm nghề này từ trước ngày giải phóng, lúc mới lập gia đình. Vợ chú chỉ sống với chú được bốn năm, sinh cho chú một mụn con gái rồi chết vì bom Mỹ. Chú ở vậy nuôi con cho mãi đến sau ngày giải phóng mới làm bạn lại với thím Bảy là vợ chú bây giờ. Hai người ăn ở với nhau đã hơn ba năm mà chưa có con. Từ ngày chú có vợ, Hằng - cô con gái riêng của chú bỏ nhà đi biệt tăm. Căn nhà này là do chú và người vợ trước tạo dựng nên. Thím Bảy lúc về ở với chú chỉ có độc một gánh hàng là quần áo cũ, nêu bán hết, cả vốn lẫn lời được chừng hai chỉ. Tiền thím bán được thím để riêng. Tiền chú làm được thím quản lý hết. Buổi trưa thím ăn tại chợ. Buổi tối thím mua con cá, mớ rau về nhà cùng ăn với chú. Cứ vậy, vợ làm vợ ăn, chồng làm chồng ăn. Tình cảm vợ chồng không có chuyện gì to tát nhưng như thể nhạt dần, xa nhau dần. Không nói ra nhưng chú Bảy rất buồn cho tình cảnh của mình. Từ ngày quen Tư ở cái lần đi nhặt phế liệu bị mấy thằng du côn ức hiếp, rồi may mắn được Tư bảo vệ, chú Bảy vui hẳn lên. Chú không gọi Tư là cháu như những người lính khác mà gọi anh bằng con rất thân mật. Tư vốn mồ côi cha từ bé nên anh sẵn sàng đón nhận tình cảm của người đàn ông xa lạ dành cho anh. Chủ nhật nào Tư đến chơi, chú cũng giữ anh ở lại cùng ăn cơm với chú. Nhưng không phải lúc nào chú Bảy cũng tỏ ra vui vẻ. Nhiều lúc nhìn chú làm việc, Tư bắt gặp ở đôi mắt chú có một nỗi buồn, rất buồn đang ẩn chứa bên trong. Tư đoán chú buồn về con gái và hoàn cảnh hiện tại của gia đình. Có lần chú nói với anh: "Giá chú có được đứa con như con, chú sẽ không mong muốn một điều gì trên đời này nữa. Ở tuổi chú không có niềm vui nào bằng được hàng ngày đoàn tụ, sum họp và cũng không có nỗi buồn nào bằng phải hàng ngày sống trong sự cô đơn,trống trải. Đã bao năm qua, chú phải sống trong cảnh cô đơn, trống trải ấy. Bây giờ chú đã có con làm bạn, cuộc sống đã mỉm cười với chú rồi!".

         Chủ nhật này chú Bảy không thấy Tư lại nhà chơi. Chú đoán chắc là Tư về quê thăm bà nội. Mấy ngày nay chú cũng ốm không làm được gì. Không như chú Bảy nghĩ. Cả tuần qua, Tư phải trực tại đơn vị vì đang có lệnh mới. Bây giờ vừa nghe ban chỉ huy phổ biến xong nhiệm vụ, Tư chỉ kịp sửa soạn ba lô, súng đạn thật gọn gàng rồi nhào ra khỏi cổng. Chú Bảy đang nằm trong nhà, nghe tiếng Tư gọi thì ngẩng đầu lên nhìn ra. Rồi chú ngồi bật dậy như cái lò xo khi nghe Tư nói. Cảm giác mỏi mệt trong người chú cũng biến mất. Chú trở nên hoạt bát nhanh nhẹn. "Đi ngay bây giờ sao?". Chú hỏi. "Dạ, đi ngay!". Tư đáp. "Vậy con có biết đi đâu không?". "Ban chỉ huy không nói cụ thể, chỉ phổ biến chung là đi xa thôi ạ!".Chú Bảy nhăn trán lại suy nghĩ rồi kéo Tư lại gần nói khẽ: "Chú đoán ra rồi! Đi biên giới chứ gì? Suốt cả thời gian qua tình hình biên giới căng thẳng lắm. - Giọng chú trở nên xúc động - Chú cũng buồn vì mình già rồi không làm được gì cho đất nước. Mới gặp con đã lại xa con rồi.". "Con cũng rất buồn vì phải xa chú .- Tư nói giọng nghẹn ngào - Chẳng biết bao giờ chú cháu mình mới lại gặp nhau. Chú nhớ giữ gìn sức khoẻ. Thôi, gần đến giờ xuất phát rồi, con phải về đơn vị kẻo không kịp". Tư bóp mạnh tay chú. Chú Bảy vẫn ngồi vậy thần mặt ra nghĩ ngợi. Khi thấy Tư đứng dậy, chú hốt hoảng đứng dậy theo và níu tay anh lại. "Khoan, đợi chú một lát. - Chú bước đến chỗ góc buồng, mở cái rương, lục lọi một hồi rồi quay lại chỗ Tư đứng. Chú nắm lấy tay anh, bảo anh xoè bàn tay ra, rồi đặt vào đó một vật gì lành lạnh. Chú rơm rớm nước mắt nói với anh - Chú chỉ có một đứa con mà giờ đây cũng coi như không có. Bằng này tuổi đời rồi mà không giữ được nó, không nuôi nó được tử tế, để nó phải tha phương cầu thực. Không biết nó có còn quay lại với chú nữa không? Chú ân hận quá! Tư ơi, chú có chiếc nhẫn bằng bạc này tặng con. Nó chẳng đáng là bao, nhưng là kỹ vật của vợ chồng chú ngày còn trẻ. Hồi ấy, chú và thím cũng trẻ như con. Bây giờ chú già rồi, chẳng biết ốm đau, sống chết lúc nào. Chú...chú...coi con...như ...con đẻ...của chú...nên chú tặng nó cho con...". Tư tự tay đeo chiếc nhẫn vào ngón tay mình. Trống ngực anh đập thình thịnh, lòng anh xao xuyến và nước mắt anh ứa ra. Ngửng nhìn lên, anh thấy mắt chú Bảy cũng nhoà lệ. Tiếng còi xe thúc giục Tư. Anh quàng tay qua vai chú, ép má mình vào má chú: "Con đi đây! Vào đến nơi con sẽ viết thư cho ba". Đó là tiếng "ba" đầu tiên trong đời Tư thốt lên gọi một người đàn ông.  

         Đơn vị Tư hành quân vào biên giới  đúng vào lúc tình hình ở đây đang diễn ra hết sức ác liệt. Đơn vị anh lên thẳng biên giới. Từ đấy nhiệm vụ chiến đấu cuốn theo anh và đồng đội. Tuy vậy, lúc nào anh cũng nghĩ đến chú Bảy. Mỗi lần nghĩ đến chú, Tư lại duỗi ngón tay ra ngắm nghía chiếc nhẫn. Hơn nửa năm sau, trong một trận chiến đấu, Tư lập được chiến công xuất sắc rồi được chọn đi báo cáo điển hình. Lúc ôtô chạy ngang qua thị trấn, anh thuyết phục được người lái xe dừng lại nghỉ, rồi vội vã mua ít quà đến thăm chú Bảy. Anh cắm cúi bước trên con đường rải đá dăm, lòng hân hoan nghĩ đến phút giây được gặp lại chú. Mới chỉ mấy tháng thôi mà Tư thấy là lạ. Anh có cảm tưởng cái thị trấn nhỏ như lòng bàn tay này đang có sự đổi thay gì đây mà anh chưa kịp nhận ra, chưa kịp khám phá ra. Trời đã sang thu rồi mà thời tiết vẫn chưa hết ngột ngạt. Càng gần đến ngôi nhà tôn nhỏ ở cuối con hẽm nhỏ, Tư  thấy mình càng hồi hộp, sung sướng. Anh chờ tiếng búa, tiếng kim loại quen thuộc vang lên rộn rã như ngày nào. Nhưng tất cả đều lặng im. Tư đang phân vân trước những đổi thay kỳ lạ ấy thì một con chó to, từ trong nhà lao qua hàng rào nhằm anh chồm tới. Tư né người tránh được hàm răng sắc nhọn của nó, sẵn đà, anh giáng luôn một cú đá vào mõm nó. Con chó bất ngờ bị đòn đau, "oẳng" lên một tiếng rồi lủi mất. Tức thì trong nhà có tiếng nạt nộ, rồi một gã thanh niên cởi trần, tóc húi cua, bụng phệ, hằm hằm đi ra. Theo sau gã là một người phụ nữ bận đồ ngủ, mặt mũi phấn son loè loẹt. Cả hai nhìn Tư không chớp mắt. Gã thanh niên mở cánh cổng sắt, quắc mắt nhìn Tư, giọng ong ỏng: "Tôi nói cho anh hay, nhà này không còn là nhà của ông Bảy, ông Tám nào nữa. Nhà này là nhà của tôi, thuộc quyền sở hữu của tôi. Tôi đã mua của ông ta. Còn anh muốn biết chú Bảy của anh ở đâu, thế nào, thì anh cứ thẳng đường này mà đi. Chú Bảy của anh đang ở một mình dưới đó, ông ta vừa đi nghỉ mát về". - Gã kéo dài hai tiếng "nghỉ mát" một cách mỉa mai rồi chỉ tay về phía con đường. Tư lấy làm lạ trước câu nói của gã nên anh cứ chần chừ, nấn ná để hỏi thêm: "Tại sao chú Bảy ở một mình? Thím Bảy đâu?". Người phụ nữ dài giọng trả lời: "Bà ấy lấy chồng khác rồi!". Và chị ta cười to thành tiếng. "Này chị, chị có thể cho tôi biết chuyện gì đã xẩy ra với chú Bảy không?". Gã thanh niên lừ mắt nhìn Tư rồi bước vào trong cổng. Gã quay lại đứng dạng háng, hách dịch nói: "Thôi, bây giờ anh có thể đi được rồi. Chúng tôi không có thời gian đáp ứng những băn khoăn của anh. Anh muốn biết chuyện gì hãy cứ gặp ông Bảy sẽ biết. - Ngừng một lát, gã tiếp - Với tư cách là người lớn tuổi hơn anh, hơn nữa, thấy anh là một quân nhân, tôi thành tâm khuyên anh nên chấm dứt mọi quan hệ với ông Bảy càng sớm càng tốt. Nên nhớ, càng sớm càng tốt!". Rồi gã kéo mạnh cánh cổng khép lại, dắt tay người phụ nữ đi vào nhà.

                                              Tranh PC

         Niềm vui được gặp lại chú Bảy thế là vơi đi một nửa trong lòng Tư. Anh buồn bã quay ra con đường mà gã thanh niên đã chỉ cho anh. Tư bước đi với bao câu hỏi ngổn ngang trong đầu. Chuyện gì đã xẫy ra với người chú mà anh tôn kính như cha, để đến nỗi phải bán nhà, mất vợ? Hay vì thiếu cân nhắc nên chú đã làm gì đó vi phạm pháp luật? Tư nhớ đến câu nói mỉa mai của gã thanh niên mà thoáng giật mình. Tư cứ miên man như thế cho đến lúc chân anh bước vào khoảng sân nhỏ. Anh dừng lại nhìn quanh rồi đi thẳng vào cửa chính. Từ giữa sân, Tư nhìn thấy một người đàn ông đang nằm trên chiếc giường tre. Con người ấy, dáng người ấy, thoạt nhìn, anh nhận ngay ra chú Bảy. Tư khe khẽ lên tiếng. Chú Bảy giật mình quay lại rồi ngồi dậy, lim dim mắt mhìn ra. Tư kêu to "Ba ơi!" rồi dang cả hai tay bước nhanh về phía chú. Nhưng anh bỗng dừng lại, hai chân như bị chôn chặt xuống đất. Trước mặt anh là một đôi mắt trong suốt, sâu thẳm nhưng lạnh ngắt như băng giá đang nhìn anh không chớp. Đôi mắt ấy vừa thân quen, vừa xa lạ, long lanh một nỗi buồn vô biên, bao bọc lấy anh. Chính cái ánh mắt lạ lùng ấy buộc Tư phải dừng bước. Anh buông thõng hai tay kêu lên khe khẽ: "Chú Bảy, chú không nhận ra con sao? Con là Tư, là Tư đây mà!". Chú Bảy khẽ nhếch mép cười rồi nặng nề đứng dậy bước đến chắn ngang lối ra vào. Đôi mắt chú âu sầu, đờ đẫn nhìn Tư. Tư phải nhìn đi chỗ khác để tránh cái nhìn ấy. "Sao, Tư à? Tư nào mà ta không biết nhỉ?- Chú Bảy bất chợt cất giọng khàn khàn hỏi nhỏ, phải chú ý lắm Tư mới nghe ra - Ta quên hết rồi, quên hết tất cả rồi". Tư hoảng hốt khi nghe chú Bảy nói. Anh không tin những gì chú vừa thốt lên. Chả lẽ chú đã hoá rồ hay đã lú lẫn đến mức này rồi sao?  "Bây giờ ta chẳng còn gì nữa. Tất cả đã mất sạch rồi. Nhà cửa, danh dự, gia đình...không còn gì nữa rồi. Ta không nhớ gì nữa hết. Ta không cần gì nữa hết". Và chú gục xuống lối ra vào nấc lên khe khẽ. Tư bước đến đỡ chú. Người anh cũng run rẩy theo những tiếng nấc của chú. "Chú ơi, chú làm sao mà ra nông nỗi này? Con là Tư đây, con về với chú đây!". Anh lại kêu lên. Chú Bảy vịnh cửa đứng dậy rồi đùng đùng chỉ tay vào mặt Tư quát to: "Cả anh nữa, anh cũng đi đi. Tôi khổ nhiều rồi, đừng đến đây quấy rầy tôi nữa". Tư sợ hãi lùi lại: "Kìa, chú Bảy!". Tiếng chú càng to hơn: "Đi đi, tôi nói anh phải nghe, đi đi cho...". "Kìa chú, sao chú lại đuổi con?". Chú Bảy hạ giọng: "Làm ơn đi đi cho. Đừng đến đây gieo rắc tai họa vào nhà tôi nữa". Rồi chú đóng sầm cửa lại. Bàng hoàng và không tin vào những gì vừa xẩy ra, Tư buồn bã quay ra thị trấn. Vì sợ anh em đợi lâu, anh không còn có thời gian dừng lại để tìm hiểu, nên cũng không biết chuyện gì đã xẩy ra với chú Bảy. Mãi ba năm sau, chiến tranh biên giới kết thúc, Tư mới có dịp trở lại tìm hiểu ngọn ngành. Lúc ấy anh đã là một sỹ quan biên phòng vừa được cấp trên cho nghỉ phép về thăm nhà.

         ...Và bây giờ thì Tư đang đi trên con hẽm nhỏ, lầy lội dẫn đến nhà chú Bảy với cái lạnh buốt giá ngày cuối đông. Tư tin rằng lần này anh sẽ không phải thất vọng nữa và chú Bảy cũng đã trở lại bình thường như những ngày đầu anh gặp. Tư đến đúng căn nhà lá nhỏ mà anh đã đến lần đầu cách đây hơn ba năm. Vẫn căn nhà ấy, vẫn cánh cửa  ấy, vẫn mảnh sân nho nhỏ ấy,  không có gì thay đổi. Một người con gái có khuôn mặt trái xoan với đôi mắt đen lay láy từ trong nhà chạy ra thẹn thùng nhìn anh. "Chào cô!". "Chào anh!". Cả hai người hơi bối rối khi chào nhau. "Cô cho tôi hỏi thăm chú Bảy có nhà không cô?". Tư hỏi và cảm thấy trống ngực mình đập thình thịch. Cô gái ngước cặp mắt đen, lung linh, tròn xoe như hai hạt nhãn nhìn Tư nghiêm nghị. Từ ánh mắt cô toả ra một nỗi niềm mong đợi như thể cô đã chờ đợi giây phút này từ rất lâu. "Người mà anh hỏi đã mất rồi anh ạ!". Cô trả lời giọng run run như đang phải nén chặt một tiếng nấc từ sâu thẳm tâm hồn dội lên. "Chú Bảy mất rồi ư? - Tư thoảng thốt kêu lên, lòng quặn đau như có một lưỡi dao vô hình vừa xía vào - Trời ơi, vậy mà tôi đinh ninh là lần này tôi sẽ được gặp chú". "Anh ơi, có phải anh là Tư không? - Cô gái đột nhiên reo lên hỏi Tư. Cặp mắt xinh đẹp nhìn thẳng vào mắt Tư - Có lẽ anh là người mà ba nhắc nhiều đây. Mới nhìn thấy anh, linh tính đã mách bảo em điều này. Đúng là anh Tư rồi!". "Đúng, tôi là Tư đây! Còn cô, cô có phải là...là Hằng không?". "Dạ, em là Hằng! Anh vào nhà đi, vào đi anh". Hằng đỡ chiếc cặp trên tay Tư, dẫn anh vào nhà. Tư lặng lẽ bỏ mũ, bước đến trước bàn thờ chú Bảy. Tư thắp hương rồi từ từ cúi đầu xuống. Lúc anh ngẩng lên, quay ra, Hằng nhìn thấy hai dòng nước mắt còn đọng lại trên khoé mắt và gò má Tư. Cả ngày hôm ấy, Tư ở lại với Hằng. Và Hằng đã kể cho Tư nghe chuyện xẩy ra với người cha của mình.

         Sau ngày Tư vào biên giới được chừng hai tháng, một đêm tối trời có một người đàn ông lạ mặt tự xưng là bộ đội đi công tác lỡ đường vào nhà chú Bảy xin ngủ nhờ qua đêm. Người lạ mang theo một ba lô và một túi du lịch, chẳng biết đựng gì bên trong, nhưng nhìn cách anh ta mang, xách cũng biết là rất nặng. Vốn quý bộ đội và cũng tin anh ta là bộ đội nên chú Bảy đồng ý ngay. Chú lo sửa soạn giường chiếu, chăn màn, còn bảo vợ lo cơm nước cho người lạ ăn. Ăn uống xong, người lạ kêu mệt xin phép vợ chồng chú Bảy đi ngủ ngay vì ngày mai phải đi sớm cho kịp ôtô. Anh ta còn dặn, nếu anh ta ngủ quên thì gọi hộ. Ba lô, túi du lịch, anh ta mang cả vào trong mùng. Vì hôm đó làm mệt nên vợ chồng chú Bảy cũng đóng cửa, cài then, tắt đèn đi ngủ sớm. Sáng ra, vợ chồng chú Bảy thức dậy lúc gà chưa gáy. Khi nước uống sôi, nhớ lời dặn của người lạ, chú Bảy đến bên giường người lạ nằm khe khẽ gọi. Thấy không động tĩnh, chú Bảy gọi to hơn.  Gọi mãi vẫn không thấy anh ta nhúc nhích, trả lời. Hoảng quá, chú Bảy gọi vợ thắp đèn lên rồi cả hai luống cuống mang đèn đến soi. Chú Bảy run run hai tay nắm vạt mùng kéo lên. Chú bỗng "Ối!" một tiếng, hai tay thả vạt mùng lùi lại. Thím Bảy cũng khiếp vía ngã nhào ra phía sau. Cái đèn trong tay thím rơi xuống nền nhà vỡ tan. Cả chú và thím cùng chạy ra ngoài sân hét toáng lên. Thế là làng xóm ầm ầm chạy đến. Các anh công an cũng kịp thời có mặt. Chẳng mấy chốc trong nhà ngoài sân chú Bảy chật cứng người. Cái mùng được vén lên, người ta nhìn thấy một người đàn ông nằm ngửa, mắt trợn ngược, hai chân dang ra. Người đàn ông đã chết do một nhát dao đâm vào ngực. Trên giường, ngoài thi thể nạn nhân, không có gì khác. Vợ chồng chú Bảy bị mời lên đồn công an ngay sau khi lập xong biên bản. Hai ngày sau thím Bảy được thả về. Còn chú Bảy phải ba tháng sau mới được trả tự do, nhưng vẫn chịu sự quản lý của địa phương, đi đâu phải khai báo, khi cần phải có mặt. Trong thời gian chú Bảy bị tạm giữ, thím Bảy ở nhà quan hệ bừa bãi. Thím bán sạch mọi thứ, rồi sau cùng ngang nhiên bán nhà, ôm gọn tiền chạy theo một người đàn ông đi nơi khác sinh sống. Chú Bảy trở về thế là không nhà không cửa, phải sống nhờ nhà một người quen. Lúc ấy, Hằngvừa tốt nghiệp phổ thông trung học, đang ở với người gì ruột, nghe tin, vội vã chạy về. Hai cha con xin đất, mua tranh tre dựng lên căn nhà này.

         "Anh ơi, chỉ một thời gian ngắn mà ba sút đi trông thấy. - Hằng lau nước mắt nghẹn ngào nói - Người ba gầy guộc, em đếm được từng đường gân, từng chiếc xương sườn trên người ba. Suốt ngày ba thở ngắn thở dài buồn bã, chán nản. Thêm vào đó là sự xa lánh, khinh miệt của mọi người. Sau khi sự việc xẩy ra lập tức trong vùng có lời đồn rằng: ba chứa chấp kẻ buôn lậu hàng cấm, đêm đến thông đồng với kẻ xấu bên ngoài, giết người ta cướp của chia nhau. Khi được xác minh không có tội gì và được trở về rồi, có người vẫn không tin đó là thật và vẫn dựng lên bao chuyện hoang đường đổ lên đầu ba. Chẳng mấy khi có ai đến nhà. Ai cũng sợ quan hệ với ba rồi liên lụy đến vụ giết người. Ngày ngày ba đi giúp việc cho một ông thợ ngoài thị trấn. Bà làm bữa đực bữa cái vì ốm đau luôn. Được cái, ông thợ này là bạn thân của ba từ trước giải phóng nên thương ba và giúp đỡ ba nhiều lắm! Hồi ấy,  em đang ôn thi vào cao đẳng sư phạm, định nghỉ ở nhà chăm nom giúp đỡ ba, nhưng ba không đồng ý. Vậy là em tiếp tục ôn thi rồi thi đỗ và bây giờ đã học xong ra trường, đang chờ phân công đi dạy". Hằng dừng lại, kéo tấm khăn quàng cổ lên đỉnh đầu che bớt ngọn gió lạnh từ ngoài thổi vào. Tư nhìn sang, thấy mặt Hằng đang tái đi vì lạnh. "Mấy tháng nghỉ hè em về ở hẳn với ba. Đêm đêm hai cha con rì rầm nói chuyện cho đến tận khuya mới đi ngủ. Ba kể chuyện ba ngày còn trẻ, chuyện gặp mẹ rồi yêu nhau, chuyện em khi còn bé. Ba cũng kể rất nhiều chuyện về anh, về tình cảm ba dành cho anh, anh dành cho ba. Ba nói rằng, anh là người tốt, biết thương người, biết học hỏi, rồi thế nào cũng có ngày anh trở lại thăm ba và ba đợi cái ngày ấy quắt quay, quắt quay từng ngày một. Cái ngày anh ghé về thăm ba là đúng vào những ngày ba đang đau khổ vô tận. Tinh thần ba suy sụp, đầu óc ba lúc tỉnh lúc mê, lại có lúc như người dở hơi, như người điên dại. Về sau, sực tỉnh lại,  ba mới nhớ ra là anh về và ba đã xử sự với anh ra sao. Ba đã khóc vì ân hận và vì thương anh. Thời gian sau này không rõ vì lý do gì mà ba hoạt bát, vui vẻ hẳn lên. Có lần ba nói với em: "Hằng ơi, giá mà chiến tranh biên giới đừng xẩy ra, giá mà thằng Tư còn ở lại đây, để cả ba cha con mình cùng đoàn tụ thì cuộc đời sẽ vui biết mấy. Từ nay ba sẽ sống khác đi, phải vui vẻ, lạc quan, khoẻ mạnh lên đợi thằng Tư trở về...". Nhưng rồi ba lâm bệnh, một căn bệnh hiểm nghèo mà không thầy, không thuốc nào có thể chữa lành được. Một ngày trước khi mất, ba gọi em đến ngồi cạnh, nắm tay em, đặt lên ngực, thều thào nói: "Hằng ơi, con hãy tha thứ cho ba vì có một thời gian dài  ba đã không chăm sóc được cho con...". Em không cho ba nói, rồi gục đầu lên ngực ba mà khóc. Ba lại bảo: "Con hãy viết cho thằng Tư một lá thư, bảo nó về thăm cha con mình". Em phải nói không có địa chỉ của anh, ba mới chịu nằm yên. Rồi chiều ấy ba tắt thở". Hằng sụt sùi khóc. Tư cũng cay xè hai mắt vì không sao ngăn được nước mắt trào ra. Bây giờ anh mới hiểu cặn kẽ tấm lòng của người cha nuôi đối với anh. Người cha ấy đã thương anh, tin anh, nghĩ về anh cho đến phút cuối cùng của cuộc đời. "Ba mất được khoảng hai tháng - Hằng nghẹn ngào nói tiếp - thì trong một cuộc họp dân, công an thị trấn thông báo đã phá được vụ án, bắt được kẻ giết người. Đó là một tên tội phạm chuyên cướp của giết người. Hắn theo dõi một người đàn ông giả danh bộ đội buôn trầm hương từ lúc trời còn sáng. Đã mấy lần hắn định giết người này dọc đường đi, nhưng chưa dám vì sợ lộ, nên bí mật bám theo. Đến lúc người này xin vào ngủ nhờ thì hắn nằm phục sẵn bên ngoài. Hắn nằm yên, đợi cho trong nhà ngủ say, hắn mới khoét vách chui vào giết người và cướp hết trầm hương biến mất. Trước đó, hắn đã gây ra mấy vụ án mạng khác  để cướp xe máy và giật dây chuyền vàng. Anh Tư ơi, em thương cho ba quá, vì cho đến lúc chết ba vẫn chưa giải được nỗi oan...". Hằng gục đầu lên bàn khóc. Tư nhìn sang và rất muốn được đặt tay lên vai Hằng an ủi, dỗ dành cô. Lúc này, Tư vừa thương cho số phận cha nuôi lại vừa thương cho hoàn cảnh của Hằng. Chờ cho Hằng khóc thoải mái xong, Tư mới nhỏ nhẹ nói với cô: "Hằng ơi, ngày anh đi biên giới, ba có tặng cho anh một chiếc nhẫn bằng bạc rất đẹp. Đó là kỹ vật từ hồi ba mẹ mới thương nhau. Bao nhiêu năm qua, anh đã đeo nó trên tay mình và gìn giữ nó như một kỹ vật thiêng liêng của cuộc đời anh. Bởi, chiếc nhẫn ấy là cuộc đời của ba và cả cuộc đời của mẹ. Cũng vì có chiếc nhẫn ấy anh em mình mới gặp nhau. Nay được gặp em rồi, anh muốn trao lại nó cho em, vì dẫu sao em cũng là máu thịt của ba mẹ còn lại trên đời này". Hằng nhìn chiếc nhẫn, nhìn Tư, rồi lắc đầu dịu dàng trả lời: "Sao lại thế được anh! Ba có quý anh, ba có thương yêu anh đến thế nào ba mới tặng cho anh chiếc nhẫn ấy. Dẫu là con đẻ, em cũng không thể làm sai ý nguyện của ba. Hơn nữa, lúc còn sống ba cũng đã từng coi anh như con đẻ thì có khác gì em đâu. Em cũng phải có bổn phận coi anh là người anh và em cũng mong ở anh một tình thương đáp lại". Nói rồi, Hằng đeo chiếc nhẫn vào tay cho Tư. Cô chưa vội buông tay anh ra mà cứ để nguyên như thế một lúc lâu trong tay mình. Hằng ngửng lên nhìn Tư, bắt gặp cặp mắt của Tư nhìn cô âu yếm. Ngoài sân, trời vẫn lất phất mưa và gió vẫn ngang tàng múa lượn. Bông hồng nhung nở bên lối đi khẽ rung rinh, long lanh những giọt nước như báo hiệu một mùa xuân tươi đẹp đang đến gần.

                                                                                                                                           NNC   

(20) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

TRANG VĂN BÈ BẠN - PHAN VĂN QUANG

 

 

PHAN VĂN QUANG

         Chuyện kể rằng, lúc sinh thời, Nhà thơ Huy Cận trong một lần vào thăm anh chị em Văn nghệ sỹ Quảng Trị, ông được mời đi ăn cháo cá ở một cái quán nhỏ. "Quán nhỏ nhưng cháo ngon!". - Huy Cận đã khen như vậy sau khi ăn hết bát cháo. Rồi khi biết chủ quán không phải ai khác mà  là một người làm thơ và hiện đang là Phân hội trưởng Phân hội Văn học của Hội Văn nghệ Quảng Trị thì Nhà thơ đã rất vui và quyết định...ăn thêm một bát nữa! Người đó là Phan Văn Quang.

           Phan Văn Quang sinh năm 1950 và hiện đang sinh sống tại Đông Hà - Quảng Trị. Chặng đường thơ của anh đã ngót nghét gần bốn mươi năm nay. Anh đến với thơ từ lúc còn rất trẻ và đã có thơ đăng báo ngay từ những ngày ấy. Sau này thơ anh xuất hiện trên nhiều Tạp chí Văn nghệ như: Cửa Việt, Sông Hương, Nha Trang, Văn nghệ Quân đội...Anh đã xuất bản ba tập thơ: TA ÔM MỘT NỬA ĐỜI LƯU LẠC - Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Trị năm 1993; MƯA NẮNG QUANH ĐỜI - NXB Văn hoá Dân tộc năm 1997; DẤU MÙA SE LẠNH - NXB Hội Nhà văn năm 2009. Ngoài ra anh còn có gần hai mươi tập thơ in chung với các tác giả khác.

           Thơ Phan Văn Quang nói như Nhà thơ Ngô Minh thì đó là: "Thứ thơ được chắt ra từ nước mắt và những đêm thức đối thoại với lòng mình; là thứ thơ nhặt được từ những cuộc lãng du đam mê và ngất ngưởng; là thứ thơ nhặt được từ những cuộc vật lộn giữa yêu thương và sinh tồn". Còn Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu thì lại cho rằng: "Thơ Phan Văn Quang có nhiều in dấu của vùng đất Quảng Trị năm tháng chiến tranh, gây ấn tượng trong lòng người đọc bởi những câu thơ giàu chất thực cuộc đời. Trong thơ anh có ngọn gió Đông Hà, có trầu xanh Phương Ngạn, có mùa hoa An Lạc và có cả vị nồng cay của hạt tiêu làng Cùa...".

           Riêng tôi, đọc thơ Phan Văn Quang tôi còn nhận ra ở thơ anh có những chiêm nghiệm rất sâu sắc trong cách nghĩ, cách cảm. Anh trải lòng mình trên từng câu thơ, trong từng bài thơ. Thơ anh lấp lánh một chút sắc thái của trí tuệ, hoà quyện trong cái dào dạt, mênh mông của tình cảm, vì thế thơ anh có chiều sâu về nội tâm. Thơ anh là sự rung động mãnh liệt của cõi lòng để làm bật lên những vần thơ. Chậm rãi nhưng chín chắn, dung dị nhưng chân thành, đó là phương pháp sáng tạo thơ của anh. Phan Văn Quang có những bài thơ mà người đọc thuộc lòng. Vâng, mỗi một người, trong cuộc đời làm thơ của mình, chỉ cần có được một bài thơ - một bài thôi - để người ta đọc và nhớ, rồi thuộc lòng...quả là điều không phải dễ và không phải ai cũng có được. Mến anh và quý trọng sự lao động nghiêm túc của anh đối với thơ, trong chuyên mục "Trang văn bè bạn" lần này tôi xin được giới thiệu một chùm thơ của Phan Văn Quang.

                                                                                                                     Nguyễn Ngọc Chiến

 

Ảnh PVQ
Phan Văn Quang (Ảnh N.N.C)

Đất khát

ThơPHAN VAN QUANG


Cổng đình làng quay ra mặt ruộng

Ngọn lúa trưa nồng tháng hanh khô

Ngút mắt chân trời nhoà nắng lửa

Bạc đáy ao bùn hoài gọi mưa.


Đất khát quê nghèo xơ xác lá

Đồi hoang đồng vọng một mùa sim

Tuổi thơ mê mải màu trái ửng

Chân chim cun cút đuổi nhau tìm.


Đất khát quay vòng - em đi miết

Nhủ lòng lỡ hẹn những mùa xa

Bàn tay vỡ nắng đất thành sạn

Bến bờ hiu hắt gió chiều qua.

PVQ


        Phong cảnh 1

Mảnh trăng qua mùa lũ

ThơPHAN VĂN QUANG


Vẫn sắc màu loáng bạc

Mảnh trăng ngoi mặt nước ao làng

Con nước rút mặt trời chưa ấm rể

Trái xanh buông từng nhịp điểm thời gian.


Đất nẫu lòng chênh dáng mẹ gian nan

Thân chuối úng nghiêng chiều quê lạc gió

Phù sa núi phủ bạc đầu ngọn cỏ

Bàn chân trần nứt nẻ dấu bùn non.


Đời làng và khúc sông con

Đêm mờ ảo lay ngọn đèn leo lắt

Chiếc lá - mẩu trăng vàng mẹ nhặt

Ngọn tre buồn lẳng lặng giữa đêm riêng.


Vẫn bền lòng bầu bạn hàn huyên

Mưa chuyển nắng xanh câu Kiều mẹ hát

Rồi sẽ đến những mùa vàng hẹn gặt

Cây trong vườn căng mật ngọt đầu xuân.

PVQ


              Phong cảnh 2

Vọng tháng giêng ngân

ThơPHAN VĂN QUANG


Một bước ngẩn ngơ lòng một bước

Những con đường mơ mộng đã qua

Sông cạn hỏi mạch nguồn đá thẫm

Có vô tình trong tháng năm xa.


Gốc phượng rũ dần bao mùa lá

Ngã sầu đông rắc tím đường hoa

Em chân thật - dáng người mảnh khảnh

Nhạt nhoà lối cũ - ngập ngừng qua.


Giữa cuộc đời sương trắng phôi pha

Đau đáu bờ cỏ non trước ngõ

Mắt chạm tàn cây xanh và gió

Trái ngô đồng rụng - bánh xe lăn.


Vẫn đeo đuổi ngày xưa xa ngái

Mịt mù sương khói - biệt mù khơi

Bến sông gọi dừng chân gội rửa

Một chút tình ngây dại đem phơi.


Phía chân trời có phải non mai?

Nên hoài mãi gọi dòng Thạch Hãn

Đêm Thành Cổ hình trăng viên mãn

Tiếng chuông trầm vọng tháng Giêng ngân.

PVQ   

Ảnh 2 người
Phan Văn Quang (bên phải) và Nguyễn Ngọc Chiến 

Hương quê

ThơPHAN VĂN QUANG


Qua cơn bão lũ mẹ về quê

Nước còn ngấp nghé ở chân đê

Bấm chân dìu mãi hương đồng đất

Đường trơn con gái cũng theo về.


Tháng Chạp chưa qua trời đủ rét

Aó troòng  mấy bận vẫn còn lo

Hong hanh nắng sớm vương đầu bãi

Thấp thoáng ngoài sông sải bóng cò.


Theo con lên phố - qua mùa lũ

Mẹ buồn hờn dỗi mấy ngày mưa

Mắt nheo nắng dậy qua ngàn gió

Thèm nhìn gốc chối - mảnh vườn xưa.


Ngày xuân sẽ đến - vài bữa Tết

Mẹ cười hóm hém tuổi chín mươi

Chào nhau lối xóm - mừng được tuổi

Miếng trầu đỏ thắm mãi đầu môi.

PVQ

(22) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

NỖI ĐAU CỦA MẸ - NNC

 

NỖI ĐAU CỦA

MẸ


NGUYỄN NGỌC CHIẾN

                                      

               Đến tuổi này, mẹ Nguyễn Thị Kiện không chỉ là thượng thọ nữa mà là đại thượng thọ. Mẹ quê ở làng Tùng - Vĩnh Linh, nơi có dòng sông Hiền chảy qua với tiếng sóng quanh năm dập dìu, êm ả. Chỉ còn hơn một năm nữa thôi là đời mẹ trải qua ba thế kỷ. Một trăm lẻ sáu tuổi tròn mẹ đã gánh trên đôi vai gầy của mẹ một gánh nặng thời gian với biết bao là chìm nổi, đắng cay, ngọt bùi của đời người.

           Tôi về thăm mẹ vào một chiều thu tiết trời dịu mát. Làng Tùng từ độ cao tươi rói đất ba zan xoãi chân ra triền cát bạc trắng, thanh thản, yên lặng giữa màu xanh cây trái, đẹp như một bức tranh làm say đắm lòng người. Và dòng sông Hiền ngay trước nhà mẹ như dãi lụa long lanh màu ngọc bích soi bóng hàng dừa giống hệt mái tóc người con gái làng Tùng buông xoã trong nắng chiều nhè nhẹ. Một người nào đó ở xa khi đến đây đã quá  yêu, quá say về gốc gác nguồn cội ngôi làng đã thốt lên gọi làng Tùng của mẹ là "làng nghệ sĩ". Bởi từ rất lâu rồi,  làng đã sinh ra nhiều nghệ sĩ mà tiếng tăm cùng dư âm về làn điệu hò mái nhì, mái đẩy còn vang bóng tới bây giờ.

Mẹ ngồi đó, bên chiếc giường gỗ giản dị, tay mân mê cơi trầu đưa mắt nhìn ra. Mắt mẹ ấm áp và cái nhìn mênh mông, sâu thẳm. Trò chuyện với tôi, tiếng mẹ nhỏ nhẹ, chậm rãi chỉ như cơn gió thoảng nghe mơ hồ, xa xôi. Qua người con trai của mẹ - ông Lê Văn Minh -  tôi được biết cách đây không lâu, ông Bí thư Tỉnh uỷ đã trực tiếp chuyển quà của Chủ tịch Nước đến cho mẹ. Nhận quà của Chủ tịch Nước mừng thọ, mẹ như lặng người đi. Một nỗi buồn vui dâng lên khiến mẹ thổn thức, nghẹn ngào. Chao ôi ! Sống đến tuổi này,   trải mấy chế độ, có chế độ nào mà sự quan tâm ưu ái với người già lại thấm đẫm tình thương như chế độ này - một chế độ chỉ duy nhất vì một mục đích cao cả là độc lập tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho mọi nhà; đến cả giấc ngủ yên lành cho em bé sơ sinh, tấm lụa ấm lòng cho người trăm tuổi.

 

                                                            Bà cụ

 

           Thuở trẻ, mẹ là một cô gái đẹp nhưng nhà mẹ nghèo và đời mẹ khổ. Ngày ấy, cả đất nước, quê hương này còn chìm trong bóng tối của chế độ thực dân phong kiến. Bọn Tây đóng đồn khắp nơi. Tiếng súng, tiếng mõ, tiếng trống...đổ hồi thúc giục. Cảnh đầu rơi máu chảy, chết đói, xin ăn,  tuyển lính, mộ phu...không ngày nào không xảy ra. Sông Hiền đã chứng kiến bao lần những cái chết thương tâm, những cuộc chia ly không có ngày đoàn tụ của những người dân đói cơm rách áo và sự hy sinh dũng liệt của các bậc sĩ phu sáng ngời hào khí. Dòng sông Hiền vốn yên ả mà cũng có lúc ầm ào nổi giận, muốn dâng thật cao ngọn sóng cuốn phăng tất cả bọn bán nước và lũ cướp nước. Bản thân mẹ khi vào tuổi đôi mươi cũng phải đâỳ ải tấm thân yếu liễu nơi cửa nhà người để làm thuê kiếm sống. Kham khổ, nhọc nhằn và cả đòn roi cứ tuần tự trôi với dòng nước mắt ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác. Đêm đêm, các kép hát làng Tùng tụ tập nhau lại, kẻ đờn, người ca. Tiếng hát chìm đi trong gió mưa tê tái, trong khổ ải trầm luân. Và từ trong tiếng hát ấy thỉnh thoảng lại vang lên lời kêu gọi đấu tranh hoặc ngân lên du dương những câu ca mượt mà về tình yêu, sự chờ đợi, ngày hạnh ngộ.

            Đói lòng ăn nửa trái sim.

            Uống lưng chén nước đi tìm người thương.

Câu hát  ghẹo của người trai làng đêm ấy đi vào lòng mẹ và mẹ đã đem lòng thương yêu người trai làng ấy. Đó là hạnh phúc lớn nhất của đời mẹ trong suốt quãng đời nô lệ. Chồng mẹ - ông Lê Văn Hiểu - một vạn chài cũng nghèo khổ như mẹ: không lưới, không thuyền, tài sản duy nhất là túp lều nhỏ chông chênh bên bờ sông Hiền. Được cái ông mạnh khoẻ, nước da săn quắn, ngực nở như ngọn sóng, ăn mấy cũng không no, làm mấy cũng không mệt. Những vạn chài có thuyền lớn đi biển thường vẫn thuê ông trong những lần ra khơi vào lộng. Cuộc sống tuy lầm than, khổ ải nhưng tình nghĩa vợ chồng mẹ không vì thế mà thiếu vắng hạnh phúc. Rồi một hôm vào năm đói bốn lăm chồng mẹ lại ra khơi và không bao giờ trở về nữa. Ông đã chết vì sóng to gió lớn làm đắm thuyền khi đang hành nghề trên biển. Mẹ nén lại nỗi đau, ở vậy, chống chèo nuôi con. Thế rồi cách mạng Tháng Tám nổ ra. Bầu trời như rộng thêm ra, trong xanh hơn. Sông Hiền cũng quẫy mình chào đón. Mẹ hồ hởi cùng cả làng, cả tổng nổi dậy xuống đường gương cao cờ đỏ búa liềm cướp chính quyền dành độc lập tự do. Chưa bao giờ làng Tùng quê mẹ có được không khí đông vui, náo nhiệt, cờ hoa...như thế. Người nghèo khổ bỗng chốc trở thành người làm chủ xóm thôn. Bọn tay sai, cường hào bị trừng trị. Thuyền bè đi lại tấp nập trên sông. Điệu hò mái nhì mái đẩy theo sóng gió vút lên cao....Cuộc sống của người nông dân, ngư dân sau gần một trăm năm rên xiết trong xiềng gông nô lệ đã bắt đầu như cánh chim sổ lồng tung bay trên nền trời tự do.

Nhưng độc lập chưa được bao lâu thì kháng chiến lại nổ ra. Đất nước một lần nữa chìm trong khói lửa đạn bom kẻ thù. Cả dân tộc nhất tề đứng dậy quyết sống mái với bọn cướp nước. Làng Luật cũng đứng dậy lập ra các đội vũ trang đánh địch. Mẹ động viên những người con lớn của mẹ tham gia kháng chiến. Và họ đã tình nguyện gia nhập lực lượng dân quân tự vệ chiến đấu giữ làng.

            Tin chiến thắng từ mặt trận như ngọn gió lành lan nhanh về làng Tùng. Mẹ tham gia Hội phụ nữ cứu quốc ngay từ những ngày đầu kháng chiến, kêu gọi chị em lập "hủ gạo nuôi quân" đánh giặc, chăm sóc thương binh, động viên người ra trận. Nhờ sự quan tâm của các mẹ, các chị mà bộ đội và dân quân tự vệ có thêm sức mạnh, ngoan cường đánh giặc. Bọn Tây ở đồn Cửa Tùng cay cú lắm! Một lần chúng cho bọn Việt gian về làng bắt mẹ đưa xuống đồn tra khảo, dụ dỗ: "Bà muốn sống yên ổn thì hãy khuyên con bà và đồng ngũ của nó từ bỏ hàng ngũ Việt Minh..." Mẹ đã điềm tĩnh trả lời chúng: "Nó là con tui nhưng nó có trí khôn của nó, nó theo ai hay bỏ ai là quyền của nó, tui già rồi biết chi...". Chúng tống giam mẹ hơn bảy tháng mới thả về. Ra tù mẹ lại tiếp tục hoạt động. Địch lại bắt mẹ giam thêm ba tháng nữa. Thời kỳ này, chiến tranh rất ác liệt. Bọn Tây tổ chức nhiều cuộc càn quét, ruồng bố, nhằm tiêu diệt các lực lượng kháng chiến của ta. Con trai đầu của mẹ - anh Lê Văn Kiểu - một du kích gan dạ, dũng cảm từng là xã đội phó, đã chỉ huy đơn vị giáng cho địch nhiều trận thất điên bát đảo. Tên anh cùng tập thể đơn vị luôn luôn là nỗi lo sợ, kinh hoàng của chúng. Vậy rồi, trong một trận chiến đấu không cân sức, con trai mẹ - anh Lê Văn Kiểu đã anh dũng hy sinh. Nỗi đau mất con như một nhát dao cứa vào lòng mẹ, nhưng mẹ lại tự hào vì con bởi con mẹ đã làm được cái việc vì dân vì nước ấy. Nỗi đau riêng của mẹ hoà vào nỗi đau chung của cả làng, cả xã khi Tây ập về làng vây bủa rồi bắn chết ông Hoàng Cường, Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến Hành chính xã. Chúng cho chặt đầu ông cắm cọc phơi mấy ngày ở bờ sông để uy hiếp dân làng. Mẹ đau đớn tưởng như đứt từng khúc ruột cùng dân làng đấu tranh với địch, lấy được thi thể ông đem về an táng. Phong trào cách mạng tuy có tổn thất nhưng không vì thế mà lắng xuống. Và, một người ngã xuống lại có nhiều người đứng lên. Càng căm thù bọn cướp nước thì ý chí chiến đấu càng sục sôi mãnh liệt. Những người con còn lại của mẹ, noi gương người anh, đã tiếp tục đứng vào hàng ngũ những người chiến đấu cho đến ngày kháng chiến thắng lợi.

 

                                                         Tượng

 

            Pháp cút, Mỹ nhảy vào miền Nam. Một nửa đất nước thân yêu lại một lần nữa chồng chất lên những nốt dày đinh của bọn xâm lược. Dòng sông Hiền quê mẹ trở thành nơi phân chia đất nước, trở thành chỗ "ngày nhớ đêm mong" của nhân dân hai miền Nam - Bắc. Cái làng Tùng của mẹ ở bên này bờ Bắc, như một ngực người vạm vỡ, ưỡn ra, chia lửa với miền Nam "đi trước về sau". Các con của mẹ một lần nữa xa vòng tay mẹ, lên đường chiến đấu. Anh Lê Văn Mẫn, chị Lê Thị Gia vào bộ đội, anh Lê Văn Minh, Lê Văn Quốc vào du kích. Mấy lần mẹ tiễn con lên đường là mấy lần mẹ âm thầm giấu đi những giọt nước mắt chực trào ra để con mẹ vững bước lên đường. Hằng đêm trong căn nhà tranh gió lùa nơi sơ tán, mẹ trăn trở, thao thức không ngủ được. Mẹ ao ước nước nhà mau chóng hoà bình thống nhất để các con mẹ trở về quây quần bên mẹ. Mỗi một ngày mẹ đau đáu nhìn qua khung cửa lòng thầm mong một tiếng gọi "mẹ ơi!" từ đâu đó vang lên. Nhưng đất nước chưa kịp thống nhất thì hai người con của mẹ, anh Lê Văn Mẫn và anh Lê Văn Quốc đã vĩnh viễn nằm lại ở chiến trường. Một anh hy sinh ở mặt trận Gio Linh khi tấn công lên cao điểm Dốc Miếu. Một anh ngã xuống ngay trong lòng đất quê hương khi đang bắn trả máy bay địch. Nhận được tin, mẹ không khóc được nhưng nỗi đau thì cứ nhói lên trong lòng. Chỉ đến ngày nghe tin miền Nam hoàn toàn giải phóng, mọi người đổ ra đường mừng chiến thắng, rồi cô con gái út thương tích đầy mình trở về, mẹ mới như người sực tỉnh một cơn mơ, chạy ùa ra ôm chầm lấy con gái và nức nở khóc. Những giọt nước mắt cả mừng tủi lẫn thương đau được tích tụ dồn nén bấy nay như con suối được khơi thông bỗng ùa ra không thể gì ngăn nổi.

 Về làng Tùng thăm mẹ chiều nay, được tận mắt chứng kiến những đổi thay kỳ diệu ở một làng chài bé nhỏ, nơi mẹ đã sinh thành và gắn trọn cuộc đời hơn một thế kỷ qua, tôi cảm thấy lòng tôi bồi hồi xao xuyến. Tình đất, tình người, tình sông, tình bể nơi đây sao ấm cúng lạ kỳ. Tôi muốn  dừng lại thật lâu ở bờ sông để ngắm mãi tượng đài kỷ niệm Bến đò B sừng sững, uy nghiêm ghi bao chiến công của quê hương một thời anh dũng đánh giặc. Tôi muốn lần dở hoài những trang sổ truyền thống của làng. Và tôi muốn ngồi mãi với mẹ. Tôi mừng vui vì thấy mẹ tuổi tuy cao nhưng ít ốm đau và chưa bao giờ nhầm lẫn. Ai là người làng đến thăm mẹ, mẹ đều nhận ra, và khi vui mẹ có thể ngồi tỉ tê cả buổi. Suốt những năm tháng tuổi già, ngoài tình thương của con cháu mẹ, mẹ còn nhận được sự quan tâm, chăm sóc của láng giềng và chính quyền đoàn thể. Tôi nghĩ đây chính là liều thuốc cần thiết giúp mẹ vơi bớt nỗi cô đơn, hiu quạnh để có một tinh thần vui vẻ trong những ngày cuối đời.

Tạm biệt mẹ - Bà mẹ trăm tuổi. Tạm biệt mẹ - Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, tôi thầm chúc mẹ bước qua năm mới sống thêm nhiều năm nữa giữa những tri ân, nghĩa tình.

                                                                                                                                  N.NC

                                                                                                                                                   (Bài viết này không mới nữa và người mẹ cũng không còn nữa! Đây chỉ như là một nén hương tưởng nhớ mẹ - Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; tưởng nhớ các Anh hùng - Liệt sỹ...nhân ngày 27.7 năm nay)

(12) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

MIỀN KÝ ỨC KHÔNG PHAI MỜ - NNC

 

Miền ký ức                                                                                                    KHÔNG PHAI MỜ

Bút ký

NGUYỄN NGỌC CHIẾN

 Anh vừa vượt chặng đường hơn năm trăm cây số từ Hà Nam vào Quảng Trị. Ngoài tình cảm là anh trai vợ và cậu ruột(1) các con tôi thì chuyến vào Quảng Trị lần này của anh còn được xem như là một chuyến hành hương trở về với cội nguồn, trở về với chiến trường, trở về với dấu cũ người xưa. Vợ tôi mừng ra mặt, vẫn làm bộ trách khéo anh trai: "Năm chín lăm anh cũng hẹn. Năm chín sáu anh cũng hẹn mà mãi tới tận năm nay anh mới vào. Anh vào e...". Anh cười hiền lành: "Hẹn thì hẹn thật đấy nhưng rồi cả trăm thứ việc không tên cứ níu chân mình lại, có phải lúc nào cũng dứt ra mà đi được đâu các em".

Phần tôi chỉ thấy mừng. Và nỗi mừng lớn nhất xin dành cho anh - người cựu chiến binh đã thực hiện được ước mơ nhỏ bé của đời mình. Vâng, đúng thế ! Mảnh đất nơi đây, con người nơi đây gần ba mươi năm trước là những năm tháng lửa đạn, thương đau nhưng lại là những năm tháng đẹp đẽ nhất, ghi lại nhiều dấu ấn nhất trong cuộc đời anh. Đôi bờ sông Bến Hải, miền tây Gio Linh, Vĩnh Linh, Đường Chín, Khe Sanh, Thành Cổ Quảng Trị...và biết bao địa danh thân thuộc khác trên mảnh đất Quảng Trị thân thương này, anh đã từng sống, từng lăn lộn cùng đồng đội chiến đấu suốt cả quãng đời trai trẻ. Và cũng đã gần ba mươi năm qua, trở về với một cương vị công tác khác nơi quê hương xứ sở, nỗi nhớ mong khắc khoải vẫn hằng thôi thúc anh, để mãi đến hôm nay mới thực hiện được lời ước hẹn.

 

                                               Ảnh NTLSTS

 

           Anh tha thẩn quanh quả đồi sau làng, phóng mắt nhìn dòng Bến Hải uốn cong hình lưỡi liềm trước mặt, cầu Hiền Lương trắng bạc như vành trăng khuyết, những dãy đồi núi nhấp nhô, mờ ảo ở phía tây hai huyện Vĩnh Linh, Gio Linh. Rồi cuối cùng anh đi vào nghĩa trang liệt sĩ xã. Anh dừng lại trước những hàng bia mộ trắng, uy nghiêm như hàng quân năm nào trước giờ xuất trận. Đây là một trong những nghĩa trang liệt sĩ cấp xã lớn nhất tỉnh Quảng Trị. Và trong số trên một ngàn người con của Tổ quốc nằm lại nơi đây có hơn một nửa là con em các tỉnh Hà Nam, Thái Bình, Hưng Yên, Hà Bắc... thuộc châu thổ sông Hồng quê hương anh. Nhẩm đọc những dòng chữ trên bia mộ, anh nhận ra có người cùng nhập ngũ với anh một năm, có người cùng huyện, có người cùng đơn vị. Nước mắt anh trào ra. Đôi vai anh rung lên. Hơn năm mươi tuổi đời, từ một người lính trận mạc trở về rồi học tập, phấn đấu để trở thành một kỹ sư nông nghiệp giỏi của huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, nay vào thăm lại chiến trường xưa, có lẽ lúc này đây, trong cái khuôn viên nhỏ bé nhưng hiện hữu sự hy sinh to lớn này, lần đầu tiên anh đã để cho nước mắt mình tuôn chảy tưới ướt mộ đồng đội.

          

 

Chiều nghĩa trang liệt sĩ, mây trời lung linh mờ ảo. Những ngọn gió mơn man từ hướng tây thổi tới càng làm cho những nén nhang rực lên tràn ngập hương thơm. Cây phượng già vốn đã oằn lưng tỏa bóng mát cõi vĩnh hằng, giờ càng được dịp cúi mình xuống, vươn hết thân cành như những bàn tay âu yếm vuốt ve từng nấm mộ. Tôi đã đến nhiều nghĩa trang liệt sĩ, từ nghĩa trang cấp quốc gia đến nghĩa trang cấp xã, cấp thôn trên đất Quảng Trị quê tôi. Và mỗi lần có mặt ở các nghĩa trang liệt sĩ là mỗi lần tôi chứng kiến những trận mưa nước mắt. Nước mắt của người mẹ Gia Viễn - Ninh Bình vào thăm mộ con. Nước mắt của người chị Hưng Hà - Thái Bình vào tìm mộ chồng. Nước mắt của vị Chủ tịch Duy Tiên - Hà Nam trên đường đi công tác ghé qua thắp hương cho bạn cũ. Và lần này là nước mắt của anh - cậu ruột của các con tôi. Ôi! Kể sao cho hết những người mà tôi đã gặp và những giọt nước mắt mà tôi đã chứng kiến. Thì ra đất Quảng Trị yêu dấu này không chỉ lắm bom nhiều đạn mà còn chút ân tình này nữa là nước mắt phải chăng? Vâng! Không hiểu sao tôi cứ hình dung trên từng mỗi mét vuông đất Quảng Trị lại tự hào, hãnh diện, nhưng cũng vô cùng thương cảm vì được chứa đựng ít nhất là một giọt nước mắt của con Lạc cháu Hồng. Đất Quảng Trị đã từng thấm máu người ra trận. Đất Quảng Trị lại một lần nữa đầm đìa nước mắt của niềm vui chiến thắng, đoàn tụ, xót xa. Hai mươi mấy năm rồi nước mắt vẫn lặng lẽ tuôn ra từ bao khoé mắt và không biết tới bao giờ nước mắt mới ngừng rơi trên hình hài rẻo đất vốn chịu nhiều đau thương nhưng tuyệt vời anh dũng này. Xin được ngàn vạn lần quý trọng và biết ơn những giọt nước mắt của người bốn phương còn lẫn trong đất đai, sông núi Quảng Trị dành cho người hy sinh vì đại nghĩa.

             Trong những ngày anh lưu lại Quảng Trị, tôi đã đưa anh đến những địa danh anh cần đến: Đôi bờ Hiền Lương, Ái Tử, Triệu Phong, Nam Đông, Thành cổ Quảng Trị...Nơi nào anh cũng thiết tha mong gặp lại. Nhưng thời gian đã vời vợi cách xa. Vật đổi sao dời, dấu cũ còn đó mà người xưa đâu rồi ? Đâu rồi bà mẹ Gio An với bát nước chè xanh đậm đặc và nồi sắn luộc bở xoe, đêm công đồn, mẹ đón các anh trở lại ? Đâu rồi những em gái du kích Triệu Trạch, Triệu Giang xinh đẹp và dũng cảm, gian khổ nhiều mà nụ cười vẫn rộn rã trong trăng? Đâu rồi bác lái đò Triệu Thượng đêm ngày đưa bộ đội sang sông Thạch Hãn? Và đâu rồi những người đồng đội thân yêu từng chia sẻ cùng nhau cả lá thư nhà từ hậu phương gửi vào? Đâu rồi? Đâu rồi? Chỉ còn lại trên những địa danh thân thuộc ấy là những dấu cũ không phai mờ. Một cây đa làng. Một bến đò xưa. Một con đường nhỏ. Tất cả vẫn còn đó, hơn hai mươi năm rồi mà vẫn còn in đậm nét trong anh và biết bao cựu chiến binh khác khi hành hương về Quảng Trị thăm lại chiến trường xưa.

           Quảng Trị quê hương tôi trong tâm tưởng của bè bạn gần xa, mỗi tên đất, tên làng đã từ lâu  trở thành quen thuộc. Nhưng với người ra trận, ai từng đi qua đây, bám trụ lại đây thì những tên đất, tên làng ấy lại được đẩy lên cao hơn, nó vừa là kỷ niệm thuộc về cõi tâm linh lại vừa là dấu ấn hằn sâu trên từng cơ thể mỗi người. Tôi không biết phải lý giải điều này thế nào cho trọn vẹn. Nhưng hôm nay đi bên anh - người lính về thăm lại chiến trường xưa - được "mục sở thị" vẻ háo hức, khấp khởi xen với nỗi xót xa quặn thắt ở anh, tôi bỗng thấy trân trọng vô bờ bến khi nghĩ về hàng chục vạn người con khắp mọi miền đất nước còn nằm lại nơi đây. Hình như máu họ vẫn còn đó ngày ngày thấm đỏ trên từng cành cây ngọn cỏ, trên từng dòng sông, mảnh vườn, thửa ruộng của đất đai Quảng Trị này.

 

                                                              Ảnh TCQT

 

          

 

Tôi nhớ hôm đưa anh lên Hải Cụ, một địa danh bé nhỏ ở phía tây huyện Gio Linh nhưng rất đỗi thân thiết với bất cứ người lính ra trận nào. Và bây giờ đã gần ba thập kỷ trôi qua, các cựu chiến binh vẫn nhớ đến Hải Cụ như là một cái đích xuất phát của những binh đoàn. Đất Hải Cụ đã in đậm dấu chân của hàng chục vạn người lính tiến lên phía trước trong trận chiến đấu cuối cùng để giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc. Anh đứng trầm ngâm bên tấm bia tưởng niệm do bộ đội Trường Sơn dựng tạm ngay chính chỗ ngày xưa đặt "đại bản doanh" Bộ Tư lệnh đoàn 559 anh hùng. Vẻ mặt anh đăm chiêu và đôi mắt anh ngấn lệ. Tôi đâu hiểu được rằng chính tại quãng sông Bến Hải này vào một ngày cách đây gần 30 năm, đơn vị anh đã vượt qua, đi sâu vào chiến trường. Hai người bạn đồng hương của anh cùng một quê Lý Nhân (Hà Nam) là Tính và Bảo đã sau đó hy sinh tại mặt trận Thành cổ Quảng Trị, không tìm được xác. Hai anh còn lẫn khuất đâu đó trong lòng đất quê hương, hay đã được đưa vào một nghĩa trang liệt sĩ nào đó mà chẳng ai một dòng tên tuổi? Nhưng biết đâu rồi sẽ có một ngày, hai người bạn này cũng sẽ giống một người bạn khác của anh là Trương Bách Chữ. Anh Chữ cũng chiến đấu và hy sinh ở chiến trường Quảng Trị nhưng thân xác anh nằm ở nơi nào thì không ai được biết. Mãi sau này, một cán bộ du kích xã Triệu Long, trong khi di dời một ngôi mộ liệt sĩ từ vườn nhà vào nghĩa trang đã tìm thấy tên anh cùng quê hương bản quán. Người du kích này đã sốt sắng viết ngay thư gửi ra Hà Nam báo tin cho gia đình liệt sĩ Trương Bách Chữ. Và thế gia đình liệt sĩ sau bao năm tìm kiếm mộ người thân trong vô vọng đã vui mừng xúc động vào ngay Quảng Trị đưa hài cốt người thân của mình về quê. Đảng uỷ, Uỷ ban nhân dân xã Triệu Long đã đứng ra tổ chức lễ cất bóc cùng gia đình. Yêu quý biết bao những tấm lòng và nghĩa cử cao đẹp như thế đối với các liệt sĩ và người thân của họ! Trong cuộc chiến đấu một mất một còn với kẻ thù xâm lược, có biết bao là trường hợp còn lẫn khuất, vô danh trong lòng đất Quảng Trị. Và người thân của họ vẫn hàng chục năm qua mòn mỏi ngóng chờ. Đau xót lắm! Hai mươi mấy năm rồi, anh thầm mong hai người bạn thân thiết của anh cũng như bao đồng đội khác sẽ gặp được cơ may như thế.

           Anh lặng lẽ đi xuống bờ sông. Sông Bến Hải vào mùa hạ, đoạn thượng nguồn này chỉ nhỉn hơn con suối nhưng nước ngọt và trong xanh đến lạ lùng. Anh ngồi trên tảng đá kể cho tôi nghe bao kỷ niệm về đồng đội, về dòng sông cùng những chiến công mà anh và đồng đội từng trải. Những đồi tràm hoa vàng năm năm tuổi toả bóng mát cho cả đôi bờ và lòng sông; tiếng lục lạc leng keng từ đàn bò gặm cỏ; màu lúa chín vàng rực và bóng dáng những người đàn ông Vân Kiều lầm lũi, thấp thoáng trong nắng chiếu óng ánh. Phong cảnh thanh bình, yên ả vậy nhưng câu chuyện anh kể lại kéo tôi về một cõi hư vô đầy sục sôi lửa đạn. Thuở ấu thơ đi học và khi khôn lớn trưởng thành được vinh dự làm người lính, rồi cũng xông pha trận mạc, đổ máu bao phen, có bao giờ tôi hình dung một cuộc chiến tranh mà trong đó sự phi nghĩa và sự chính nghĩa; sự tầm thường và sự vĩ đại lại hiện ra một cách cụ thể, gọn ghẽ như chính những lời thủ thỉ rất đỗi mộc mạc, chân tình của anh lúc này. Phải chăng muốn thấy sự vĩ đại, lớn lao của dân tộc trong đấu tranh giữ nước một phần không nhỏ là tìm trong sự dũng cảm nhưng giản dị, khiêm nhường của những người đã trực tiếp cầm súng chiến đấu?

Mai ngày trở lại Hà Nam, vùng đất Sơn Nam Hạ văn hiến, quê hương cụ Tam Nguyên Yên Đổ hẳn là anh sẽ một lần nữa nhớ thương da diết mảnh đất này. Cái mảnh đất ở giữa lòng đất nước, nhỏ hẹp, eo thắt như cái đòn gánh, gánh hai đầu nỗi thương đau, niềm chiến thắng của dân tộc. Và cũng một lần nữa anh hiểu thêm về Quảng Trị này, rằng cả thế kỷ qua, đất và người nơi đây chưa một giây phút được yên ấm, ngơi nghỉ. Hết ĐỎ máu người ra trận nhuộm thắm bởi giặc ngoại xâm, giờ lại HỒNG máu người xây dựng thấm đẫm vì hoạ thiên tai, vì bom mìn còn sót lại. Tất cả cũng chỉ vì một mục đích cao cả là độc lập tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho mọi người. Như quê hương anh một thời đồng trũng "chiêm khê mùa thối" cơ cực mà cụ Nguyễn Khuyến bao lần thốt ra trong thơ cụ với mong ước đất Sơn Nam Hạ sẽ có lúc được đổi thay như ngày hôm nay. Quảng Trị một mai rồi cũng như thế. Phải không anh ?

 

                          Ảnh chụp trại ST 

Trại sáng tác Tổng cục Chính trị chụp ảnh lưu niệm tại NTLS Trường Sơn (Có các Nhà văn Bùi Thanh Minh, Đoàn Hữu Nam, Nguyễn Đình Tú, Vân Hạ, Bùi Như Lan...) Nguyễn Ngọc Chiến ngồi hàng đầu bên trái.

 

Tìm về dấu cũ người xưa là tìm lại những kỷ niệm quá khứ của đời người. Quảng Trị là miền ký ức không bao giờ phai mờ. Có đẹp đẽ sáng trong như trăng rằm. Có yêu thương ngọt ngào như sữa mẹ. Và, có cả đắng cay - nhức buốt - thắt ruột - bầm gan. Mỗi một quá khứ đều có thể hội đủ những nỗi niềm riêng tư  sâu kín ấy. Và với anh - người cựu chiến binh từ Hà Nam vào Quảng Trị, thăm lại chiến trường xưa, qua những ngày chung sống bên anh, tôi đã thầm đọc được trong anh chứa chan tất cả mọi nỗi niềm. Cũng như con sông Bến Hải và cây cầu Hiền Lương quê tôi; sông không rộng, không dài; cầu không to không đẹp, nhưng trong lòng sông và hai đầu cầu là cả một đoạn trường...

                                                                                                  NNC


(1) Ở các tỉnh miền Trung trở vào anh trai hay em trai của mẹ đều được gọi là cậu

(22) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

TRANG VĂN BÈ BẠN - LÊ VĂN

LÊ VĂN

         Sinh năm 1951 tại Thạch Hà - Hà Tĩnh. Hiện là Giảng viên Trường Đại học Hà Tĩnh. Trong kháng chiến chống Mỹ, Lê Văn từng là bộ đội có mặt tại chiến trường Trị - Thiên suốt trong những năm tháng ác liệt nhất của cuộc chiến tranh. Sau ngày đất nước thống nhất, Lê Văn trở lại quê hương tiếp tục học Đại học và từ ấy đến nay anh gắn bó một mạch hơn ba mươi năm với sự nghiệp trồng người. Những năm trong quân ngũ, được tôi luyện, thử thách trong chiến đấu; được chứng kiến những hy sinh, mất mát lớn lao của đồng đội, đồng bào đồng chí...trở lại với cuộc sống thanh bình ngày hôm nay, từ những trang nhật ký chiến trường, Lê Văn đã đúc kết và viết nên cuốn hồi ký "MỘT THỜI LÍNH TRẬN". Cuốn hồi ký đã được Nhà xuất bản Công an Nhân dân ấn hành vào năm 2005. Vinh dự hơn "MỘT THỜI LÍNH  TRẬN" của Lê Văn đã được chọn là một trong những cuốn sách nằm trong tủ sách "Mãi mãi tuổi hai mươi".

         Hiện giờ Lê Văn vẫn đang hăm hở viết. Và những trang viết của anh dù ở thể loại nào, bút ký hay truyện ngắn thì nội dung vẫn là những năm tháng chiến tranh, là đồng đội, bạn bè - những người đã một thời cùng anh xông pha trận mạc. Mới đây, Lê Văn vừa có chuyến trở lại Quảng Trị, thăm chiến trường xưa, nơi anh đã từng sống, chiến đấu thời trai trẻ; thăm Nghĩa trang Liệt sỹ Trường Sơn và đã có một bài bút ký rất xúc động ghi lại chuyến đi này. Nhân ngày Thương binh Liệt sỹ 27.7 năm nay tôi xin được giới thiệu bài bút ký này của tác giả Lê Văn. Nguyễn Ngọc Chiến

 

Ảnh chân dung Lê Văn

Lê Văn

ChốnLinhThiêng

của LÊ VĂN

        Điểm cuối cùng trong lộ trình tham quan của chúng tôi là viếng Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn. Xe đang chạy theo đường Chín, ngược ra phía bắc. Lần đầu tiên tôi trở lại đường Chín - con đường huyền thoại trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước; con đường gắn liền với chiến công oanh liệt của quân và dân ta trong cuộc phản kích đập tan cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của Mĩ - nguỵ  vào mùa xuân 1971. Ba mươi sáu năm trước, tôi đã nhiều lần hành quân trên con đường này. Ngày đó, đường Chín là con đường đất đỏ, rộng chừng mười lăm mét. Ngày tôi hành quân trên con đường đó, vùng đất này không còn ác liệt, không còn những trận đánh dữ dội như hồi năm bảy mươi, bảy mốt. Giờ đây, đường đã được nâng cấp, thảm nhựa thật rộng rãi, khang trang. Tôi cố nhìn sang hai bên đường, hi vọng tìm lại dấu tích của chiến tranh còn sót lại, để nhớ về những kỉ niệm của một thời trai trẻ từng gắn bó với con đường. Không còn nữa, chiến tranh đã trôi qua mấy chục  năm rồi, chẳng còn gì là dấu tích.

        Chúng tôi đến Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn vào một buổi trưa. Hầu hết, đây là lần đầu viếng nghĩa trang nên tôi và nhiều người không hình dung được địa thế, quang cảnh của nghĩa trang. Qua tìm hiểu các cán bộ, nhân viên quản trang, chúng tôi được biết: Nghĩa trang được xây dựng tại  Bến Tắt, thuộc địa phận xã Vĩnh Trường, huyện Gio Linh, nằm trên ba quả đồi cạnh thượng nguồn sông Bến Hải, là nghĩa trang có quy mô lớn nhất Việt Nam; có kiến trúc, bố cục độc đáo, không giống đa phần các nghĩa trang liệt sĩ khác. Khu trung tâm nằm trên ngọn đồi cao trên ba mươi mét, nơi đặt đài tưởng niệm bằng đá trắng cao vút uy nghiêm, thể hiện cho sự mất mát đau thương vô cùng. Bốn khu đặt mộ liệt sĩ được xếp theo tỉnh, thành phố nằm rải trên năm quả đồi. Mỗi khu đều có nhà tưởng niệm với kiến trúc phảng phất hình ảnh các vùng quê đất nước. Xen kẽ giữa các khu mộ là những cánh rừng. Những con đường nối các khu mộ được láng nhựa phẳng lì, chạy uốn lượn mềm mại theo các bình độ của những quả đồi cao thấp. Hai bên đường có những chiếc ghế đá, nhìn thật thơ mộng. Tất cả rợp bóng cây xanh, hương hoa rực rỡ. Ở hai bên đường và xen kẽ ở các khu mộ thấp thoáng nhiều nhóm tượng đài: tượng bà mẹ tiễn con ra mặt trận, tượng tuổi trẻ hành quân ra chiến trường, tượng bà mẹ Lào buộc chỉ đỏ vào tay anh bộ đội, tượng cô gái Vân Kiều tải đạn ra chiến trường, tượng cô thanh niên xung phong đang chữa đường ống xăng dầu...Ở trước nghĩa trang có một hồ rộng, chính giữa có một gò nổi cũng có hai tượng: tượng anh lái đò tải đạn trên sông và tượng cô gái giao liên nằm trên cánh võng. Tất cả các tượng này đều đúc bằng đồng. Ở trung tâm nghĩa trang có sáu phù điêu bằng đá tạc hình ảnh của các binh chủng của bộ đội Trường Sơn. Tại thời  điểm này, ở đây có trên10.300 phần mộ liệt sĩ, được chia thành nhiều khu vực mang tên các địa phương: Hà Nội, Bình Trị Thiên, Hà Nam Ninh, Hà Sơn Bình, Hải Hưng, Thái Bình, Hà Bắc, Nghệ Tĩnh, Thanh Hóa, Quảng Ninh, Vĩnh Phú, Hải Phòng, Cao Bằng, Hoàng Liêm Sơn, Hà Tây... 

 

                                                               Ảnh tại nghĩa trang LSTS

 

         Trong không khí tĩnh lặng, giữa bạt ngàn của núi rừng là hàng ngàn ngôi mộ liệt sĩ có danh và vô danh nằm đấy đến tận thiên thu trong lòng đất mẹ. Dãy Trường Sơn xanh mờ phía xa, nơi các anh, các chị tựa lưng nằm ngủ, một giấc ngủ vĩnh hằng, ung dung tự tại sau khi đã hiến dâng tuổi thanh xuân tươi đẹp nhất cho độc lập, tự do của dân tộc. Nỗi đau và niềm tự hào của chúng tôi cứ đan cài vào nhau lặng lẽ, ngậm ngùi... Tôi đã đi qua cuộc chiến tàn khốc ấy, nhưng giờ đây đứng trước hàng ngàn ngôi mộ liệt sĩ, tôi thấy lòng buồn se sắt. Những hình ảnh đau thương cứ hiện về trong tâm trí, dẫu tôi đã cố kìm nén cảm xúc của mình. Bên tai nghe như có tiếng những người dưới mộ đang xầm xì một điều gì đấy. Họ đang vui đùa với tuổi đôi mươi của mình hay đang nói gì với tôi chăng? Xin các anh, các chị hãy tha lỗi cho tôi. Không biết vì chúng nó bắn tồi, hay vì bom đạn chúng nó chừa tôi ra. Tôi có lẩn trốn một trận đánh, một lần bám chốt nào đâu. Đã bao nhiêu lần, tôi cũng bị bom pháo vùi dập ở các điểm cao cách đây không xa đấy thôi. Phải chăng số phận đã ưu ái với tôi. Nếu không, biết đâu tôi cũng đã yên nghỉ nơi đây cùng các anh, các chị. Trong hàng ngàn phần mộ ở nghĩa trang, chắc chắn sẽ có mộ bạn tôi - những người đã cùng tôi tham gia các trận chiến ác liệt, hay giữ chốt dưới bom pháo dày đặc của kẻ địch năm xưa ở chiến trường miền tây Thừa Thiên. Dương ơi, Hợp ơi, Liên ơi, Sận ơi!... Các bạn có được về nằm ở đây không? Nếu có, các bạn hãy chỉ nơi yên nghỉ của mình để tôi thắp cho các bạn một nén hương.
        Anh lái xe chở chúng tôi chạy thẳng đến khu mộ các liệt sĩ tỉnh Hà Tĩnh. Vì thời gian quá ít, không viếng hết được tất cả các khu mộ trong nghĩa trang nên tôi không thể tìm tên các bạn mình đã hi sinh. Trong khu mộ các liệt sĩ quê Hà Tĩnh, tôi tìm Dương, bạn tâm giao của tôi, trên tấm bia đá ở cạnh tượng đài, dẫu biết rằng tìm Dương là một điều vô vọng. Trên đó, tên liệt sĩ được xếp theo huyện và theo vần ABC nên rất dễ tra tìm. Trong phần tên liệt sĩ quê ở Đức Thọ, không có Võ Thanh Dương. Vậy là Dương đã vĩnh viễn nằm lại dưới chân dãy Sơn La ở miền tây Thừa Thiên với hàng trăm đồng đội của tôi. Nhìn cảnh nghĩa trang uy nghiêm, nhìn cảnh mọi người thành kính thắp hương lên các phần mộ, tôi chạnh lòng khi nghĩ về các bạn chiến đấu của mình đã hi sinh, họ đang quạnh quẽ trong những cánh rừng ở miền tây Thừa Thiên. Biết đến bao giờ họ được về nằm đây cùng đồng đội?

 

Ảnh tại nghĩa trang LSTS

 

         Làm lễ dâng hương tưởng niệm ở tượng đài và thắp hương ở các phần mộ của khu mộ liệt sĩ Hà Tĩnh xong, chúng tôi ngược trở ra khu mộ có tượng đài chính của nghĩa trang để dâng hương. Chuyến viếng thăm nghĩa trang liệt sĩ không chỉ có những điều đáng viết về quang cảnh của nghĩa trang, về cảm xúc trong mỗi con người mà còn chuyện hi hữu chúng tôi được chứng kiến. Hầu hết đã nghe nhiều, đọc nhiều về chuyện tâm linh li kì việc tìm mộ liệt sĩ thông qua các nhà ngoại cảm, nhưng đây là lần đầu tiên mọi người mới được mắt thấy tai nghe.
         Trên đường vào tham quan ở Đà Nẵng và phố cổ Hội An, anh trưởng đoàn không quên đặt cơm trưa ngày cuối cùng của chuyến đi tại thành phố Đồng Hới. Ở nghĩa trang, anh điện thoại về nhà hàng Như Ý hẹn khoảng gần một giờ chiều xe sẽ về đến thành phố. Tưởng niệm và thắp hương ở tượng đài chính xong, tôi đi vòng ra phía sau tượng đài, nơi có cây bồ đề xanh tốt, che kín cả một vùng rộng lớn khu tượng đài. Người quản trang bảo rằng, khi đang xây tượng đài này thì cây bồ đề đã tự nhiên mọc lên và từ đó cây có sức sống mãnh liệt lạ kì. Đến nay, cây bồ đề đã có vóc dáng cổ thụ, cành lá sum suê, che mát cho tượng đài. Khi bắt đầu xây dựng tượng đài, ở đây không có bồ đề và trong vòng bán kính mười kylômét quanh tượng đài cũng không có bồ đề. Phải chăng cây bồ đề là linh hồn của các liệt sĩ, là sức sống của những linh hồn đã khuất? Nay cây bồ đề đã trở thành cây thiêng của Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn. Tôi chú ý đến một nhóm người đang bàn tán với nhau về một vấn đề gì đấy. Trong nhóm, có hai anh bộ đội. Trên hai chiếc ghế đá cạnh họ đứng có nhiều đồ lễ như: hương, hoa, đồ vàng mã... và hai chiếc máy quay phim. Tôi đoán chắc là họ đang tìm mộ liệt sĩ. Tôi đến gần anh bộ đội mang quân hàm thiếu tá (sau được biết tên anh là Khương, bộ đội biên phòng, trước đóng quân ở Thạch Đài - Thạch Hà). Anh đang điện thoại cho một ai đó, điện thoại bật loa ngoài nên tôi nghe rõ tiếng của người bên kia: "Cứ chờ đi, người âm không phải như chúng ta đâu. Chắc chắn mười hai giờ trưa nay chú ấy sẽ về và chỉ phần mộ cho cháu". Tôi lân la bắt chuyện. Anh bảo, gia đình anh từ Hà Nội vào tìm mộ người thân, đó là chú ruột của anh, liệt sĩ Hoàng Văn Khôi, hi sinh năm 1970 tại Khe Sanh. Người vừa nói chuyện trong điện thoại là nhà ngoại cảm ở tỉnh Hòa Bình. Người mà linh hồn sẽ nhập vào là cô em út của anh. Anh chỉ về phía cô gái có dáng người nhỏ nhắn đang đi về phía tượng đài chính.

         Đã đến giờ về thành phố Đồng Hới cho kịp bữa cơm trưa như đã hẹn với nhà hàng, nhưng chúng tôi phải ở lại để được chứng kiến việc tìm mộ liệt sĩ. Gần mười hai giờ trưa, khi đến trước tượng đài, cô em gái anh Khương ngồi xếp bằng và thiền một cách chăm chú. Chừng năm phút sau, mặt cô gái bỗng dưng đỏ lừ, rồi cô bật khóc nức nở. Người nhà và cả chúng tôi ùa đến quây quần bên cô. Anh Khương dìu cô đứng lên đi về chiếc ghế đá phía sau tượng đài, dưới bóng cây bồ đề. Cô gái (bây giờ đã có linh hồn liệt sĩ nhập vào) và tất cả người nhà của cô đều khóc. Không khóc sao được? Gần bốn mươi năm âm dương cách biệt, hôm nay họ mới gặp nhau. Anh Khương hỏi dồn dập: "Chú ơi! Nhà chú ở đâu? Chúng cháu vào để đưa chú về đây! Chú ở đơn vị nào? Chú hy sinh ở đâu?". Vẫn trong tiếng khóc như xé lòng, cô gái gào thét: "Anh Quang đâu? (Anh Quang là anh ruột liệt sĩ).Sao anh Quang không vào? Tao đi bộ đội khi còn trẻ, vừa vào Khe Sanh là bị thương nặng, mù hai mắt rồi hy sinh. Tao không biết mình ở đơn vị nào. Nhà tao ở đây, nhà tao bị mẻ. Được rồi, tí nữa tao sẽ chỉ nhà để chúng mày đưa tao về". -  Nói đoạn, cô vừa khóc vừa chỉ tay về phía khu mộ "Liệt sĩ chưa biết tên". Cô đứng dậy, anh Khương và một người nữa dìu cô đi về phía khu mộ cô vừa chỉ. Không đi vào cửa chính, cô đi vòng sang bên trái, rồi trèo qua bức tường thấp vào phía trong khu mộ. Cô đi thẳng đến một phần mộ rồi ngồi sụp xuống, ôm chầm lấy cả phần mộ, vẫn trong tiếng khóc nức nở: "Nhà của tao đây. Vì sao mười một năm trước cháu đã vào đây, cháu đứng đằng xa ấy mà không đến nhà chú?". Anh Khương trả lời trong tiếng khóc nghẹn ngào: "Chú ơi! Ngày đó cháu vào tìm chú, nhưng nào có biết chú nằm ở đây. Bây giờ biết rồi, cháu sẽ đưa chú về". Vừa khóc, cô vừa với tay sang những phần mộ bên cạnh: "Các anh ơi, các anh cho em về quê. Em về với gia đình em"...
         Kể từ khi linh hồn liệt sĩ nhập vào cô gái, tất cả mọi người được chứng kiến đều lặng đi vì xúc động. Chỉ có tiếng hỏi, tiếng trả lời và tiếng khóc đến quặn lòng của chú cháu anh Khương, còn mọi người chỉ đứng nhìn, và tôi đã nghe tiếng sụt sùi từ các cô gái trong đoàn tham quan. Không biết họ đang nghĩ gì về cuộc hội ngộ của một con người từ thế giới bên kia và những người trần thế, nhưng biết chắc rằng, tất cả đã không cầm nổi lòng mình sau gần bốn mươi năm cách xa.
         Chuyện tâm linh, sẽ có người không tin, nhưng những gì được chứng kiến là những điều đáng để chúng ta suy ngẫm. Ngay từ những phút đầu tiên hiện về, liệt sĩ đã bảo rằng nhà tao bị mẻ. Vào khu mộ "Liệt sĩ chưa biết tên" tôi đi tìm khắp lượt sáu mươi tám phần mộ để kiểm chứng lời nói trên. Nửa bên phải khu mộ có một vài phần mộ bị sứt cạnh, nhưng nửa còn lại không có mộ nào như vậy, duy chỉ có phần mộ liệt sĩ đã nhận là bị sứt một phần cạnh phía trên, ở chỗ gần bia mộ. Anh quản trang bảo rằng, ở đây họ thường xuyên được chứng kiến cảnh thân nhân đi tìm mộ nhờ các nhà ngoại cảm. Có người linh hồn nhập vào rồi, nhưng đi khắp cả vùng nghĩa trang vẫn không tìm thấy mộ của mình. Trong khu mộ "Liệt sĩ chưa biết tên" đã có mười hai mộ gia đình nhận là thân nhân của mình.
         Trong số hai mốt cán bộ, nhân viên quản trang ở đây, có một người thật đáng chú ý. Anh là người dân tộc Vân Kiều, lớn lên và sống ở nghĩa trang này từ hồi còn bé. Mấy anh quản trang bảo, anh người Vân Kiều ấy đã có hàng trăm lần linh hồn liệt sĩ nhập vào. Anh không biết chữ, nhưng điều lạ kì là nói được tiếng Anh và tiếng Pháp. Tôi hỏi anh: "Thế bây giờ cậu nói một vài câu tiếng Anh được không?". "Bình thường cháu không thể nói được tiếng Anh, nhưng với người nước ngoài thì cháu nói được, nhất là người Mỹ. Thường là nói được, nhưng cũng có lúc không hiểu sao, chẳng nói được câu nào".

         Chuyện là thế đấy, chúng tôi được mắt thấy tai nghe, được sống trong cảm xúc của những con người của hai thế giới: một, của người trần thế và nửa kia là thế giới của người đã khuất. Không phải là máu mủ ruột rà, lẽ nào họ lại có cảm xúc mạnh mẽ và tình cảm thiêng liêng đến vậy, lẽ nào họ lại nhận phần mộ của một liệt sĩ không quen biết nào đấy là người thân của mình! Khi nói chuyện với mấy anh quản trang, lòng chúng tôi lại càng ngậm ngùi và ái ngại hơn với trường hợp của chú cháu anh Khương. Anh quản trang cho hay: "Nhận là nhận vậy thôi, chứ theo quy định là không được khai quật, không được di dời đối với tất cả các phần mộ chưa biết tên. Các chú xem, trong đó có mười hai ngôi mộ đã viết tên vào phía sau bia (có một mộ hai gia đình cùng nhận), nhưng có mộ nào được di dời đâu. Sau hai năm, nếu không có người khác nhận đấy là thân nhân của mình, ban quản lí nghĩa trang sẽ cho đặt bia, nhưng chỉ được phép đặt phía sau mà thôi". Nghĩ cũng phải, mặc dầu ở nước ta các nhà ngoại cảm đã tìm được hàng ngàn hài cốt liệt sĩ nhờ khả năng đặc biệt của họ, nhưng chưa có cơ sở pháp lí cho việc nhận hài cốt nhờ ngoại cảm, đặc biệt đối với những hài cốt đã được quy tập vào nghĩa trang liệt sĩ. Khi trình độ khoa học về nhận dạng ở nước ta chưa phát triển, bao giờ sáu mươi tám liệt sĩ kia có tên? Thân nhân nhiều liệt sĩ chưa biết tên đang nằm ở nghĩa trang này có nguyện vọng đưa họ về quê, bao giờ được thực hiện? Biết làm sao đây?
         Viết đến đây, tôi lại chạnh lòng nhớ tới những vần thơ của Nguyễn Hữu Quý:
        
"Người Quảng Trị, người Thái Bình
         Dưới ba tấc đất cốt hình của ai?
         "Vô danh" ba chục năm dài
         Giờ chung một mộ khắc hai tên người
         Đúng, sai cỏ chẳng trả lời
         Hỏi thông, thông đứng dưới trời vi vu
         Đành lòng mượn khói mùa thu
         Một người ngả nón ngồi ru hai người...".
        
Những chuyện trên, phần là nghe kể, phần được chứng kiến và sẽ có người tin, người không tin. Tin hay không là tuỳ vào sự lý giải của mỗi người, chỉ biết rằng, hơn mười ngàn ngôi mộ kia là hơn mười ngàn liệt sĩ đã vị quốc vong thân cho chúng ta có cuộc sống thanh bình hôm nay là điều chúng ta phải trân trọng!

 

                                                 Ảnh tại nghĩa trang LSTS                                         

 

          Dẫu thời gian không nhiều, nhưng chuyến viếng thăm Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn đã để lại cho chúng tôi những cảm xúc khó tả. Mỗi người sẽ có một cảm nhận riêng của mình. Trong đoàn có hai thế hệ: anh Giao, anh Thắng, chị Hồng... là những người đã từng đi qua cuộc chiến tàn khốc ấy; chúng tôi đã may mắn hơn hàng ngàn anh chị nằm dưới mộ kia, càng hiểu sâu sắc hơn cái giá của chiến tranh và hòa bình. Còn các bạn trẻ, phần lớn trong số đó khi sinh ra, chiến tranh đã đi qua rồi. Hàng ngàn ngôi mộ nằm trong lặng lẽ kia, lời khẩn cầu muốn được về quê , những tiếng khóc xé lòng của người thân liệt sĩ mà họ đã được chứng kiến...và cuộc sống thanh bình mà họ đang được hưởng, họ sẽ nghĩ gì? Chúng tôi rời nghĩa trang với bao nỗi suy tư. Xin gửi lại hương hồn các anh chị lòng tri ân của của chúng tôi! Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn là chốn linh thiêng, ai chưa một lần thăm viếng, xin hãy đến để cùng chúng tôi chiêm nghiệm.

                                                                                     

                                                                                                              L.V

(16) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

HOA TRÁI MÙA - N.N.C

NGUYỄN NGỌC CHIẾN

Hoa Trái Mùa

TRUYỆN NGẮN

 

*Tạp chí Cửa Việt số 97, tháng 10.2002.
*Tạp chí Côn Sơn - nay là Văn nghệ Hải Dương - số 45, tháng 6.2004.
*Tạp chí Xứ Thanh số tháng 9 năm 2008.
*Đã in trong tập truyện ngắn HOA TRÁI MÙA.


          Chuyến tàu tốc hành kéo một hồi còi dài, từ từ giảm tốc độ rồi dừng lại ở sân ga. Tám đứng dậy vươn vai, một tay xách ba lô, một tay chìa ra bắt tay mấy người bạn đồng hành rồi vội vã bước ra cửa toa. Từ đây về đến nhà cũng ngót nghét hai mươi cây số nữa. Đã bốn giờ chiều rồi. Anh rảo bước gần như chạy ra bến ô tô và kịp leo lên chuyến xe đò cuối cùng trong ngày, lúc ấy đã chật cứng người.

         "Sao anh không đi ngủ?". Hiền - Vợ Tám trong mùng hỏi vọng ra. Lẽ ra lúc này đây, Tám đã có thể nằm cạnh vợ, khoan khoái tận hưởng những giây phút hạnh phúc, để bù lại cho những ngày tháng vợ chồng anh phải đằng đẵng xa cách nhau. Hiền vẫn còn trẻ quá! Từng ấy năm trôi qua mà vợ anh chẳng khác xưa là mấy. Vẫn khuôn mặt trái xoan bầu bĩnh. Vẫn hàm răng trắng đều, và vẫn một dáng người thon thả, với mái tóc dài buông xõa ngang lưng. Lúc gần đi ngủ, Hiền ra giếng tắm, rồi đi vào trong bộ đồ lụa trắng, trông mới hấp dẫn, gợi cảm làm sao. Lẽ ra lúc này đây Tám đã có thể ôm ghì cái thân thể ấy và rồi sau đó ngoan ngoãn nằm im như em bé trong vòng tay thương yêu chiều chuộng của vợ.

         Nghe rõ tiếng Hiền, Tám vẫn không trả lời. Anh ngồi như hóa đá bên chiếc bàn kê gần cửa sổ và không ngừng hút thuốc. Ánh đèn dầu hỏa soi bóng anh lúc mờ, lúc tỏ. Chiếc đồng hồ vợ chồng anh mua ngày cưới đặt trên nóc tủ cứ lách cách đều đặn và cái kim ngắn đã bắt đầu chuyển sang con số mười một. Bên ngoài trời tối đen như mực. Tháng sáu ta, không khí về khuya có dịu lại, nhưng ruột gan Tám vẫn như có lửa đốt. Chưa bao giờ Tám thấy buồn bực như lúc này. Và với người vợ anh tưởng như suốt đời anh yêu thương kia, lại chưa bao giờ anh thấy căm ghét, khinh bỉ như lúc này. Thì ra đàn bà họ là như thế. Thì ra những lời thề thốt của họ cũng sẵn sàng phản bội ta một cách nhanh chóng, lẹ làng như trở bàn tay.

Minh họa 2
Minh họa của Tạp chí Xứ Thanh

        
          "Đi ngủ đi anh, khuya lắm rồi!". -  Kèm theo câu nói nhẹ nhàng, mát mẻ như hơi nước là bàn tay cũng nhẹ nhàng, mát mẻ của Hiền đặt lên vai anh. "Đi ngủ thôi anh!". Hiền vẫn thì thào. Hiền đứng sát vào người Tám, sát đến nỗi mái tóc dày và dài của chị lúc ấy đang xõa ra gần như phủ kín lên bờ vai Tám. Tám nghe thoang thoảng mùi lá bưởi quen thuộc tỏa ra từ mái tóc ấy. Cổ tay anh nhồn nhột khi chạm vào làn áo mỏng phảng phất mùi nước hoa và rất gần là đôi môi nóng bỏng. Tám mơ màng ngây ngất. Nhưng cảm giác ấy qua nhanh. Bởi lúc này đây, tất cả những hương sắc đầy cám dỗ, quyến rũ ấy đối với anh vô nghĩa. Vì vô nghĩa mà anh đã cưỡng lại chúng một cách dễ dàng. "Cô cứ đi ngủ đi, tôi không muốn ngủ". - Tám trả lời lạnh lùng rồi gạt tay vợ ra khỏi vai mình. Hiền biết chồng đang bực, vẫn sán lại gần anh hơn. Rồi như một cơn khát bất chợt ập đến, chị thèm được dâng hiến, thèm được quằn quại trong vòng tay chồng, chị choài người ra, quàng cả hai tay ôm lấy cổ chồng, áp cả khuôn ngực đầy đặn vào lưng anh. "Cô tránh ra!". - Tám khẽ đẩy vợ và gần như không kiềm chế được sự bực tức, anh ném cái nhìn giận giữ vào mặt Hiền, miệng gằn từng tiếng: "Tôi đã... nói rồi. Cô cứ đi... ngủ đi. Tôi... sẽ ngồi... đây đến sáng... và ra... khỏi cái nhà... này". Tiếng Tám không to nhưng âm thanh đủ phá tan màn đêm tĩnh lặng. Con bé nằm với Hiền trong mùng giật mình tỉnh dậy. Nó gọi "Mẹ ơi!". Cơn khát trong người Hiền vụt biến mất. chị nhìn chồng đấu dịu: "Kìa anh! Anh đừng quát ầm lên như thế làm con chúng ta sợ".  "Con chúng ta... Tám cười khẩy mỉa mai nhại lại ba tiếng ấy rồi đứng dậy đi ra ngoài sân".

          "Anh Tám có thật lòng yêu em không?". - Hiền hỏi. "Thật!". - Tám trả lời và hỏi lại: "Thế còn em, em có thật lòng yêu anh không?". Hiền không trả lời chỉ khẽ cụng đầu vào lưng Tám. Ngày mới yêu nhau, cứ một tuần là Tám và Hiền lại hẹn hò nhau một lần gặp gỡ. Và lần nào họ cũng hỏi nhau câu ấy. Họ làm như cứ phải hỏi nhau câu ấy tình yêu của họ mới thêm bền chặt. Rồi cứ như thế họ ngồi đắm đuối bên nhau, đợi cho đến khuya, thật khuya, khi mà làng xóm đã chìm sâu vào giấc ngủ, họ mới dắt nhau trở về. "Chúng nó thật đẹp đôi". Trong làng ai cũng tấm tắc khen. Còn bố mẹ đôi bên thì cùng thuận lòng mong cho Tám và Hiền sớm thành gia thất. Và đám cưới đã diễn ra. Đêm tân hôn cả hai đều không ngủ. Họ cùng nhau thức đợi sáng nhưng lòng lại mong đêm hãy dài mãi ra.

         Gần ba tháng sau Tám có giấy báo lên đường nhập ngũ. Hai năm sau Hiền cũng đâm đơn xin vào lực lượng thanh niên xung phong. Cả hai cùng vào chiến trường đánh Mỹ. Ba mùa nhãn trôi qua. Một chiều chạng vạng Hiền từ tiền tuyến trở về. Chị mang theo một bé gái chưa đầy tuổi. Và trên cơ thể chị còn có thêm nhiều thương tích của đạn bom. "Cháu là con của chúng con - Chị nói với bố mẹ chồng và bố mẹ đẻ - Con vào Quảng Trị thì gặp chồng con. Chúng con cùng sống với nhau trên cung đường ra tuyến lửa. Rồi con sinh cháu và được cấp trên cho trở lại hậu phương". Chính quyền làng xã đến chúc mừng và chia vui với chị. Còn bố mẹ, họ hàng đôi bên thì không ai giấu được niềm vui khi cả hai cùng có thêm thành viên mới. Lúc cháu bé lên năm, theo yêu cầu của chị, bố mẹ chồng đã xây cho chị một căn nhà nhỏ để mẹ con chị ra ở riêng.  

         Tám vẫn không ngừng hút thuốc và đi đi lại lại. Trong nhà, Hiền và đứa bé có lẽ đã ngủ yên. Không gian im ắng, dìu dịu hương cau. Tám không ngờ ngày anh trở về lại diễn ra buồn tẻ, hẩm hiu như vậy. Suốt cuộc đời quân ngũ, rời hậu phương là anh đi thẳng vào chiến trường. Do nhiệm vụ và tình hình mặt trận không cho phép, nên từng ấy năm xa nhà cũng là từng ấy năm anh không liên lạc được với gia đình. Nơi chiến trường ác liệt lúc nào anh cũng nhớ về quê hương, anh đã hồi hộp, sung sướng vô ngần khi nghĩ đến phút giây đầu tiên được gặp Hiền. Anh tưởng tượng ra biết bao nhiêu điều tốt lành về người vợ trẻ, về đêm đoàn tụ của vợ chồng anh sau chừng ấy năm xa cách. Nhưng tất cả, tất cả đã diễn ra ngoài mong ước của Tám. Chiều nay, lúc anh về đến nhà thì vợ anh không có mặt. Anh chưa hết lạ lẫm vớ ngôi nhà mà người làng chỉ cho, đã lại bỡ ngỡ ngay với đứa bé chừng bảy, tám tuổi đang ngồi học bài một mình. Nhưng nhìn kỹ vóc dáng nhỏ bé của nó anh hiểu ngay nó không phải là con anh. Bởi, nếu là con anh thì đứa bé tất phải lớn hơn nhiều. Nhưng khi anh hỏi nó bố mẹ nó tên gì thì nó nói bố nó tên là Tám, mẹ nó tên là Hiền. Anh thoáng giật mình. Nó là con của mình ư? Con mình mà mình không nhận ra ư? Anh nhìn kỹ mặt nó hơn. Nó cũng thô lố đôi mắt nhìn lại anh. ờ! Mà trông nó có vẻ giống cô em gái út của mình hồi nhỏ. Trong lúc Tám còn đang mãi nghĩ thì con bé rối rít khoe: "Bố cháu đi bộ đội đánh Mỹ. Mẹ cháu bảo miền Nam giải phóng rồi, bố cháu sắp về rồi. Chú ơi! Trước đây mẹ cháu cũng đi Thanh niên xung phong đánh Mỹ đấy, mẹ cháu sinh cháu ở chiến trường đấy, chú có biết không?". Tám lặng người nghe nó nói. Thì ra là vậy. Có một cái gì đó khẽ nhói đau trong anh. Vẻ mặt anh thoáng buồn. Con bé rời bàn học đi lại chỗ Tám đứng. Nó muốn hỏi vì sao Tám buồn nhưng không dám. Trí óc non nớt của nó không thể hiểu vì sao chú bộ đội lạ hoắc này lại đến nhà nó và tại sao buồn. 

 
Minh họa 1
Minh họa của Tạp chí Côn Sơn (nay là Tạp chí Văn nghệ Hải Dương)

        
          Đúng lúc ấy thì Hiền đi làm về. Chị suýt đánh rơi chiếc đòn gánh trên vai khi chợt nhìn thấy Tám. Chị muốn nói với anh một câu gì đó nhưng không sao mở miệng ra được. Còn Tám, anh cũng đứng đực ta nhìn Hiền. Bốn con mắt nhìn nhau im lặng. Mãi một lúc sau, cố gắng lắm, cả hai mới có thể thốt lên: "Anh về rồi ư?".  "Ừ, tôi đã về rồi đây!". Từ đấy cho đến cuối bữa ăn chiều họ cũng chỉ hỏi nhau mấy câu bâng quơ lấy lệ. Căn nhà trở nên ngột ngạt, khó thở. "Cô hãy nói thật đi, con bé là con của ai?". - Cuối cùng, lúc con bé đi ngủ, Tám cũng đã hỏi Hiền. Hiền nhìn chồng, trả lời nửa thách thức nửa đùa cợt: "Ô hay! Tại sao anh lại hỏi em như thế? Nó không là con chúng ta thì con ai?". "Cô đừng có ỡm ờ! - Tám bực dọc - Tôi không phải là trẻ con. Cô đừng lấy vải thưa che mắt thánh. Cô không bịt được mắt tôi đâu!". "Vậy theo anh, nó là con ai? "Con ai ư? Con ai thì cô khắc biết. Còn tôi, tôi không phải là bố nó". Như gáo nước lạnh dội lên đầu, Hiền không thể nhịn được nữa, chị tấm tức: "Trời ơi, chừng ấy năm anh đi bộ đội, tôi ở nhà chờ chồng nuôi con... Con anh sờ sờ ra đó mà anh bảo là con người khác. Anh... anh dám vu cho tôi cái tội tày đình ấy ư?". Tám vặc lại: "Cô nói vô lý thế mà nghe được sao? Tôi xa nhà từng ấy năm mà con bé chỉ mới chừng ấy tuổi. Cô... cô giải thích với tôi điều này thế nào đây?". Họ chỉ mới đôi co với nhau được từng ấy câu thì khách khứa đã kéo đến chật cứng nhà. Cả hai tỏ ra vồn vã nói cười nhưng ruột gan lại như đang trăm mối tơ vò.

         Nằm với bé Nhung trong mùng, Hiền không sao ngủ được. Chị đang nghĩ đến Tám và cuộc cãi vã giữa hai người. Thật tình chị rất sung sướng khi chồng trở về. Nếu không vì sự trớ trêu ấy thì chị đã nhào đến ôm lấy chầm lấy anh. Chị cũng không ngờ khi thấy con bé, anh đã hiểu hết mọi chuyện. Nhìn vào mắt anh, chị hiểu ngay ra điều đó. Nhưng suy đi nghĩ lại chị càng thấy anh có lý. Bất kỳ người đàn ông nào cũng sẽ xử sự như thế trong hoàn cảnh tương tự. Nhưng chị thầm trách anh sao nỡ vô tâm với chị. Dù chị có là như anh nghĩ, thì anh, với tấm lòng bao dung, độ lượng, anh phải tha thứ cho chị. Anh phải hiểu được lòng dạ đàn bà. Họ rất chung thủy, nhưng chỉ sểnh một chút thôi là có thể mang họa vào thân. Huống hồ chị, cả một thời gian dài biền biệt xa chồng. Nhưng chị, chị chưa đến nỗi như thế. Từ chiều đến giờ, nhìn dáng vẻ ủ ê, buồn bã của chồng, chị cũng xót xa lắm! Chị cũng định bụng úp mở với anh một lúc rồi nói ra sự thật. Ai dè "máu Hoạn Thư" trong anh càng lúc càng ghê. Cứ đà này thì đến sáng anh bỏ đi thật. Thôi, đến nước này thì cũng cần nói ra cho anh biết. Lúc ấy, mọi chuyện sáng tỏ, để rồi anh và chị, ai sẽ giận ai và ai sẽ tha thứ cho ai. Nghĩ vậy, chị mỉm cười, rồi rón rén ngồi dậy ra khỏi giường. Chị đến bên tủ, lục lọi trong ngăn kéo, lấy ra một cuốn sổ nhỏ bìa xanh. Lúc ấy, Tám cũng từ ngoài sân đi vào. Chị đến bên chồng khẽ khàng nói: "Anh ngồi xuống đây để em thưa chuyện". Tám uể oải ngồi xuống ghế. Nhìn vợ, anh nhận thấy nét mặt Hiền lúc này không còn vẻ e dè nữa mà nghiêm nghị cứng rắn. Hiền dở trong cuốn sổ lấy ra một tấm ảnh đặt trước mặt Tám. Đó là ảnh của một cô gái trong trang phục thanh niên xung phong. "Anh nhận ra cô này không?" - Hiền hỏi. Tám nhìn như dán mặt vào bức ảnh. Hết nhìn ảnh, anh lại nhìn vợ. Anh xoay xoay bức ảnh trong tay, lúc đưa ra xa, lúc để lại gần. Rồi như không tin vào mắt mình, anh lật mặt sau tấm ảnh xem có bút tích gì không. Không! Không có! Nhưng con người trong ảnh này thì anh biết. Mà tại sao, tại sao Hiền có ảnh của cô ta? Bao nhiêu năm đã trôi qua, rồi chiến trường, đạn bom, mất mát, hy sinh... những tưởng thời gian đã có thể xóa nhòa đi tất cả, thì lúc này đây, chỉ khoảng khắc nhỏ hẹp này tất cả đã sống lại, đã ùa về trước mặt Tám.

         ...Một quả bom nổ gần hất Tám ngã nhào, ngất xỉu. Khi tỉnh dậy, Tám thấy mình đang nằm trong một căn liều bạt giữa rừng sâu. "Anh thấy giờ trong người thế nào?" - Một cô thanh niên xung phong đứng đấy từ bao giờ chạy đến đỡ anh ngồi dậy và hỏi. "Cảm ơn chị, tôi đã khỏe!". "Em già lắm phải không anh?". "Không, chị còn rất trẻ". "Anh chỉ khen động viên em thôi". "Không, tôi nói thật lòng với chị mà!". "Đấy, lại gọi em là chị rồi". "Chị... à cô ở đây chỉ có một mình thôi à?". "Sao lại một mình. Cả một trung đội hẳn hoi, nhưng tất cả đã đi làm đường, chỉ có em là cấp dưỡng ở nhà".

         Đó là khởi đầu cho cuộc gặp gỡ giữa Tám và cô thanh niên xung phong có tên là Thuần. Thuần đã hai tư tuổi và đã có bốn năm làm thanh niên xung phong lặn lộn trên cung đường ác liệt này. Mới thoạt nhìn, người ta dễ nhầm tưởng Thuần đã ở tuổi ba mươi. Cô vừa già vừa đen. Chỉ có chất giọng của người con gái vùng Kinh Bắc là vẫn trẻ trung, ngọt ngào, dễ cảm. Cô chăm sóc Tám như một người chị: Cần mẫn, chiều chuộng, chu đáo. Cô lại có ánh mắt rất lạ, cứ lung linh, tình tứ nhìn Tám như muốn nói điều gì. Đôi lúc, Tám phát ngượng vì chính cái nhìn ấy. Lúc chia tay về đơn vị, Tám ngăn cách gì Thuần cũng một mực đòi tiễn anh ra đến bìa rừng. Cực chẳng đã, Tám phải đồng ý. Hai người vừa đi vừa nói chuyện. Họ cứ hỏi nhau, tâm sự với nhau chuyện quê hương, gia đình, riêng tư... Đang đi bỗng Thuần ngồi sụp xuống ôm mặt khóc nức nở. Tám giật mình hỏi Thuần: "Cô làm sao mà khóc? Có chuyện gì sao?" Thuần ngửng lên nhìn Tám, nói trong nước mắt nghẹn ngào: "Em già lắm phải không anh? Em xấu lắm phải không anh? Anh đừng có giả bộ động viên em. Tuổi tác của em, con người của em thế nào, em cũng thừa biết cả rồi. Em có còn gì nữa đâu mà không già, không xấu hở anh. Da thịt nơi chiến trường, đạn bom. Tuổi xuân nơi rừng thiêng nước độc. Tất cả đã tàn phai nguội lạnh. Này đây anh xem, tóc em đang rụng dần đây này! Em không dám chải đầu, vì một lần chải là một lần em giật mình lo sợ. Tóc em cứ theo lược từng lọn trong tay. Còn da thịt, đây anh xem, càng ngày càng vàng bủng ra. Người ngợm thế này thì em còn hy vọng gì yêu đương nữa anh ơi! Đời em chưa một lần được đàn ông cầm tay, chưa một lần được hẹn hò, chưa một lần được ngỏ lời yêu. Tám ơi! Em cầu xin anh hãy cho em một lần được yêu. Đừng cho em là lẳng lơ, đĩ thỏa nghe anh. Em chỉ cần được yêu, cần được yêu nhiều lắm anh ơi!". Thuần dang tay ôm chặt lấy Tám. Tám hốt hoảng gỡ tay Thuần ra. Nhưng càng gỡ, Thuần càng ôm chặt hơn. "Đừng, cô đừng làm thế. Tuổi cô còn trẻ, tương lai còn ở phía trước. Rồi cô sẽ được làm vợ, làm mẹ như bao người phụ nữ khác".

         Tám nói như dỗ dành. Thuần như không còn nghe Tám nói gì hết, vẫn khăng khăng ôm chặt lấy anh. Cô áp môi mình vào má Tám. Hai tay quờ quạng trên người anh. Cả người Thuần run lên bần bật. Tám thấy nóng ran cả người. Tám nhìn vào mặt Thuần, thấy rõ hai hàng nước mắt lăn dài trên má. Một tình thương dâng lên trong lòng anh. Tám thôi không gỡ tay Thuần ra nữa mà kéo đầu cô về phía mình...

         "... Anh không nhận ra ai à? - Tiếng Hiền hỏi, làm Tám giật bắn người. Anh đưa tay dụi dụi mắt, ậm ự trả lời: "Có! Tôi nhận ra". "Là ai vậy anh?". "Là cô Thuần, thanh niên xung phong ở Trường Sơn chứ còn ai - Tám trả lời rồi đột nhiên đứng phắt dậy, nắm tay Hiền hỏi dồn - Như thế này là thế nào, thế nào? Cô nói ngay cho tôi nghe đi". "Thế nào thì anh tự hỏi anh, chứ em biết gì mà hỏi". - Hiền nói vẻ giễu cợt. "Thôi chết rồi, chả lẽ bé Nhung là kết qủa của lời cầu xin năm xưa của Thuần với mình sao? Nhưng tại sao? Tại sao nó lại ở với Hiền...? ". - Tám thầm nghĩ. "Anh với cô ấy là gì với nhau?" - Hiền đổi nét mặt nghiêm nghị hỏi Tám, thấp thỏm chờ câu trả lời của chồng, nhưng tâm trí của chị lại dõi theo một hướng khác. Chị đang nghĩ về cô thanh niên xung phong trong ảnh.

         Câu chuyện đáng thương về cô với anh bộ đội chị đã biết tỏng từ mười năm trước. Người kể với chị chuyện ấy không ai khác mà chính là Thuần. Ngày ấy, chị cũng là thanh niên xung phong ở cùng một tiểu đội với Thuần. Ngày ngày chị đi làm đường, còn Thuần ở nhà làm cấp dưỡng. Ngày phát hiện Thuần có mang chính chị đã bắt Thuần kể ra sự thật rồi cùng với mấy chị em khác bày cách dùng khăn thắt bụng cho Thuần. Khi "kế hoạch" bại lộ thì cả trung đội đứng ra che chắn cho cô, giúp cô tránh được cú kỷ luật nghiêm khắc của chiến trường: Sa thải về địa phương. Rồi họ lại giúp cô, chăm sóc cho cô từng ly từng tý cho đến ngày cô sinh hạ mẹ tròn con vuông.

         Cả trung đội không ai biết bố đưa bé là ai? ở đơn vị nào? Địa chỉ quê hương, bổn quán ra làm sao? Hỏi Thuần, cô chỉ lắc đầu không nói. Nhưng màn kịch "Thuần gặp chồng chưa cưới" lại diễn ra êm đẹp, xuôi chèo mát mái. Sau này, chỉ riêng mình Hiền biết bố đứa bé là ai. Chị không ngờ đó chính là Tám - chồng chị. Điều này, chị cũng biết được trong một hoàn cảnh hết sức bi thương. Đó là thời gian Thuần bị thương nặng sau khi sinh con được vài tháng. Thuần vừa khóc vừa nói với Hiền rằng cô nhận ra anh bộ đội chính là Tám... nhờ một lần may mắn được nghe chị kể về Tám và cho xem ảnh của anh. Lúc ấy, tai Hiền ù đi, mắt hoa lên như người phải cảm. Ban đầu chị không tin, cho Thuần bịa. Chị muốn giáng một cái tát vào mặt Thuần cho hả dạ. Nhưng chị nghĩ rằng, một người đang trong tình cảnh lắt lay giữa cái sống và cái chết thì họ không bao giờ biết nói dối. Dù lúc đó, Hiền rất thương Thuần, nhưng ruột gan chị cũng sôi lên vì căm giận Tám...

         Tám trở nên thành thực: "Là gì với nhau chắc em đã biết hết rồi phải không? Thôi em đừng làm bộ khảo tra anh nữa, em hãy nói cho anh biết đi. Bé Nhung có phải là con của Thuần không? Thuần bây giờ ra sao? Làm sao em đưa được bé Nhung về đây?". Hiền trao cho Tám cuốn sổ bìa xanh. Chị nói với chồng giọng lạc đi không biết là vì giận anh hay thương cảm cho số phận Thuần. "Đây! Anh đọc đi! Những dòng nhật ký của cô ấy và cả thư cô ấy viết để lại cho em sẽ giúp anh hiểu rõ mọi chuyện". Nói xong, Hiền bỏ vào giường nằm với con bé.

         Tám đọc ngay những trang cuối của cuốn nhật ký. Thuần đã viết rất xúc động về cuộc gặp gỡ giữa cô và anh ngày ấy. Đây là bằng chứng cũng là bản cáo trạng kết tội anh. Anh không có gì để có thể kể thêm với vợ anh nữa. Anh đọc sang bức thư: "Chị Hiền đáng kính của em! Em biết là em sẽ không sống được nữa nên em viết cho chị mấy dòng này. Chị ơi! Xin chị hãy tha thứ cho em, chỉ vì em mà chị mất hạnh phúc. Nhưng chuyện đã lỡ rồi em biết làm sao được. Sau này khi anh Tám trở về, chị đừng hắt hủi anh ấy. Chị hãy suốt đời yêu thương, gắn bó với anh ấy. Anh ấy chẳng có tội tình gì đâu. Nếu phải trách thì em mới là người đáng để chị trách. Chị ơi! Lại còn chuyện em ra đi để lại cho chị một đứa con mà chị phải chịu bao gian nan, vất vả với nó. Biết vậy, nhưng em không còn ai để cậy nhờ. Em cầu xin chị hãy coi cháu như con. Nếu được như vậy, em ơn chị vô cùng... hồn em sẽ thanh thản nơi chín suối chị ơi!..."

         Tám áp bức thư vào ngực, anh cố giữ tư thế đứng vững khi cơn sóng lòng đang ào ạt dâng lên.

                                                                                                                                          N.N.C

(16) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

THƠ CỦA CÁC NHÀ THƠ VỀ VĨNH LINH

 

KỶ NIỆM 55 NĂM KÝ KẾT HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ, HÌNH THÀNH GIỚI TUYẾN QUÂN SỰ TẠM THỜI (20.7.1954 - 20.7.2009)

VÀ THÀNH LẬP ĐẶC KHU VĨNH LINH

(25.8.1954 - 25.8.2009)

        

         
Đúng 55 năm trước, với thắng lợi Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, đánh dấu một mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam ta. Với thắng lợi vang dội này, ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơ - ne - vơ về lập lại hoà bình ở Đông Dương được ký kết. Vĩ tuyến 17 trở thành giới tuyến quân sự tạm thời chia đôi hai miền Nam - Bắc. Từ đây, sông Bến Hải, cầu Hiền Lương...trở thành nỗi đau dằng dặc suốt hai mươi năm. Và cũng từ đây mảnh đất Vĩnh Linh đã trở nên thân thuộc không chỉ với cả nước mà còn với biết bao bè bạn quốc tế. Nhiều áng thơ văn đã được viết về mảnh đất và con người nơi miền quê đầu sóng ngọn gió này. Xin được giới thiệu  một chùm thơ về Vĩnh Linh. (NNC)


thơ

TẾ HANH

Nói chuyện

với sông Hiền Lương

1

Hiền Lương ơi!

Lần thứ hai tôi đến

Bốn năm qua

Như trải mấy cuộc đời.


Dương liễu vươn cao gió quạt

Bàch đàn bóng mát nôi quanh

Ruộng bờ Bắc sum vầy vào hợp tác

Xưa cỗi cằn nay đất nở mùa xanh.


Ruộng tốt bên kia sông thành khoảng trống

Thành đồng hoang, cuộc sống mặt điêu tàn

Bến vầng bơ phờ, cây rủ bóng

Những con đò tắt lối sang ngang.


Em bé mồ côi qua bên ni sông với mẹ

Nay vào lớp bốn phổ thông rồi

Quyển sổ nhỏ rành rành dòng chữ kẻ

"Đêm mồng hai Mỹ - Diệm giết cha tôi"

2

Nhà thơ ơi!

Lần thứ hai anh đến

Bốn năm qua

Như lúc gặp ban đầu.


Tôi chảy ngày đêm không nghỉ

Hai bờ Nam Bắc nhìn đau

Trời vẫn xanh một màu xanh Quảng Trị

Tận chân trời mây núi có chia đâu.


Cờ Tổ quốc gọi tâm hồn trong gió

Như mặt trời rực đỏ như lấp lánh sao vàng

Bên kia sông không ra vàng ra đỏ

Cờ ba que hoen ố cả không gian


Trong lòng tôi mảnh trăng trong một nửa

Như trước đây một nửa mờ gương

Nhà thơ ơi mắt anh chan chứa

Như trước đây tình xứ sở quê hương.

T.H

 

thơ

HUY CẬN

Chào Vĩnh Linh đất thánh

Chào Vĩnh linh đất thánh

Vẫn con đường quen mọc thêm nhiều nhánh

Ôm chặt hai bờ

Vẫn dãy phố quen trụi hết cửa nhà

Đây khu bảo tàng chỉ cột còn trơ

Nhưng giàu thêm truyền thống.


Vĩnh Linh ơi, ai không quen ngỡ đất hoang vu

Nhưng ta bước về bàn chân cháy bỏng

Bởi dưới đất sâu tích dồn lửa sống

                                                Sao mọc trên trời

                                               Đèn chong dưới đất

Chẳng biết không gian ở đây có tất cả mấy chiều

Nhưng chắc chắn có chiều sâu sự thật

Những nhà hầm như cuộc sống soi gương

Vào lòng đá đất

Đời vẫn tinh tươm

Mẹ ta xuống đó với khói cơm thơm

Con ta xuống đó với vần bằng vần trắc

Với dấu huyền dấu sắc

Mà rốc két, bom bi không đảo ngược được bao giờ!


Em ta xuống đó với những lời ca

Và khẩu súng

Với mái chèo con nắm vững cùng cha

Vượt khơi Cồn Cỏ

Bạn ta xuống đó bằng những vần thơ

Như cái giếng chung

Giúp mọi hầm cùng thở

Những vần thơ giàu chất ô xy

Cho đời thêm máu đỏ

Như xả vào máu thịt

Dưới bom máy bay B52 của lũ giặc trời

Ba em học sinh vẫn chụm đầu học về nhịp trái tim người

Đập hoài sự sống

Cây tiêu Vĩnh Linh hạt bé cay nồng

Cây mít Vĩnh Linh trái thơm múi ngọt

Chào Vĩnh Linh đất thánh!

Đất nén lại cho đời thêm mọc mạnh.

H.C

 

thơ

CẢNH TRÀ

Đưa dâu qua cầu Bến Hải

Một buổi mai nắng vàng hoa ngâu

Đám cưới đưa dâu qua cầu Bến Hải

Cầu vừa mới bắc xong sơn còn tươi roi rói

Đôi bờ xanh lúa mới đã ngậm đồng

Nhìn hai họ qua cầu mà nước mắt rưng rưng

Mà sung sướng vui tràn như trẻ nhỏ.

              Chàng trai Vĩnh Linh cưới cô gái đất Cùa - Cam Lộ

              Sông tưng bừng nhìn đôi lứa thương nhau

              Gió lâng lâng con sóng vỗ chân cầu

              Mà thắt ruột câu hò xưa tê tái

              "Bước đến Hiền Lương sao chặng đường nghẹn lại

              Đáo tới bờ Bến Hải sao gác mối tình duyên...".

Đám cưới hôm nay cũng tự nhiên như là hoa là lá

Như là chị lấy chồng như là tôi lấy vợ

Mà hay chưa bỡ ngỡ như chiêm bao

Tôi nhìn sông nghe sông chảy rì rào

Ai hát đó tưởng như lời tôi hát

Ngắm mây bay tôi thấy trời bát ngát

Chân người đi rộn rịp quá người ơi!

              Không chỉ là tôi ai cũng thế bồi hồi

              Ai cũng thế niềm vui này tuyệt đỉnh

              Chúng ta đã trải qua ngàn trận đánh

              Để bây giờ đất nước được vẹn nguyên

              Cho con đò khỏi "gác mái tình duyên"

              Và chiếc cầu "chặng đường thôi nghẹn lại".

Chừng vui quá nên cô dâu bối rối

Mắt thẹn thùng chen trong đám chị em

Tóc cài hoa với chiếc áo thanh thiên

Mới nắng đó mà đỏ lừ đôi má

Chàng trai bâng khuâng tay đung đưa trong gió

Sông long lanh nước sánh đôi bờ

Tiếng nói cười như chim hót sau mưa.

C.T

(17) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

VĨNH LINH TRONG LÒNG BÁC - NNC

 

 

KỶ NIỆM 55 NĂM

NGÀY KÝ KẾT HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ,

HÌNH THÀNH GIỚI TUYẾN QUÂN SỰ TẠM THỜI

(20.7.1954 - 20.7.2009)

VÀ THÀNH LẬP ĐẶC KHU VĨNH LINH

(25.8.1954 - 25.8.2009)

Vĩnh Linh

trong lòng Bác

NGUYỄN NGỌC CHIẾN

Lúc sinh thời, dù bận trăm công nghìn việc, Bác Hồ kính yêu vẫn luôn dành thời gian đi thăm đồng bào, cán bộ, chiến sĩ ta. Nơi nào đến Bác cũng động viên tất cả đồng bào, cán bộ, chiến sĩ phải tích cực thi đua lao động sản xuất, nêu cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu để góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà. Nơi nào Bác chưa có điều kiện đến được thì Bác gửi thư thăm hỏi, động viên, chúc mừng. Có lẽ, không một nơi nào trên đất nước Việt Nam lại thiếu đi sự quan tâm của Bác. Đối với Vĩnh Linh, mảnh đất nơi địa đầu giới tuyến, Bác chưa vào thăm được, nhưng trong lòng Bác, Bác đã dành cho Vĩnh Linh một tình cảm ưu ái đặc biệt.

Ông Dương Tốn năm nay gần chín mươi tuổi, nguyên Chủ tịch Uỷ ban Hành chính khu vực Vĩnh Linh là người được vinh dự gặp Bác nhiều lần, chứng kiến sự quan tâm sâu sắc và những tình cảm ấm áp của Bác dành cho Vĩnh Linh kể rằng: Năm 1957, khi đôi bờ Nam - Bắc vừa bị chia cắt, từ Thủ đô Hà Nội, Bác đã vào thăm đồng bào, cán bộ, chiến sĩ tỉnh Quảng Bình. Từ Đồng Hới nhìn về phương nam, Bác rất muốn vào thăm Vĩnh Linh để Bác được gần hơn với miền Nam thành đồng Tổ quốc. Do điều kiện không vào được, Bác đã triệu tập một số cán bộ chủ chốt của khu vực Vĩnh Linh ra Quảng Bình gặp Bác. Đảng uỷ, Uỷ ban khu vực Vĩnh Linh đã sung sướng cử một đoàn đại biểu hơn ba trăm người đến với Bác. Trong cuộc gặp này, Bác đã chuyển lời thăm hỏi ân cần của Bác đến toàn thể đồng bào, cán bộ, chiến sĩ Vĩnh Linh. Bác chúc đồng bào, cán bộ, chiến sĩ Vĩnh Linh chắc tay súng, vững tay cày, chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi. Và Bác không quên gửi đến đồng bào, cán bộ, chiến sĩ Vĩnh Linh những tình cảm yêu thương nồng nàn của Bác. Bác căn dặn: "Quảng Bình, Vĩnh Linh ở tuyến đầu miền Bắc, tiếp giáp với miền Nam, mọi việc làm tốt hay xấu của các cô, các chú đều ảnh hưởng đến miền Nam, đều có ý nghĩa đến việc bảo vệ miền Bắc. Nếu kẻ địch có hành động liều lĩnh gì thì Quảng Bình, Vĩnh Linh phải đương đầu với chúng trước hết và phải bảo đảm đánh thắng chúng trước hết... Các cô, các chú phải chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang, nhất là dân quân tự vệ...".

Năm 1959, sau khi đi thăm các nước trong phe xã hội chủ nghĩa trở về, Bác đã tặng cho cán bộ và nhân dân xã Vĩnh Kim của Vĩnh Linh một trong hai chiếc máy cày mà một hợp tác xã ở nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Tiệp Khắc đã tặng cho Bác. Tặng máy cày cho Vĩnh Kim là vì Bác vui mừng, xúc động khi biết Vĩnh Kim rất hăng hái trong phong trào xây dựng hợp tác hoá; là vì Bác biết Vĩnh Kim tuy đất ruộng cằn cỗi, thiếu nước vẫn tích cực thâm canh, làm thuỷ lợi để đạt năng suất năm tấn thóc một hécta mỗi vụ. Tặng máy cày cho Vĩnh Kim là vì Bác mong muốn nhân dân Vĩnh Kim nói riêng, nhân dân Vĩnh Linh nói chung hãy ra sức thi đua lao động sản xuất, khai phá thật nhiều đất hoang, cấy thật nhiều lúa, trồng thật nhiều tiêu để xây dựng Vĩnh Kim, xây dựng Vĩnh Linh giàu mạnh, đứng vững trên địa đầu giới tuyến, xứng đáng là luỹ thép kiên cường, là tiền đồn vững chắc của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, sẵn sàng chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam. Chiếc máy cày ấy cho đến nay đã hơn bốn mươi năm trôi qua cán bộ và nhân dân Vĩnh Kim vẫn lưu giữ như một báu vật.

Máy cày Bác Hồ tặng Vĩnh Kim
Chiếc máy cày Bác Hồ tặng xã Vĩnh Kim 50 năm trước 


          Nhìn xa trông rộng, thấy trước những điều có thể xảy ra là tầm cao trí tuệ của Bác. Vào những năm đầu thập kỷ sáu mươi, đế quốc Mỹ ngày càng bộc lộ dã tâm xâm lược miền Nam, kiếm cớ leo thang đánh phá miền Bắc. Trong tình hình đó, Bác biết Vĩnh Linh rồi sẽ trên bom dưới đạn, rồi sẽ ác liệt hơn bất cứ nơi nào. Vì vậy nên ngay từ những năm 1963-1964, Bác đã chỉ thị cho khu uỷ Vĩnh Linh phải ngay từ bây giờ  cần huy động sức dân đào hầm trú ẩn. Bác nhấn mạnh là phải thiết lập cho bằng được trong lòng đất Vĩnh Linh một hệ thống hầm hào, địa đạo thật dày đặc, thật kiên cố thì Vĩnh Linh mới có thể chống chọi được với bom đạn của kẻ thù để bảo vệ tính mạng của nhân dân và bám trụ đánh Mỹ lâu dài được. Vâng lời Bác, khu uỷ Vĩnh Linh đã cho bổ nhát cuốc đào địa đạo đầu tiên tại xã Vĩnh Giang. Và chỉ trong năm năm, từ năm 1963 đến năm 1968, trên toàn địa bàn khu vực Vĩnh Linh đã có cả thảy 114 địa đạo lớn nhỏ được lần lượt ra đời. Trong đó có địa đạo Vĩnh Mốc thuộc xã Vĩnh Thạch được thiết kế quy mô với tổng chiều dài trên 1700 mét. Hệ thống địa đạo Vĩnh Linh đã không những che chở cho nhân dân mà còn giúp bộ đội, dân quân Vĩnh Linh kiên cường bám trụ chiến đấu trong suốt những năm giặc Mỹ đánh phá Vĩnh Linh, đánh phá miền Bắc.

Địa đạo Vĩnh Mốc
Một góc địa đạo Vĩnh Mốc


          Một ngày tháng sáu trong ngôi nhà sàn ở Thủ đô Hà Nội, lòng Bác thắt lại quặn đau khi nghe tin vào lúc chín giờ ngày 20 tháng 6 năm 1966, máy bay B52 của Mỹ ném bom phá sập một góc địa đạo xã Vĩnh Quang làm 61 người, chủ yếu là phụ nữ và trẻ em bị chết. Và Bác đã khóc khi nghe đồng chí Dương Tốn lúc đó là Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội khu vực Vĩnh Linh ra Hà Nội họp, đến báo cáo với Bác.

Bia tưởng niệm
Nhà bia tưởng niệm địa đạo xã Vĩnh Quang (Ảnh N.N.C)



 


          Tấm lòng của Bác Hồ đối với Vĩnh Linh thật là bao dung, nhân ái. Ấy là trong những năm chiến tranh lên đến tột đỉnh ác liệt, cùng với việc chỉ đạo, động viên quân dân Vĩnh Linh bắn rơi thật nhiều máy bay Mỹ, Bác đã họp bàn với Bộ Chính trị cho sơ tán trên ba vạn nhân dân Vĩnh Linh ra các tỉnh phía Bắc để tránh sự huỷ diệt của bom đạn Mỹ. Bác đã trực tiếp giao cho Bộ Quốc phòng và Bộ Công an thực hiện nhiệm vụ đặc biệt này. Khi nghe tin người già, phụ nữ và trẻ em Vĩnh Linh đã tản cư ra đến Nghệ An - quê hương của Bác, Bác đã trực tiếp điện cho hai đồng chí Võ Thúc Đồng, Bí thư tỉnh uỷ và Chu Mạnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An căn dặn phải sắp xếp, bố trí nơi ăn ở cho nhân dân thật chu đáo để nhân dân có điều kiện sản xuất, ổn định đời sống. Hai cái Tết cuối cùng là Tết Mậu Thân và Tết Kỷ Dậu, trước lúc đi xa, Bác đều điện hỏi các đồng chí lãnh đạo tỉnh Nghệ An để biết xem đồng bào K10 (tức nhân dân Vĩnh Linh) sinh sống, sản xuất, học tập ra sao? Đồng bào có bánh tét, thịt lợn, bánh kẹo... ăn Tết không? Bác chỉ thị cho Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An phải tổ chức cho đồng bào Vĩnh Linh ăn Tết thật đầy đủ, chu đáo. Đối với các cháu K8 ở các tỉnh Bắc bộ, thỉnh thoảng Bác cũng gửi thư thăm. Bác mong các cháu dù phải sống xa quê hương, gia đình nhưng cũng phải luôn luôn vui vẻ, thi đua học tập tốt, thực hiện năm điều Bác dạy. Bác căn dặn các đồng chí lãnh đạo khu vực Vĩnh Linh dù khó khăn, bận rộn đến đâu cũng phải mỗi năm một lần ra thăm đồng bào K10 và các cháu K8 để đồng bào và các cháu luôn luôn có được nguồn động viên, an ủi.

Quan tâm yêu thương Vĩnh Linh bao nhiêu, Bác càng tự hào, phấn khởi bấy nhiêu khi nghe tin quân dân Vĩnh Linh, nghe tin bộ đội đảo Cồn Cỏ bắn cháy nhiều máy bay, tàu chiến Mỹ. Trong bốn năm, từ năm 1965 đến năm 1968, Bác đã tám lần viết thư khen ngợi thành tích chiến đấu của quân dân Vĩnh Linh và bộ đội đảo Cồn Cỏ. Mỗi một bức thư Bác đều biểu dương và căn dặn quân dân Vĩnh Linh, bộ đội đảo Cồn Cỏ hãy phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, đoàn kết, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau để vượt qua khó khăn, tạo nên sức mạnh, góp phần cùng với quân dân cả nước quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Trong một bức thư gửi cán bộ chiến sĩ đảo Cồn Cỏ vào ngày 5 tháng 6 năm 1968, Bác viết : "Bác rất vui mừng thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ khen ngợi cán bộ, chiến sĩ đảo Cồn Cỏ chiến đấu dũng cảm, mưu trí, trong một ngày 31/5/1968 đã bắn rơi 4 máy bay Mỹ. Cồn Cỏ xứng đáng là đảo nhỏ anh hùng.

              Bác nhắc các chú phải tăng cường đoàn kết, luôn luôn nâng cao cảnh giác, không ngừng tập luỵên, sẵn sàng chiến đấu, kiên quyết đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn của địch, dành nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa.

Tái bút: Bác tặng các chú hai câu thơ:

Cồn Cỏ nở đầy hoa thắng trận.

Đánh cho tan xác giặc Huê Kỳ".

              Nhân dịp quân dân Vĩnh Linh bắn rơi 200 máy bay giặc Mỹ, ngày 10 tháng 8 năm 1968 Bác đã gửi thư khen ngợi đồng bào, bộ đội và cán bộ Vĩnh Linh: "Bác rất vui lòng thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ khen ngợi đồng bào, bộ đội và cán bộ Vĩnh Linh đã bắn rơi 200 máy bay giặc Mỹ, bắn chìm và bắn cháy 33 tàu chiến các loại.

Vĩnh Linh đánh giặc giỏi, sản xuất giỏi, làm công tác phòng không nhân dân tốt, phục vụ tiền tuyến tốt.

Vĩnh Linh càng đánh càng thắng, càng đánh càng mạnh.

Bác vui lòng báo tin là Quốc hội vừa quyết định tặng Vĩnh Linh thêm một Huân chương Độc lập hạng Nhì nữa.

Quân dân và cán bộ Vĩnh Linh hãy phát huy thắng lợi, kiên quyết cùng quân và dân miền Bắc đánh bại hoàn toàn chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, góp sức cùng đồng bào miền Nam anh hùng dành toàn thắng cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.

Bác tặng Vĩnh Linh hai câu thơ:

Đánh cho giặc Mỹ tan tành.

Năm châu khen ngợi Vĩnh Linh anh hùng".

Thực hiện lời Bác dạy, vượt lên những mất mát thương đau trước đạn bom tàn khốc của kẻ thù, cùng với quân dân cả nước, quân dân Vĩnh Linh đã anh dũng chiến đấu đập tan cuộc chiến tranh phá hoại quy mô và tàn bạo của đế quốc Mỹ. Đã độc lập chiến đấu, hợp đồng chiến đấu bắn rơi 293 máy bay, trong đó có 7 chiếc B52, bắn chìm và bắn cháy 69 tàu chiến các loại của Mỹ. Cồn Cỏ - đảo nhỏ anh hùng cũng đã góp phần bắn cháy 48 máy bay và hàng chục tàu chiến. Mỗi một chiến công của quân dân Vĩnh Linh đều có sự cỗ vũ, khích lệ của Bác mà làm nên. Và, mỗi một chiến công của quân dân Vĩnh Linh đều đã trở thành những bông hoa rực rỡ toả ngát hương thơm dâng lên tặng Bác. Vĩnh Linh đã thực sự "càng đánh càng thắng, càng đánh càng mạnh" như Bác từng khen.

Đến nay đã hơn ba mươi lăm năm Bác đi xa, nhưng những tình cảm yêu thương của Bác, sự quan tâm chỉ bảo của Bác vẫn mãi mãi nồng ấm và toả sáng trong lòng mỗi người dân Vĩnh Linh, thúc giục Vĩnh Linh hãy tiếp nối truyền thống anh hùng trong chiến đấu thành sức mạnh trong lao động sản xuất để xây dựng một Vĩnh Linh giàu đẹp như ngày nào Bác hằng mong đợi.                                                                                                                                                                     NNC


Mời các bạn tham gia cuộc thi thơ Bình Thuận năm 2009

(Xem thông báo ở trang sau)

(22) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

«Trước   1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18  Sau»