Sign up

TRĂNG LÀNG CÁT - NNC

Nguyễn Ngọc Chiến

 

TrănglàngCát

 

TRUYỆN NGẮN

        
         
Sau lễ khành thành cầu Cửa Tùng, Trần Tam không theo đoàn ra Hà Nội ngay mà xin phép được ở lại thêm một thời gian nữa. Nhưng ông không nghỉ lại khách sạn bên bờ bắc mà lững thững một mình xách hành lý đi bộ qua cầu, sang bờ nam, tìm một phòng trọ bình dân ở một làng chài ven biển xin nghỉ lại. Có vẻ như ông rất thông thạo với cái làng chài có tên là làng Cát nằm ở cửa sông này.

          Chủ phòng trọ là một cặp vợ chồng người làng Cát, cả hai đã suýt soát tuổi ba mươi. Họ rời làng ra làm dịch vụ nhà nghỉ ở đây khi cầu Cửa Tùng và tuyến đường nối hai huyện ven biển chỉ mới bắt đầu được khởi công xây dựng. Phòng trọ nằm ngay ven đường, tuy chưa lấy gì làm khang trang nhưng rộng rãi, thoáng mát. Đặc biệt ở đây còn có những bãi cát thoai thoải, rợp bóng cây xanh, vừa yên tĩnh vừa trong lành rất hợp với những người tuổi tác như ông. Trần Tam vẫn có thói quen mỗi lần đi công tác, hay đi du lịch, nghỉ mát cùng gia đình, bè bạn, ông thường tìm những phòng trọ bình dân để nghỉ. Với ông, đây không phải là vấn đề tiền bạc mà cái chính là ông không muốn phải giam mình trong bốn bức tường ở những khách sạn cao tầng, rồi lại phải leo lên trèo xuống cầu thang mỗi khi có việc. Đó là chưa kể đến bao nhiêu phiền toái khác mà ông từng được nếm trải. Một phòng trọ bình dân, tất nhiên đừng tồi tàn quá, nhưng đáp ứng được nhu cầu nghỉ ngơi trong một ngày, thậm chí vài ba ngày, một tuần, đối với ông là lý tưởng hơn cả. Ở đó mọi cái đều hài hoà, gần gũi, nó khiến ông luôn luôn được tự do, thoải mái. Ở đó ông còn cảm nhận được mình lúc nào cũng gần gũi với thiên nhiên, trời mây, non nước, tha hồ mà đắm mình trong suy tư và tưởng tượng. Cũng còn một lý do nữa để ông tìm đến phòng trọ bình dân nơi làng Cát này.

 

 

 

         Hôm qua, với tư cách là chuyên viên cao cấp ngành cầu đường, được tháp tùng Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải vào Quảng Trị công tác, ông đã có một buổi chiều  " chơi hết mình "  chia vui với đồng bào địa phương khi cây cầu được chính thức đưa vào sử dụng nối đôi bờ nam - bắc dòng sông một thời chia cắt đất nước. Vốn tính trầm lặng, ít bia rượu, nên chiều ấy, Trần Tam đã phải ngà ngà say. Say nhưng tỉnh và vui. Ông ra đứng một mình ở bãi tắm, mặc cho sóng gió vờn trên da thịt để được thư giãn với đất trời và thưởng ngoạn cho hết tất cả những gì mà thiên nhiên đã ưu đãi ban tặng cho miền đất này. Trong ráng chiều, biển Cửa Tùng thật đẹp. Trên cương vị công tác của mình, Trần Tam đã từng đi nhiều nơi, đã từng đến nhiều bãi biển đẹp của đất nước, nhưng ông đặc biệt yêu thích vẻ đẹp hoang sơ ở đây. Đó là vẻ đẹp của thiên nhiên, đất trời, biển cả, không cần lắm sự bài trí, sắp đặt của con người. Một vẻ đẹp thuần khiết, trắng trong, tựa như vẻ đẹp của người con gái vừa bước vào độ tuổi trăng tròn. Cảm thấy chưa hài lòng trước những gì mình muốn, Trần Tam đã mấy lần qua lại hai bên bờ sông để được ngắm nhìn cây cầu từ nhiều góc độ khác nhau. Quả là một cây cầu tuyệt vời tọa lạc ngay bên cửa biển. Có lẽ, trên đất nước này, ở mọi con sông, chưa từng có một cây cầu nào lại gần với biển, sát sạt với biển như cây cầu này. Với con mắt của một kỹ sư có thâm niên hàng chục năm lăn lộn trong ngành cầu đường, ông nhận ra cầu Cửa Tùng là một cây cầu vừa vững chắc vừa duyên dáng bởi những đường nét cấu trúc hết sức đặc biệt. Trong ánh bình minh khi mặt trời vừa ló rạng, cây cầu hiện ra cong cong như một vành mi thiếu nữ. Cũng có lúc Trần Tam lại thấy cây cầu nghiêng nghiêng như một mảnh trăng bên cửa biển. Ấy là lúc hoàng hôn mới chỉ kịp buông xuống, mặt biển còn trong cảnh tranh tối tranh sáng, trăng còn trốn đâu đó trong những đám mây chưa vội ló ra. Ngắm nhìn cây cầu, nghĩ về vầng trăng, ông lại nhớ đến Nguyệt, cô du kích làng Cát năm xưa. Ừ, mới đó mà đã mấy chục năm trôi qua. Thời gian thật quả như người ta nói, chẳng chờ đợi ai bao giờ. Không biết bây giờ Nguyệt có còn ở làng Cát không? Cô ấy sẽ vui mừng đến mức nào khi mơ ước của cô ngày xưa bây giờ đã trở thành hiện thực. Một cây cầu hiện đại, đẹp như một công trình du lịch đã vắt mình sang sông, đã sừng sững tọa lạc ngay chính tại quê hương làng Cát của cô. Trần Tam còn nhớ trong một lần bị thương, phải rời làng Cát sang bờ bắc, khi chèo thuyền đưa ông qua quãng sông này, Nguyệt đã từng mơ ước: "Anh Tam ơi, sau này nước nhà thống nhất em mong sẽ có một cây cầu thật to, thật đẹp bắc qua cửa sông này. Ngày ấy, khi vào thăm quê em, các anh sẽ chẳng phải lội sông khổ cực như bây giờ nữa đâu". Hôm đó ông đã trả lời Nguyệt rằng, chẳng phải đợi đến ngày nước nhà thống nhất đâu, mà chỉ một thời gian rất ngắn thôi, khi lành vết thương, ông sẽ trở lại làng Cát, sẽ gặp lại Nguyệt. Nào ngờ từ ngày ấy đến nay coi như biền biệt.

         Đêm ở làng Cát thật yên tĩnh. Một sự yên tĩnh không phải dễ dàng tìm thấy nơi cửa biển được xem là vùng đất đang trỗi dậy thay da đổi thịch từng ngày với cơ man nào là nhà hàng, khách sạn, dịch vụ du lịch giải trí; rồi bến cảng, âu thuyền, khu chế biến thuỷ hải sản...đang đua nhau mọc lên như nấm. Ở đây, ven ngôi làng nhỏ này chỉ có tiếng sóng biển là lúc nào cũng ồn ào, náo nhiệt, lúc nào cũng trầm trầm, bổng bổng không một phút giây ngơi nghỉ. Càng về khuya tiếng sóng càng dạt dào, sâu thẳm. Rồi gió. Gió mênh mang, phóng túng. Gió vô hồi kỳ trận. Gió tạo nên những bản nhạc thiên nhiên réo rắt, vi vu trên những ngọn cây khắp đồi cát ven biển. Ánh trăng ở đây cũng như sáng hơn, trong hơn. Mặt cát phẳng lỳ ròng ròng ánh trăng lan toả. Biển cũng sáng, sáng như đang được thêu dệt bởi hàng triệu triệu chuỗi đăng-ten trên mặt sóng và kéo dài cho đến hết tầm mắt.  Đất trời, non nước, trăng sao như được hoà làm một, lẫn vào nhau, tạo nên một thiên nhiên làng Cát đầy quyến rũ.

 

 

 

          Trần Tam rời phòng trọ lững thững thả bộ ra bãi cát ven biển. Cát lạo xạo, mát lạnh dưới chân. Ông dừng lại và ngồi xuống cạnh một gốc dương liễu. Rồi, như một thói quen vốn có từ những ngày trai trẻ, khi còn làm lính đặc công ém quân chờ lệnh nổ súng, ông đưa mắt nhìn quanh như đang quan sát trận địa. Trong đêm trăng, nơi làng chài ven biển này, dù vạn vật đã thay đổi, dù thời gian đã trôi qua, dù tất cả đang chỉ là mờ mờ, ảo ảo trong ánh trăng thanh, Trần Tam vẫn dễ dàng nhận ra tất cả. Phía nào là làng Thuỷ Bạn, Nhĩ Hạ, Lâm Xuân, Mai Xá...phía nào là sông Hiếu và cảng Cửa Việt. Rồi nơi nào là chỗ trú quân ở Cang Dán trong một đêm mưa tầm tã hành quân chặn địch lấn chiếm vùng giải phóng. Cái cồn cát như quả núi đang bồng bềnh trong trăng kia chính là nơi lần đầu ông gặp Nguyệt, cô du kích làng Cát được ban chỉ huy xã đội giao nhiệm vụ làm giao liên dẫn đường cho bộ đội.

         Nguyệt hai hai tuổi, người mảnh mai, duyên dáng. Con gái làng biển  mười cô như chục không một cô nào có được nước da mịn màng, trắng trẻo, thứ nước da mà tạo hoá từ cổ chí kim vốn chỉ dành riêng cho các cô gái. Hình như ngay từ thuở mới lọt lòng mẹ, người con gái vùng biển ai ai cũng hít thở vị mặn của muối, mùi đắng chát, lam lũ, nhọc nhằn của mồ hôi cha, của nước mắt mẹ nên nước da cô nào cũng đầm đậm, ngăm ngăm, thứ nước da khoẻ khoắn, dãi gió dầm mưa, thứ nước da như lúc nào cũng sẵn sàng lấn át mọi ốm đau, bệnh tật. Nguyệt cũng có một nước da như thế trên một khuôn mặt hình trái xoan. Nhưng mặt Nguyệt lại đẹp ở đôi mắt, một đôi mắt đen lay láy; đẹp ở cặp môi, một cặp môi ươn ướt; đẹp ở mái tóc, một mái tóc rất dày. Trên khuôn mặt ấy còn đẹp ở hàm răng trắng đều, ở nụ cười như lúc nào cũng muốn san sẻ hết niềm vui cho tất cả mọi người. Như bất cứ cô du kích nào ở mặt trận, Nguyệt cũng dép cao su chéo quai sau gót, cũng mũ tai bèo màu xanh, thêm một tấm vải dù màu xanh - chiến lợi phẩm thu được của địch - khoác trên người. Rồi cũng áo bà ba màu đen, quần lụa đen, lúc nào cũng xắn ngang gối. Ra trận thì chỉ thích được mang cạcbin vừa nhẹ vừa gọn. Sau này có AK thì cô nào cũng tranh cho bằng được khẩu báng xếp. Khi gặp con trai, nhất là các chàng lính trẻ vừa từ Bắc vô thì rủ nhau tụm năm tụm ba lại làm bộ bắt nạt, tán tỉnh, rồi thì nghịch ngợm gán ghép, trêu chọc, cấu véo nhau chí choé. Nhà Nguyệt ở ngay đầu làng Cát, một căn nhà chỉ như cái lán nhỏ vừa dựng lên sau ngày bọn giặc ở đây bị ta đánh cho tơi tả buộc phải tháo chạy về bên kia Dốc Miếu. Nghe đâu hồi ấy Nguyệt suốt ngày chỉ làm mỗi một việc: chèo đò. Bến đò ấy nằm ngay ở cửa biển, là một trong ba cái bến đò trên quãng sông này hoạt động hai bốn trên hai bốn giờ trong ngày có nhiệm vụ đưa đón bộ đội, thương binh, tử sỹ...qua lại đôi bờ dòng sông này. Hôm Trần Tam gặp Nguyệt thì cô không còn chèo đò nữa mà đã chuyển sang một công tác khác. Cánh lính nhà ta khi có dịp qua đây không ai là không được nghe một vài mẩu chuyện về cô du kích chèo đò có tên là Nguyệt. Trần Tam cũng được nghe và cứ thấp thỏm mong được gặp Nguyệt, được tận mắt nhìn thấy cô du kích chèo đò dũng cảm năm xưa. Nghe đâu Nguyệt đã có cả thảy gần bảy trăm ngày đêm với trên bảy mươi nghìn chuyến đò đưa đón bộ đội, du kích qua lại nơi đây trong tiếng gầm rú bắn phá dữ dội của các loại máy bay, tàu chiến địch. Nguyệt đã phải hơn mười lần bị thương trong khi làm nhiệm vụ chèo đò...

(Còn nữa)

                                                                                                                                                                                                             N.N.C

Nguyễn Ngọc Chiến

(42) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

HOA RỪNG - NNC

Nguyễn Ngọc Chiến
Hoa Rng
TRUYỆN NGẮN


         (Tiếp theo và hết)

...Với người chiến sĩ giao bưu, có lẽ không có nỗi khổ nào hơn là phải đối mặt với những mùa mưa rừng dai dẳng. Mùa mưa đến, trong khi một số cơ quan, đơn vị được lệnh rút về phía sau nghỉ ngơi, củng cố lực lượng, chỉ để lại một bộ phận nhỏ gìn giữ kho tàng, bảo vệ trận địa... thì các đơn vị giao bưu - thông tin liên lạc hầu như ở đâu vẫn nằm yên đó. Tuy công việc có phần dịu lại, không đến nỗi dồn dập, căng thẳng, đến mức "vắt chân lên cổ" mà chạy như mùa hanh khô, nhưng mọi việc vẫn tuần tự tiếp diễn.

Mỗi mùa mưa đến là ai cũng ái ngại, lo lắng. Suốt từ sáng đến chiều bầu trời lúc nào cũng một màu xám xịt. Rồi những trận mưa như trôi rừng đổ núi. Cả cánh rừng sẫm lại, trở nên huyền bí, rùng rợn. Cùng với mưa là các loài rắn độc, bò cạp, vắt, ruồi, muỗi... sinh sôi nảy nở. Gian lán của "trạm o Lệ" như cánh buồm giữa biển khơi, rung rinh, chao đảo trước những trận mưa như thổi kèn gióng trống. Tấm vải bạt lợp trên mái, qua bao mùa mưa nắng, giờ đã đến lúc mục nát, tha hồ cho nước mưa tuôn vào. Ngoài các túi tài liệu, công văn được giữ gìn khô ráo, còn thì sạp, võng, chiếu... đều ướt sũng nước. Hầm trú ẩn, công sự, giao thông hào nước ngập ngang miệng. Gạo, lương khô và các loại nhu yếu phẩm cần thiết ngày càng trở nên khan hiếm. Trạm A1 phải thay nhau vào rừng bẻ mang, hái rau, hái nấm... về ăn trừ bữa. Cái ăn đã khó, cái mặc còn khó hơn. Mỗi người dù đã hết sức tằn tiện, vẫn chỉ giữ được một bộ áo quần tạm gọi là lành. Những chuyến băng rừng vượt suối, mồ hôi quyện với sương sa, rồi gai cào, đá xước giờ lại dầm mưa, nên bộ áo quần tạm gọi là lành ấy cũng không còn lành lặn nữa. Họ phải khâu chằng vá đụp thay nhau mặc. Vắt, muỗi, ruồi rừng... lúc nào cũng có thể bám vào người hút máu. Người nào người ấy nước da vàng vọt, bủng beo. Ghẻ lở thi nhau mọc khắp thân thể, chân tay.

Nhưng khổ nhất là nữ trạm trưởng. Khổ từ "chân yếu tay mềm" đến những việc nhỏ nhặt rất riêng tư thầm kín. Ngày rời làng Mỹ Tú, lúc khám sức khỏe lên đường, o Lệ là một cô gái khỏe mạnh, béo tốt, vậy mà giờ đây, sau gần bốn năm ở chiến trường, người o nhỏ lại như một cô bé con. Nước da trắng hồng đã chuyển sang màu tím tái. Mái tóc đen dày cứ đỏ quạch lại và rụng dần. Cũng may là o chưa một lần liệt giường, có ốm đau cũng chỉ qua quýt rồi khỏi.

 

 

Hồi giữa mùa mưa, chiến sĩ Truyền chạy công văn về, đang mệt, sẵn có cái võng treo ở góc lán, anh định ngã lưng nằm một lúc cho lại sức. Mới nắm cái tao võng, anh Truyền đã giật mình hỏi o Lệ: "Vừa có thương binh qua đây phải không chị?". Đang ngồi vá áo quần cho anh em, nghe hỏi vậy, o Lệ ngạc nhiên hỏi lại: "Làm gì có thương binh qua đây đâu. Sao anh hỏi vậy?". Truyền chỉ tay vào trong võng: "Thế sao lại có máu trong võng này?". Nghe nói "máu" o Lệ tái mặt, chạy ngay lại chỗ cái võng ái ngại nhìn vào. Khi đã nhìn thấy cái mà đồng đội thắc mắc, o lúng túng sững người đi một lát rồi nhìn sang phía khác nói nhỏ: "Tại tôi sơ ý đấy anh Truyền ạ!". Hiểu chuyện, Truyền bỏ đi. Còn lại một mình, o Lệ lật đật tháo võng. Cổ họng o nghẹn lại, nhưng o cố nén cho đừng bật ra tiếng khóc. Chưa bao giờ o thấy tủi thân như lúc này. Chao ôi! Chỉ một ít vải sạch dùng cho người con gái khi đến ngày đến tháng thôi mà cũng không sao có được. O cũng tự trách mình đã cố giữ gìn rồi mà nỡ...

Ngay trưa ấy, trạm phó Vị và Truyền mang đến cho o một bộ quần áo cũ. Truyền rơm rớm nước mắt nghẹn ngào nói: "Lúc nãy, tôi lú lẫn... u mê quá... chị bỏ qua cho!". Còn anh Vị thì tỉnh bơ, cố làm cho trạm trưởng vui lên: "Đàn ông con trai chúng tôi thì mặc sao cũng xong, miễn đừng hở mông ra là được... chị cầm thêm cái quần này mà thay đổi, còn cái áo, chị...". Trạm phí Vị không nói hết câu nhưng o hiểu ý anh muốn nói gì. Nước mắt lưng tròng, o nhìn hai người đồng đội áo quần dúm dó, o chỉ muốn ôm lấy các anh mà khóc cho thỏa cái nghĩa tình đồng đội bấy nay.

Bước sang mùa khô năm một nghìn chín trăm sáu mươi tám, để trả đũa đòn sấm sét  của ta trong dịp tết Mậu Thân, địch cho máy bay đánh phá ta với một cường độ ác liệt chưa từng có. Trạm A1 nằm trong khu vực bị chúng đánh phá nhiều nhất. Cả cánh rừng rộng lớn, trước đây tươi xanh là thế mà giờ đây tất cả đã gần như tan hoang trước các loại đạn bom và chất độc hóa học của Mỹ.

Và một ngày như thế đã diễn ra.

Hôm ấy, khi một khối lượng công văn vừa được chuyển đến và trạm A1 vừa kịp phân công nhau chuẩn bị lên đường thì bỗng trong không trung có tiếng ù ù vọng tới. Chẳng cần hỏi nhau, mọi người đều biết đó là tiếng máy bay B52 và cùng nhảy xuống hầm trú ẩn.

"Ầm! Ầm! Ầm!...". Một loạt tiếng nổ kéo dài. Mặt đất rung lên tròng trành, chao đảo như con thuyền gặp sóng dữ. Tia bom quét loang loáng ngang dọc. Cây rừng đổ gãy, đất đá khói bụi mù mịt. Ép mình dưới con hào chật hẹp, o Lệ thấy ngực mình nhói đau như có một tảng đất lớn vừa đập vào. Bằng kinh nghiệm, o biết mình bị sức ép do một quả bom nổ gần. O khó nhọc làm mấy động tác lấy lại thăng bằng rồi cố vươn người lên khỏi lòng hào, nhìn ra xung quanh. O không thể nhận ra quang cảnh trước đây nữa. Cái lán cũng biến đâu mất tăm. Chỉ có lửa cháy, cây rừng đổ gãy ngổn ngang và đất đá dồn lại từng đống. "Anh Vị ơi! Các anh ơi!". - O rán sức cất tiếng gọi nhưng không có tiếng trả lời. O ôm lấy một cành cây gãy gác ngang miệng hào cố đu người đứng lên rồi loạng choạng kéo theo túi cứu thương đi về căn hầm trước cửa lán. Căn hầm không còn nữa. Trước mặt o là một hố bom to tướng. Bước thêm mấy bước, một cảnh tượng đau lòng hiện ra trước mắt o: Bên căn hầm chữ A bị hất lên khỏi lòng đất, hai chiến sĩ Truyền và Quýnh đã hy sinh. Cạnh đó, tại một quãng giao thông hào, Choan cũng đã chết. Nằm cạnh Hồ Choan là trạm phó Vị, bị thương nặng ở ngực. Ra một đoạn nữa là Chêm cũng bị thương gãy một chân.

Chỉ trong khoảnh khắc, người nữ trạm trưởng đã nhận ra tất cả. Sức lực o lúc ấy như được ai tiếp cho bỗng tăng lên gấp bội lần. Giật tung cái miệng túi cứu thương, o nhào đến bên trạm phó. Anh Vị nằm ngửa, cả người anh nhuộm đỏ một màu của máu và đất. Anh khe khẽ nhúc nhích, xua xua một bàn tay, cất giọng thềo thào: "Tôi... tôi...không sống... được đâu, chị đừng... băng nữa. Chị... băng... băng cho Chêm đi... Ngừng một lát, anh lại thì thào - Chị... chị... cầm lấy... túi công văn... này, trong ấy... có có...hai... tài liệu khẩn - Anh mấp máy đôi môi, muốn nói thêm một điều gì nữa, nhưng giọng cứ ú ớ không phát ra thành tiếng được. Cuối cùng anh gượng cười trước khi nấc lên lần cuối. O Lệ gục đầu lên ngực trạm phó Vị, rồi ngẩng lên từ từ vuốt mắt cho anh. Băng cho Chêm xong o đến bên các liệt sĩ, thứ tự vuốt mắt cho từng người.

Cánh rừng trở lại yên tĩnh như thuở hoang sơ của nó. Vài ngọn lửa leo lắt cháy. Vài đám khói tỏa lên. Vài tiếng chim lẻ loi, lảnh lót gọi bạn...

 

 

Không thể để xác đồng đội nằm phơi trên nền đất, o đã quả quyết cầm xẻng đi đến con hào gần chỗ các anh nằm và bắt đầu mải miết làm việc. Công việc thiêng liêng, cao quý ấy được o tiến hành một cách chu đáo, cẩn trọng trong khoảng hai giờ thì xong. Và bây giờ bên những ngôi mộ vừa được đắp xong không hoa lá, không hương khói, o Lệ ngồi bệt xuống. Cả người o cũng đỏ quạch một màu đất như những ngôi mộ kia.

"Anh Vị, anh Truyền, anh Quýnh, anh Choan ơi! Vậy là từ nay em không bao giờ được gặp các anh nữa rồi. Các anh đã ra đi trong lúc công việc vẫn đang hàng ngày, hàng giờ rất cần đến các anh. Các anh ơi! Từ nay em sẽ biết dựa vào ai và ai sẽ cùng em sẻ chia những gian lao vất vả". O nức nở gọi tên các anh và rạp cả người xuống sát đất như muốn ôm từng nấm mộ vào lòng.

Tôi chẳng giữ vị trí gì trong câu chuyện này mà chỉ là người đã tình cờ gặp o Lệ - người nữ giao bưu ngày ấy tại quê chồng của o ở Lộc Đại - một cái làng nhỏ nửa phố nửa quê nằm về phía bắc thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Người nữ giao bưu ngày ấy giờ đã bước vào tuổi sáu mươi, mái đầu đã lưa thưa điểm bạc, nhưng gương mặt, nụ cười vẫn luôn luôn gần gũi, dễ mến. Gương mặt ấy, nụ cười ấy cho dẫu không còn tươi trẻ nữa, nhưng tất cả vẫn như còn phảng phất một nét đẹp duyên dáng, mộng mơ của một thời con gái khi đang là chiến sĩ giao bưu bên những cánh rừng Trường Sơn thuở nào.

Mấy mẩu chuyện tôi chép trên chắc hẳn chưa phải là một truyện ngắn hoàn chỉnh. Nó chỉ là một phần nhỏ những kỷ niệm trong vô vàn những kỷ niệm không bao giờ phai mờ trong cuộc đời o. Mỗi một kỷ niệm không chỉ đơn thuần là những dòng ký ức của riêng o mà cao hơn thế nữa nó còn là của cả một tập thể những chiến sĩ giao bưu đã từng sống, công tác, chiến đấu và hiến trọn tuổi thanh xuân của mình cho sự nghiệp kháng chiến của dân tộc và  góp  phần tô thắm trang sử truyền thống "trung thành - dũng cảm - tận tụy - sáng tạo - nghĩa tình" của ngành Bưu điện Việt Nam.

Trong buổi gặp gỡ ngắn ngủi hôm ấy, tôi đã vui miệng hỏi o Lệ về cuộc sống hiện tại. O cho biết, chồng o trước đây cũng là bộ đội chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị. ông nghỉ hưu năm một nghìn chín trăm chín mươi với cấp bậc thiếu tá. Ông chính là chiến sĩ quân báo bị sốt rừng quật ngã được o chăm sóc ngày nào ở lại trạm A1. Hai người gặp nhau rồi yêu nhau trong một lần cả hai cùng về dự Đại hội chiến sĩ thi đua tổ chức ở Cam Lộ vào năm một nghìn chín trăm bảy mươi hai. Và bây giờ, khi đã nghỉ hưu, ba người con đi công tác xa, hai ông bà vẫn tích cực làm ruộng, chăn nuôi lợn gà và thỉnh thoảng đưa nhau về thăm quê ngoại của các con ở Quảng Trị.

O còn cho tôi biết: mới đây, được sự mách bảo của một số cán bộ ngành Bưu điện, thân nhân các liệt sĩ trạm A1 ngày ấy đã tìm đến gặp o có ý nhờ o vào Quảng Trị, chỉ nơi an táng các liệt sĩ đã hy sinh cách đây hơn ba mươi năm về trước, để quy tập các anh về nghĩa trang. O đã xúc động nhận lời và đang chuẩn bị thực hiện chuyến đi ý nghĩa ấy trong một ngày gần đây.

N.N.C

(30) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

HOA RỪNG - NNC

Nguyễn Ngọc Chiến
Hoa Rng
TRUYỆN NGẮN

          Buổi sáng, khi cơn mưa rào vừa dứt thì ánh mặt trời cũng le lói rọi đến. Cả cánh rừng phía tây nam phút chốc sáng bừng lên. Ánh sáng như những làn khói mỏng cứ vần vụ bay lơ lửng giữa các thân cây, cành lá và tạo ra vô số những vòng tròn lấp lánh trên nền đất rừng ẩm ướt. Không gian tĩnh lặng. Xa xa, từ hướng đông nam, thỉnh thoảng vọng lại tiếng đại bác cầm canh, tiếng ù ù của máy bay L19. Và, đâu đó rất gần có cả tiếng bước chân nghe hối hả, thậm thịch. Hơn chục chiến sĩ Giải phóng quân từ phía bắc bươn bả đi vào rồi dừng lại ở một cái lán nhỏ. Họ lặng lẽ tháo ba lô, súng đạn ra khỏi người. Rồi cứ thế kẻ đứng người ngồi, vừa rút khăn lau mồ hôi vừa phất phơ mũ tai bèo làm quạt. Giọng Bắc, giọng Trung rôm rả nổi lên: "Trạm A1 nằm đây heo hút quá các cậu ơi!". "Sao lại trạm A1, "trạm o Lệ"   chứ!". "Các cậu có biết vì sao gọi là "trạm o Lệ" không?". "O Lệ là đồng hương của tớ đấy!" "Này! Các cậu có biết o Lệ có đôi chân đi rừng tuyệt vời như thế nào không?"... Một cô gái đầu đội mũ tai bèo, lủng lẳng hai bím tóc hai bên, từ trong lán đi ra, tay xách theo một túi vải và một chùm bi đông nước, đến gần đám đông, cất giọng nhỏ nhẹ: "Xin mời các anh ăn tạm lương khô, uống nước lá rừng và nghỉ một lúc cho khỏe rồi hãy đi tiếp. Chặng đường còn lại cũng khá xa và rất nhiều đèo dốc đấy các anh ạ!". "Đồng chí giao bưu ơi! Đây có phải là "trạm o Lệ" không?". - Một chiến sĩ cất tiếng hỏi. Cô gái có vẻ ngượng nghịu khi trả lời: "Dạ đúng, đây là "trạm o Lệ" đây!". "Đồng chí ơi, đồng chí có thể cho chúng tôi gặp o Lệ một lát có được không?". - Một chiến sĩ khác đề nghị. Cô gái ngước cặp mắt đen tròn nhìn mọi người một lượt như đắn đo điều gì rồi tươi cười trả lời: "Em là Lệ đây! Các anh cần gặp em...". Cô gái mới nói có thế tất cả đã ồ lên vui vẻ: "Trời ơi! Vậy mà không giới thiệu ngay từ đầu cho tụi tôi hay". "Cứ ngỡ làm trạm trưởng thì tướng mạo o phải như bà Phó Đoan, chứ ai ngờ...". "Ở rừng lâu ngày mà trông em còn xinh quá!". "Bao nhiêu tuổi rồi Lệ ơi?"... Một người trạc ngoài ba mươi tuổi, dáng chừng là chỉ huy chìa cả hai bàn tay, bắt tay cô gái, giọng xứ Nghệ hồ hởi: "Tụi tui muốn gặp o nỏ có chuyện chi quan trọng cả mà thiệt tình là muốn chộ o coi thử người ra răng mà gan dạ, dũng cảm rứa. Nay gặp đây, tụi tui xin có lời chúc mừng o, chúc mừng tất cả các chiến sĩ giao bưu thân yêu của chúng ta trên tuyến đường vô cùng gian khổ, ác liệt này".

Hai má người nữ giao bưu chợt hồng lên, cặp mắt chớp chớp liên hồi rồi như quá xúc động, o nói bằng một giọng nghẹn ngào: "Em cám ơn các anh đã khen ngợi để cổ vũ, động viên chúng em. Chứ công việc của chúng em làm sao có thể sánh được với công việc của các anh. Chúng em gian khổ một chứ các anh gian khổ mười". "O đừng nói rứa! Công việc mô của cách mạng cũng có cái khó khăn, gian khổ riêng của nó. Những chiến sĩ giao bưu như các o, các ả, các eng nếu không có lòng dũng cảm, tận tụy thì mần răng những tài liệu, công văn... kịp đến với chiến trường. Tụi tui đã nghe nói nhiều về o và những thành tích chiến công của trạm giao bưu mang tên o...". Đây không phải là lần đầu tiên o Lệ được nghe những lời cổ vũ, động viên của các đoàn khách từ Bắc vào Nam, từ Nam ra Bắc mà trạm A1 đón từ các trạm khác đến hoặc tiếp nhận đưa từ trạm A1 đi. Bản thân người nữ trạm trưởng không thể hiểu vì sao cái tên Lệ của mình lại được các đoàn khách lấy đặt tên cho trạm giao bưu A1. Thật vậy, bất kỳ ai, từ bác cán bộ cấp quân khu, cấp tỉnh, đến anh chiến sĩ quân báo, chiến sĩ dân công... khi có dịp qua đây, thường gọi trạm giao bưu A1 là "trạm o Lệ". Mới đầu nghe vậy, o Lệ thấy khó chịu làm sao! Vì o nghĩ: Bản thân o có phải tài cao, đức rộng gì đâu mà vinh dự được người ta lấy tên đặt cho nơi này chỗ kia như kiểu lấy tên bà Nguyễn Thị Định, Phó tư lệnh quân Giải phóng miền Nam để đặt cho cái dốc nào đó là "Dốc Bà Định".

Trạm A1 hay "trạm o Lệ" chỉ là một cái lán dã chiến rộng  chừng hai chục mét vuông vừa là chỗ làm việc, nghỉ ngơi, vừa là nơi cất giấu tài liệu, công văn... Còn quân số thì chỉ vỏn vẹn có sáu người. Mà sáu người chỉ duy nhất có một nữ là người trạm trưởng. Hai năm rồi, trong căn lán nhỏ bé giữa cánh rừng heo hút, xác xơ vì bom Mỹ này, họ đã sống đồng cam cộng khổ, san sẻ cho nhau từng niềm vui, nỗi buồn. Và, cũng hai năm rồi, bằng sáu đôi vai: khiêng, vác, gùi, cõng; sáu đôi mắt dò dẫm tìm đường, sáu đôi bàn chân băng rừng vượt suối, lúc bình thản ngao du, lúc lắng lo vội vã, và cả lúc hiểm nguy rình rập, cái chết cận kề... bao nhiêu những bức điện, chỉ thị, công văn; bao nhiêu những vù khí, thuốc men và bao nhiêu những đoàn khách là cán bộ các cấp các ngành, các đơn vị lực lượng vũ trang... đã được họ vận chuyển, đưa đón đi đến nơi về đến chốn một cách trót lọt, an toàn. Trong công việc thầm lặng nhưng cực kỳ quan trọng này của trạm giao bưu A1, người nữ trạm trưởng Nguyễn Thị Lệ lúc nào cũng nổi lên như một bông hoa rừng tươi thắm, tỏa ngát hương thơm. Cũng có lẽ vì thế mà  cái tên "trạm giao bưu A1" đã như bị lãng quên  đi, để thay vào đó bằng một cái tên khác rất dễ thương là "trạm o Lệ". Và có lẽ do cái tên "trạm o Lệ" vừa là lạ, vừa gợi cảm mà cánh đàn ông, nhất là những chàng lính trẻ khi qua đây , việc đầu tiên họ tò mò muốn biết là o Lệ người ra sao? Năm nay bao nhiêu tuổi? Chồng con gì chưa?  Khi gặp mặt thì họ say sưa ngắm, vồ vập chúc mừng và cả tán tỉnh nhăng cuội bằng  đủ mọi lời lẽ yêu thương - hẹn hò - nhớ nhung tha thiết nữa.

 Không phải lúc nào ở trạm giao bưu A1 cũng đầy ắp tiếng cười và rộn rã những lời cổ vũ, chúc mừng. Theo yêu cầu của mặt trận, nhiệm vụ đặt ra cho các chiến sĩ giao bưu ngày càng nặng nề, cấp bách. Bọn địch cũng tăng cường tung lực lượng biệt kích, thám báo tỏa đi các ngả rừng nhằm đánh hơi tiêu diệt để cắt đứt các đường dây giao bưu, thông tin liên lạc của ta. Vất vả, đói khát, sơn lam  chứơng khí của núi rừng miền tây đã bao phen làm người giao bưu khốn đốn. Trạm A1 đã có quá nửa quân số  bị sốt rừng hành hạ. Nhiều cán bộ, chiến sĩ ra Bắc vào Nam, khi qua đây, không may bị thương, bị ốm phải nằm lại. Trạm A1 trở thành trạm y tế nhỏ, vừa phải điều trị chăm sóc, vừa phải nhường cơm sẻ áo cho các chiến sĩ.

Có lần, anh chiến sĩ có tên là Quýnh sau khi chuyển công văn đi đã cõng về trạm một người lính đặc công bị sốt rét rừng quật ngã. Thật không có một khó khăn nào lại có thể khó khăn như trường hợp tương tự. Nếu cạn kiệt lương thực thì còn có măng tre, rau rừng để thay thế. Nếu phải trèo đèo, lội suối, đôi bàn chân có tê dại đi thì cũng còn có lúc được nghỉ ngơi. Nếu không may bị lạc đường, một mình đơn độc giữa rừng sâu thì đi mãi, dò mãi, rồi thì cuối cùng cũng đến lúc tìm về được với đồng đội. Đằng này... Thật quả là một tình huống éo le, mà dù có cố gắng đến đâu cũng phải tỏ ra bất lực. Xung quanh là núi rừng bao phủ, thuốc men không có, trạm quân y lại ở xa hàng chục cây số.. Những viên thuốc chống sốt rét trạm A1 dành dụm bấy nay, o Lệ đã cho người lính uống hết mà bệnh tình của anh vẫn không hề thuyên giảm. Người anh lúc nào cũng nóng bỏng, xâm xấp mồ hôi, hai mắt đỏ kè, vô cảm. Ấy vậy, nhiều lúc anh lại rét run lên cầm cập. Có bao nhiêu tăng, võng o Lệ đắp cả lên người cho anh mà anh vẫn không sao hết lạnh, hết run. Thỉnh thoảng, giữa hai đợt nóng - lạnh, anh có nằm yên ngủ được một lát nhưng giấc ngủ thường là chập chờn, mộng mị. Lúc ấy, tay chân anh quờ quạng và miệng hét toáng lên gọi tên ai đó.

          Hai ngày sau anh lính đặc công sốt rất nặng. Lại đúng vào lúc trạm vắng hoe không một bóng người. O Lệ phải thường xuyên có mặt chăm sóc anh. O ngồi cho anh dựa, truyền hơi ấm cho anh mỗi khi anh chuyển lạnh. O quạt cho anh, đắp khăn ướt cho anh mỗi khi anh chuyển nóng. Đôi khi o còn rủ rỉ hát cho anh nghe. Tiếng hát buồn buồn tha thiết yêu thương của o như xoa dịu cơn sốt, giúp người lính nằm yên chìm dần vào giấc ngủ. Cơn sốt ở người lính như có thuốc thần cứ hạ dần. Vài ngày sau thì anh khỏe hẳn và nóng ruột đòi lên đường. Trong thời gian đó o Lệ phải liên tục chạy công văn. Hơn một tuần ở bên nhau, hai người chưa một lần trò chuyện để biết được tên tuổi, quê quán của nhau. Hôm được trạm phó Vị cho biết giờ lên đường, người lính mới đâm hoảng. Anh đi ra đi vào, hướng về phía rừng chờ đợi. Rồi khi biết chắc chắn rằng, người nữ trạm trưởng sẽ không kịp về trước lúc anh lên đường thì anh buồn bã đi vào lán và ngồi lại ở đó cho đến lúc người giao bưu đến giục anh lên đường. Đêm ấy o Lệ trở về trạm, chiến sĩ Choan, chàng trai người Vân Kiều trao cho o một mảnh giấy gấp làm tư: "Người bộ đội đi rồi. Anh Vị đưa nó đi. Nó gửi lại cái giấy này cho chị. Coi bộ nó thương chị lắm lắm!". Bên ánh đèn dầu, o Lệ mở tờ giấy ra đọc: "Lệ em! Cho phép tôi được gọi em như thế. Giá như không phải là mệnh lệnh chiến trường, tôi sẽ ở lại đợi em đến cùng. Lệ ơi! Tôi mãi mãi biết ơn em. Và, dù không được em cho phép, tôi cũng tự hứa với lòng tôi là sẽ mang theo hình bóng em đi khắp nẻo chiến trường. Ôi! Giá như một ngày nào đó, tôi may mắn được gặp lại em..." (Còn nữa)

N.N.C

(30) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

QUÊ HƯƠNG - NNC

Nguyễn Ngọc Chiến

 

QuêHương

 

TRUYỆN NGẮN


          (Tiếp theo và hết)

...Thằng Đông càng lớn lên càng giống bố như đúc. Người nó bụ bẫm, chân tay mập mạp, nước da mịn màng. Cả khuôn mặt nó từ cái trán, đôi mắt, cái miệng tạc như bố nó lúc còn nhỏ. Nó đã gần một năm bú sữa của cô ngay sau khi cô cai sữa cho bé Nguyệt. Rồi nó ăn bột, ăn cháo, ăn cơm mớm và bây giờ thì nó đã tự tay bưng được bát cơm ăn một mình. Nó cũng đã bập bẹ tập nói và luôn miệng gọi cô Chiêm "bẹ! bẹ". Năm nó lên hai, cô Chiêm đột ngột nhận được thư chồng. Lá thư được một người đồng đội của chồng cô bị thương ra Bắc an dưỡng chuyển tới. Trong bức thư dài gần bốn trang giấy, có đoạn chồng cô viết:

"Chiêm em!

Anh đã nhận được thư của Lâm từ rất lâu và đã nghe cô ấy kể lại tất cả mọi chuyện. Anh không ngờ em lại có một tấm lòng cao thượng và bao dung đến như thế. Giá được tạo hóa cho sống hai lần, anh cũng không bao giờ đền đáp được công ơn bao la như tình mẹ của em. Chuyện của anh và Lâm không những làm cho em khổ sở về tinh thần mà còn làm em phải vất vả, chịu đủ đường thiếu thốn, khó khăn vì phải chăm lo cho giọt máu của anh. Trong bức thư này, anh chẳng biết phải nói gì, làm gì để được em tha thứ. Anh chỉ cầu trời cho em luôn được mạnh khỏe để thay anh nuôi bé Nguyệt, chăm sóc bố mẹ anh và nuôi cả đứa con tội lỗi của anh. Đến ngày đất nước thống nhất, anh sẽ trở về, anh sẽ làm mọi việc để được em tha thứ và để được đoàn tụ cùng em và các con..."

Nhưng chú Phàn đã không bao giờ trở về nữa. Chú đã vĩnh viễn nằm lại ở chiến trường. Bốn tháng, kể từ sau ngày cô Chiêm nhận được lá thư của chú thì cô nhận được giấy báo tin chồng cô hy sinh. Chú Phàn đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ phá bom nổ chậm để mở đường cho xe ra tiền tuyến. Vậy là lời ước hẹn của chú đã mãi mãi theo chú ra đi. Cô Chiêm đau đớn tưởng như đứt từng khúc ruột. Rồi tiếp đến là việc bố chồng lăn ra ốm khi biết tin con trai hy sinh. Những tiếng sét cứ nổ rền rĩ trên đầu cô. Cô phải gắng gượng hết sức để đừng bị ngã gục. Và cô đã vượt qua được, đã đứng thẳng được, lo toan cho cả gia đình.

 

 

Bố chồng cô ngày một ốm đau, suy kiệt. Hơn một chục ngày ông nằm liệt giường cứ tên con mà gọi, mà khóc. Rồi khi hết gọi tên con ông lại thở ngắn thở dài, lầm rầm khấn vái ông bà cho ông được ra đi cùng con ông. Cô Chiêm đã tìm đủ thuốc, đủ thầy mà bệnh tình của ông vẫn không hề thuyên giảm. Ngày ủy ban xã tổ chức lễ truy điệu cho con ông, ông đã mấy lần suýt chết bởi những cơn đau bất thần ập đến.

Từ trụ sở Ủy ban cô Chiêm một tay dắt bé Nguyệt, một tay bế cu Đông trở về. Cả ba mẹ con đầu chít khăn tang trắng xóa. Bước vào nhà, cô Chiêm đặt cu Đông xuống mé giường cạnh chỗ bố chồng nằm và ngồi xuống cạnh con. Những người họ hàng ruột thịt, láng giềng thân thích cũng đã có mặt đông đủ. Cô Chiêm cố nén những tiếng nấc, nắm lấy tay bố chồng rồi nhìn mặt mẹ chồng nói khẽ:

- Thưa thầy, thưa u! Hôm nay con có chuyện này muốn thưa với thầy, với u...

Nói đến đó cô không nói tiếp được nữa. Những tiếng nấc đã bất chợt dâng lên cắt ngang tiếng nói của cô. Những người có mặt cùng dồn mắt về phía cô. Ông bố chồng cũng nhúc nhích, nhấp nháy hai con mắt nhìn mặt nàng dâu. Rồi ông hỏi con, giọng thều thào, yếu ớt:

- Có chuyện gì mà thưa gửi vậy con?

Trong khi đó thì thằng cu Đông cứ ngo ngoe, lúc lắc cái đầu quấn khăn tang và mở to đôi mắt thơ ngây nhìn ông. Nó như chẳng thấy khó chịu chút nào khi phải ngồi mãi cạnh ông. Ngược lại, nó có vẻ như tỏ ra thích thú ông. Phải chăng chiếc chăn ông đang đắp có in hình mấy con công đang xòe đuôi múa hay bởi tại bộ râu quai nón bên cằm ông vừa là lạ vừa oai phong đã cuốn hút nó? Nó tò mò nhìn mặt ông, rồi đột nhiên nó trườn khỏi tay mẹ nó, leo lên nằm trên người ông, miệng nó ngọng nghịu "Ông...ông...".

Chẳng ai để ý đến thằng bé!

- Thầy ơi! U ơi! Cô Chiêm đã bình tâm lại - con đã có tội giấu thầy, giấu u một chuyện mà đúng  ra con phải nói với thầy với u từ lâu. Nay nhà con đã hy sinh - Cô Chiêm lại phải dừng lại lau nước mắt - Trước vong linh của anh ấy, con xin được nói ra sự thật này. Cô Chiêm bế cu Đông đứng dậy, hướng mặt nó về phía bố mẹ chồng - Thầy ơi! Thầy hãy nhìn kỹ xem thằng Đông nó giống ai mà thầy không nhận ra. U ơi! Có phải mặt thằng Đông một mặt với nhà con không, một mặt với thầy con không? Hôm nay, trước vong linh của nhà con, con muốn cho thầy u biết rằng, thằng Đông nó...nó chính là giọt máu của nhà con, chính là cháu nội của thầy u. Rồi con sẽ kể ngọn ngành cho thầy u nghe mọi chuyện. Còn bây giờ thầy u hãy nghe đọc lá thư này. Đây là lá thư cuối cùng của nhà con gửi cho con. Anh ấy viết lá thư này khoảng bốn tháng trước lúc anh ấy hy sinh - Cô Chiêm lấy ra lá thư đưa cho thằng Đông cầm rồi đặt nó ngồi xuống cạnh ông nội nó. Đoạn, cô bỏ ra ngoài.

Mọi việc diễn ra sau đó thật bất ngờ. Ai có mặt nghe bức thư cũng phải lấy làm sửng sốt vì ngạc nhiên. Và ai cũng bồi hồi lặng đi. Không gian như bị nén chặt lại mấy phút sau khi người nào đó đọc xong bức thư. Rồi bỗng nổi lên tiếng trầm trồ của những người có mặt. Ông bố chồng như được tiếp sức bởi một loại thuốc thần tiên. Như một người chưa từng bị ốm đau bệnh tật bao giờ, tự nhiên ông ngồi dậy. Rồi ông ôm lấy cháu ông. Nước mắt ông cũng tự nhiên trào ra. Nghe nói sau đó nhờ có niềm vui từ thằng cháu trai mang lại mà ông dần nguôi ngoai đi nỗi đau mất con, sức khỏe ông hồi phục lại rồi khỏe hẳn. Tâm tính ông cũng thay đổi. Ông sống thêm nhiều năm nữa trong tình yêu thương, hòa thuận của cả gia đình.

 Sau khi bố mẹ chồng lần lượt qua đời, cô Chiêm vẫn ở vậy thờ chồng nuôi con. Sóng gió thương đau của cuộc đời cô như đã tạm ngưng khi hai con cô càng lớn lên càng ngoan ngoãn, học giỏi. Rồi đất nước thống nhất. Anh trai cô về thăm. Mấy năm sau, hai con cô lần lượt vào đại học. Từ Hà Nội, con trai cô gửi thư về cho cô. Bức thư chỉ có ít dòng, lại xa xôi bóng gió nhưng sâu nặng nghĩa tình mẹ con và giúp cô vững tâm hơn trong cuộc sống.

"Mẹ kính yêu của con!

Mỗi lần về thăm mẹ con luôn đọc được trong mắt mẹ có một nỗi buồn, một nỗi lo nào đó rất xa xăm. Dù chưa một lần được mẹ kể cho nghe câu chuyện cổ tích của đời mẹ, nhưng tự con, con cũng có thể kể được cho con nghe. Vì thế mà con hiểu được tất cả nỗi lòng của mẹ. Nhưng mẹ ơi! Nếu quả đúng như thế và càng như thế thì con càng kính yêu mẹ hơn".

Đọc thư con cô Chiêm đoán là con trai cô qua những người bà con, nó đã lờ mờ biết được phần nào về thân phận của nó. Một năm sau, Đông tốt nghiệp ra trường. Với tấm bằng kỹ sư mỏ - địa chất nó được điều về công tác ở vùng than Quảng Ninh. Còn Nguyệt tốt nghiệp đại học sư phạm trước Đông  một năm, thì về làm giáo viên dạy học ở Nam Định. Chúng lấy chồng, lấy vợ, sinh con đẻ cái, nên mỗi năm chỉ vài lần đưa nhau về thăm quê. Cô Chiêm thành người lẻ loi, đơn chiếc sớm hôm một mình. Không còn đủ sức khỏe cáng đáng việc đồng áng, cô quay sang làm bạn với chậu nước, tổ kén làm nghề kéo đũi. Người phụ nữ quê cô từ bao đời nay không ai là không biết làm nghề này. Bởi nó là một nghề truyền thống. Một nghề truyền thống của riêng người phụ nữ và rất hợp với những người tuổi tác như cô.

 

 

Buổi tối mùa hè ở quê nội thật là nên thơ và huyền diệu. Ánh trăng đêm rằm như một dòng thác bạc cứ bình thản chảy lai láng khắp mọi nơi. Cả bầu trời như được dát ngọc bởi vô vàn các vì sao lấp lánh. Mảnh sân nhỏ nhà cô tôi sáng tựa ban ngày. Ánh sáng lan cả vào tận hiên, chỗ cô tôi đang ngồi kéo đũi. Chậu nước trước mặt cô cũng long lanh, sóng sánh ánh trăng. Mấy cây cau trước sân nhà đứng im lìm như những người lính canh, dìu dịu tỏa hương. Tôi ngồi cạnh cô tôi vừa thưởng thức ánh trăng vừa trò chuyện với cô. Đã khuya rồi mà cô vẫn mải miết làm việc. Tôi vẫn không buồn ngủ, mặc dù đã mấy lần cô giục tôi đi ngủ trước. Không hiểu sao tôi cứ thích được nhìn thấy cô làm việc. Gần một buổi chiều nay, kể từ lúc gặp cô, tôi cứ quẩn quanh bên cô như một đứa trẻ con. Tôi thấy cô lúc nào cũng bận bịu với nghề đũi. Lúc thì cô luộc kén. Rồi khi luộc xong, cô lại vớt ra nắm lại từng nắm thật khô. Xong, cô lại ngồi giằng sợi. Đó là những nắm sợi cô đã kéo chiều qua và sáng nay. Chiều nay, lúc sâm sẩm tối, tôi thấy mệt mỏi nên vào giường nằm. Còn cô vẫn ngồi kéo đũi ở hiên. Tôi nằm nhưng không ngủ được. Đầu óc tôi cứ mơ mơ, màng màng về cuộc đời cô mà bố mẹ tôi đã bao lần kể cho chị em chúng tôi nghe. Bây giờ thì tôi lại ngồi bên cô. Và tôi  lại được thỏa thích ngắm mãi khuôn mặt cô tôi trong ánh trăng rằm. Có một nét gì đó khuôn mặt của bố tôi trên khuôn mặt của cô. Và có một nét gì đó khuôn mặt của cô trên khuôn mặt của chị em tôi. Chậu nước xao động, rung rinh trong ánh trăng tựa như một tấm gương soi bóng cô cháu tôi trong đó.

Trăng đã lên cao và cô tôi vẫn mãi miết làm việc. Đôi tay cô vẫn uyển chuyển, nhịp nhàng kéo sợi. Những sợi kén đũi màu vàng thẫm, nhỏ li ti vẫn đều đặn từ tay cô nhả ra rồi loăng quăng, dập dềnh nổi trên mặt nước. Chúng trôi dạt về phía trước mép chậu và cuộn lại ở đó. Những sợi kén đũi có vẻ như to nhỏ không đều, lại có phần thô ráp này ấy thế mà rồi được dệt thành những vuông vải đũi. Từ vuông vải đũi của nghề thủ công truyền thống đất Sơn Nam và cả đất Kinh Bắc sau rồi qua những công đoạn khác đã trở thành những mặt hàng xuất khẩu có giá trị. mấy chục năm qua cô tôi đã gắn bó với nghề đũi mà chưa từng được mặc một manh áo đũi cũng là vì thế.

Sực nhớ ra chuyện gì tôi liền hỏi cô:

- Cô ơi! Cô định cứ vò võ một mình thế này mãi hay sao hở cô?

Cô tôi cười trả lời, tay vẫn không dừng lại:

       - Thế cháu phải khuyên cô thế nào? Ở vậy hay là đi bước nữa đây? Cô không cười nữa - Cái Nguyệt, thằng Đông thì đang bận công tác. Mà chúng cũng đã có nhà có cửa của chúng cả. Rồi cô kể - Thằng Đông lần nào về cũng giục cô lên Quảng Ninh ở với vợ chồng nó. Vợ chồng cái Nguyệt cũng thế. Nhưng cháu bảo làm sao cô có thể ra đi cho được. Nhà cửa, vườn tược rồi hương khói cho ông bà, cha mẹ ai lo cho? Mà có phải chỉ có mỗi  một nhà này đâu, cô phải cáng đáng cả bên nội thằng Đông nữa. Bên ấy, giờ cũng chả còn ai cháu ạ! Cô đang định tết này bố cháu ra cô sẽ giao cả lại bên này cho bố cháu. Phận cô là gái, cô còn phải về bên ấy hương khói cho ông bà nội thằng Đông. Mà bố cháu thì cũng liệu mà sắp xếp về ngoài này đi là vừa, chứ chả lẽ cứ ở mãi trong ấy sao, hơn sáu chục tuổi rồi còn gì.

Nói rồi cô thở dài trong khi hai tay cô vẫn mãi miết kéo nốt nắm kén còn lại.

Tôi đang tò mò định hỏi cô về người mẹ đẻ của Đông thì tự nhiên cô kể ra:

- Mẹ đẻ thằng Đông đã hai lần về đây thăm cô. Dì Lâm bây giờ đã là vợ của một ông cục trưởng hay thứ trưởng gì đó ở trên Hà Nội. Dì ấy hãy còn trẻ mà lại béo tốt, đẹp đẽ lắm! Và cũng có tới bốn đứa con đang công tác trong các cơ quan nhà nước cả. Dì ấy cũng đã một lần ra Quảng Ninh thăm thằng Đông, có ở lại với vợ chồng và con nó một đêm. Vợ thằng Đông viết thư về cho cô nói là chồng nó cứ nhạt nhạt với dì ấy thế nào ấy. Còn nó thì viết thư về cho cô lá nào cũng có cái câu "Con càng yêu mẹ hơn". Rồi cô tôi cười - Con càng yêu mẹ hơn! Cứ làm như là bé bỏng lắm không bằng.

Nghe đến đây tôi phải lên tiếng:

- Chú ấy nói thế nghĩa là chú ấy lúc nào cũng thương yêu kính trọng cô. Không ai trên đời này được chú ấy thương yêu như thương yêu cô cả, kể cả người mẹ đẻ của chú ấy.

Cô tôi dừng lại nhặt mấy con nhộng kén nổi trên mặt nước bỏ ra ngoài rồi đưa hai tay lừa lừa dưới chỗ sợi đã kéo, vớt nó lên khỏi mặt nước, nắm chặt lại, vắt thật khô nước và bỏ nó vào một cái rá.

Cô tôi nói:

- Thôi, khuya rồi! Đi ngủ đi cháu!

Cô cháu tôi vào giường nằm. Tôi ôm lấy cô, vùi đầu vào ngực cô. Giấc ngủ đến với tôi thật nhẹ nhàng.

N.N.C                                                                                                         

(33) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

QUÊ HƯƠNG - NNC

Nguyễn Ngọc Chiến

 

QuêHương

 

TRUYỆN NGẮN

        
          (Tiếp theo)

          ...Khi bé Nguyệt tròn tám tháng tuổi, vào một buổi chiều trời chập choạng tối, trong lúc cô Chiêm vừa nấu nướng xong đang ngồi cho con bú thì có một cô gái trẻ tìm đến nhà cô. Đó là một cô gái lạ có khuôn mặt khá xinh mà cô chưa từng gặp bao giờ. Cách ăn mặc của cô ta lại càng lạ. Quần thì quần Âu nam màu cỏ úa may theo kiểu bộ đội, áo lại là áo phin trắng may theo kiểu Hồng Kông. Nhưng lạ nhất vẫn là chiếc mũ tai bèo cô đội trên đầu và cái ba lô cóc lép kẹp cô khoác bên vai. Lại vì cô mặc quần Âu bó sát bụng nên cô Chiêm mới nhìn nghiêng qua đã phát hiện ngay ra cô là một cô gái đang mang thai. Cô cứ khoác ba lô đứng thập thò ngoài cổng, mãi khi cô Chiêm lên tiếng cô mới rụt rè bước vào sân. Nhưng được mấy bước thì cô bỗng dừng lại nhìn quanh. Cô Chiêm được dịp quan sát cô gái kỹ hơn. Quả là cô ta còn quá trẻ, may ra chỉ độ mười bảy, mười tám tuổi là nhiều. Sắc mặt cô xanh xao đầy vẻ lo lắng. Còn đôi mắt thì u buồn, căng mọng như đã đau khổ, khóc lóc quá nhiều. Cái bụng mang thai của cô chỉ mới nhô lên vừa phải sau lần áo nên phải là người thật tin mắt mới có thể nhận biết. Cô gái vẫn đứng đó, ngay trước mặt cô, hai tay vân vê đuôi tóc và miệng thì lí nhí điều gì không thể nghe rõ.

Cô Chiêm nhìn cô gái ngạc nhiên tự hỏi: Cô gái này là ai? Từ đâu đến đây? Và tại sao lại phải tìm  đến nhà mình trong lúc này? Hay là cô ta chỉ là một người nhỡ đường định vào nhà mình xin nghỉ nhờ qua đêm? Trong cô ta có vẻ hiền hiền tội tội.

Nghĩ vậy và cô Chiêm niềm nở mời cô gái vào nhà. Cô rót nước mời cô gái uống. Cô gái bẽn lẽn ngồi xuống ghế đón cốc nước từ tay cô Chiêm uống một ngụm. Rồi cô bỗng òa khóc nức nở, sau khi tự giới thiệu "Tên em là Lâm, quê ở Thái Bình em cần gặp chị Chiêm vợ anh Phàn".

Nghe nhắc đến tên chồng, cô Chiêm thoáng giật mình nhưng vẫn tỏ ra đon đả:

- Chị là Chiêm đây, là vợ anh Phàn đây! Rồi cô hỏi - Em cần gặp chị có chuyện gì?

Cô gái vẫn cứ khóc. Đôi vai cô vẫn rung lên bởi những tiếng nức nở dập dồn. Vừa khóc cô vừa nói:

- Em khổ lắm chị ơi! Nhục lắm chị ơi!

Cô Chiêm đặt bé Nguyệt nằm xuống giường rồi quay ra động viên cô gái:

- Có gì mà em phải khóc lóc, khổ sở? Nào nín đi! Nín đi rồi kể cho chị nghe chuyện gì!

Linh tính mách bảo cô có một điều gì đó chẳng lành có liên quan đến gia đình cô. Dù chưa biết điều gì nhưng không thể không làm cô lo lắng. Trán cô đổ mồ hôi và tiếng nói cũng không còn giữ được vẻ bình thường.

- Nào, nín đi Lâm! Khăn đây lau nước mắt đi. Cô Chiêm lại ra vẻ bình tĩnh động viên Lâm. Lâm ngước khuôn mặt đầm đìa nước mắt ngửng lên nhìn cô Chiêm nghẹn ngào nói:

- Em đã định tự vẫn để chết đi cho xong nhưng em sực nhớ đến chị và thế là em về đây tìm gặp chị. Chị Chiêm ơi! Chỉ có chị mới có thể hiểu được cho em và giúp đỡ được cho em mà thôi.

Rất ngạc nhiên và lo lắng trước những lời kể lể của cô gái, cô Chiêm vẫn tỏ ra nhẹ nhàng:

- Nhưng tại sao phải là chị? Chị thì có liên quan gì đến em? Nào, em hãy kể cho chị nghe để chị xem có thể giúp được gì cho em!

Cô Lâm thôi không khóc nữa, lấy khăn lau nước mắt rồi mới từ tốn, thong thả kể cho cô Chiêm nghe câu chuyện của mình.

 

 

Câu chuyện của Lâm thật là dài và cũng thật là chua xót, bi thương. Điều làm cô Chiêm ngạc nhiên ấy là khi cô biết Lâm là một nữ thanh niên xung phong. Ngạc nhiên hơn là khi  Lâm nói rằng Lâm cùng ở với Phàn - chồng cô - một đơn vị. Rồi câu chuyện cứ dần dần mở ra liên quan từ việc này đến việc khác, ngày này qua ngày khác. Cuối cùng là sự liên quan giữa chồng cô với Lâm, là hậu quả dẫn đến cái thai mà Lâm đang mang.

Cô Chiêm ngồi nghe Lâm kể mà tựa như ngồi trên đống lửa. Mỗi một lời kể của Lâm là một nhát dao đâm vào ruột gan cô. Lại có lúc cô thấy choáng váng như nghe tiếng sét đánh bên tai, tiếng bom nổ trên đầu. Cô nhức nhối trong tim, đau buốt trong lòng. Trời không nóng mà mồ hôi cô túa ra đầm đìa. Mặt cô tái đi vì lo lắng và cả vì nhục nhã. Cô căm giận nhìn Lâm tưởng như câu chuyện Lâm đang kể chỉ là một câu chuyện do Lâm đã bịa ra để phá hoại hạnh phúc gia đình cô, vu oan cho chồng cô. Nhưng khi biết đó là thật, là thật một trăm phần trăm thì cô lại như không biết phân biệt phải trái, đúng sai để rồi căm giận cả chồng cô lẫn Lâm. Tuy nhiên cô vẫn ngồi im như một pho tuợng không hề phản ứng gì.

Trời tối dần, rồi tối hẳn. Màn đêm chẳng mấy chốc bao trùm lên tất cả. Trong căn nhà chỉ còn lại ánh đèn dầu vàng vọt. Căn nhà như bỗng trở nên chật chội hơn, tăm tối hơn, buồn tẻ hơn. Bóng cô Chiêm và Lâm vẫn rung rinh, nhập nhòa bên vách. Câu chuyện của Lâm vẫn tiếp tục đan xen giữa những tiếng thút thít, tiếng thở dài như không bao giờ có hồi kết.

...Sau khi phát hiện em có thai, ban chỉ huy tổng đội thanh niên xung phong đã họp kiểm điểm em, bắt em phải kể ra sự thật, khai ra người đã ăn nằm với em. Nhưng em đã im lặng nhận tất cả lỗi lầm về mình, nhất quyết không làm hại ai. Thế là em bị kỷ luật đuổi về địa phương. Để không phải bị áp giải như một tội phạm nên em đã tìm cách trốn đi. Em lang thang hơn một tuần ở ga tàu, bến xe mà không biết đi đâu, về đâu. Đã hai lần em về đến quê nhà nhưng rồi em lại quay lại. Em không dám về nhà, về quê. Em không muốn bố mẹ em phải nhục nhã vì em và làng xóm chê cười gia đình em. Việc em làm thì em chịu một mình em, em không muốn ai phải liên lụy. Em cứ suy nghĩ mãi không biết đi đâu, rồi em bỗng nhớ tới chị. Chị ơi! Câu chuyện của em làm chị đau lòng lắm phải không? Em không muốn làm chị đau khổ nhưng em không biết phải làm sao. Em tìm đến đây nói ra sự thật này chỉ là nhằm mục đích nhờ chị giúp đỡ cho em. Chị ơi! Em chỉ mới mười tám tuổi, em còn quá thơ ngây, khờ khạo. Trong việc này, lỗi một phần là ở em. Chị hãy cứ đánh em, chửi em, ghê tởm em nhưng em cầu mong chị đừng xua đuổi em. Em không biết phải đi đâu, làm gì? Nếu chị cũng xua đuổi em, hất hủi em thì em chỉ còn một cách là chết nữa mà thôi chị ơi! Chị  hãy tha thứ  cho em và hãy giúp em một lời khuyên...

          Thấy Lâm như vậy cô Chiêm cũng mủi lòng. Rồi cô bỗng bật khóc. Những giọt nước mắt của căm giận, tủi hờn của lòng trắc ẩn, vị tha như chợt vỡ òa ra, tuôn trào ra không thể có cách gì ngăn được. Cô ôm lấy Lâm, đôi tay cô vỗ về động viên Lâm. Lúc này cô không còn thấy Lâm đáng ghét như khi cô nghe Lâm kể chuyện Lâm và chồng cô nữa. Mà lúc này, cô Chiêm chỉ còn thấy Lâm là một cô gái bé nhỏ, đáng thương đang cần được che chở, bảo vệ. Cô lau nước cho cô và cả cho Lâm rồi cô vuốt mấy sợi tóc lòa xòa trước mặt Lâm nói khẽ:

- Chị hiểu tất cả rồi! Chị không ghét bỏ em đâu. Em hãy ở lại đây với chị, chị sẽ giúp đỡ cho em.

Cả đêm hôm ấy cô Chiêm gần như không ngủ được tí nào. Hễ cứ nhắm mắt lại là cô lại hình dung ra câu chuyện cô gái kể ban chiều. Rồi cô thấy hiện lên hình bóng người chồng của cô. Cô nhớ lại những tháng ngày tuổi thơ. Hai người đi học. Rồi yêu nhau. Rồi nên vợ nên chồng. Những câu thề thốt, ước hẹn. Rồi chồng cô ra đi, bé Nguyệt ra đời. Rồi cô gái xa lạ bụng mang dạ chửa tìm đến nhà. Và thế là hạnh phúc cùng với những nỗi niềm khát khao, trông ngóng bấy lâu nay như bỗng sụp đổ một nửa trong lòng cô.

Câu chuyện của Lâm kể về chồng cô rất dài nhưng cô chỉ lờ mờ nhớ rằng: Chồng cô và Lâm cùng làm nhiệm vụ trên một cung đường vào tuyến lửa. Họ đã sống qua những ngày đạn bom ác liệt. Họ coi nhau như anh em, đồng chí và vì thế mà họ tường tận về quê hương và cả chuyện riêng tư của nhau. Một lá thư cùng cho nhau đọc. Một nỗi buồn cùng buồn, một niềm vui cùng vui. Tình bạn, tình đồng đội nơi chiến trường, đạn bom vì thế nên càng thấm đẫm yêu thương. Nhưng họ đã không giữ được cho nhau cái phẩm chất quý giá đó. Trong một lần cả trung đội đi gùi gạo, vì đường xa, trời tối, lại bị máy bay Mỹ ném bom, nên Lâm bị tụt lại phía sau. Chồng cô phải dừng lại giúp đỡ Lâm. Nhưng sức Lâm quá yếu không thể nào cùng chồng cô đuổi kịp đơn vị. Họ phải cố gắng hết sức nhưng vẫn bị bỏ lại khá xa. Đường đèo dốc, đêm hôm vắng vẻ, chỉ có hai người một trai xa vợ, một gái chưa chồng. Và thế là chuyện ấy xảy ra. Nó xảy ra một cách tự nhiên. Tự nhiên như chính bản năng vốn có ở mỗi người.

Phải trách ai trong chuyện này? Là chồng cô? Là Lâm? Có thể cô Chiêm sẽ còn phải giận chồng, sẽ còn phải đau khổ mỗi khi nghĩ đến chuyện này. Nhưng còn Lâm và cái hậu quả mà cô ta đang phải gánh chịu? Dẫu cô có ghen tuông, đau khổ bao nhiêu đi chăng nữa cũng làm sao có thể bì được với đau khổ của Lâm. Vẫn biết rằng đau khổ mà cô ta đang mang một phần là do cô ta tự chuốc lấy.

Hồi ấy, cô Chiêm có một bà dì ruột sống độc thân ở quê ngoại, cách nhà khá xa. Cô đã đưa Lâm đến cầu cạnh bà dì giúp đỡ cô cho Lâm được trú ngụ ở đấy. Mấy tháng liền cô phải làm lụng vất vả để có thêm tiền đong gạo mang xuống cho Lâm. Cô sắm cả quần áo cho Lâm và những đồ dùng cần thiết cho ngày Lâm sinh nở. Ngày Lâm trở dạ, cô Chiêm đã xuống tận nơi lo toan tất cả mọi bề. Thật là hồng phúc khi Lâm sinh được thằng cu. Nó khỏe mạnh, đẹp đẽ và dễ thương như một thiên thần. Cả cô và Lâm đều sung sướng rơi nước mắt khi đứa bé chào đời. Họ ôm lấy nhau trong cảm thông và chia sẻ. Được một tuần thì cô Chiêm đón thằng bé về nhà. Cô đặt tên cho nó là Đông và nói dối với bố mẹ chồng nó là con rơi cô nhặt được mang về nuôi. Còn Lâm sau ngày sinh nở cũng ra đi. Chẳng biết cô đi đâu, chỉ thấy sau đó ít tháng cô có gửi về cho cô Chiêm một lá thư nói rằng cô đã lập gia đình và đã đưa chồng về thăm quê, gặp lại bố mẹ, người thân.

 

 

Sau "sự kiện" cô gái đến nhà, cô Chiêm không nhận được một lá thư nào của chồng. Cô chỉ nghe nói có một đơn vị thanh niên xung phong ở Thanh Hóa đã được chi viện vào tuyến trong. Chồng cô cũng đã theo  đơn vị đi vào trong ấy. Cô còn nghe nói ở trong ấy bom đạn ác liệt hơn rất nhiều so với ngoài này. Không ngày nào là không có bộ đội, thanh niên xung phong hy sinh. Không ngày nào là không có  đồng bào bị bom Mỹ sát hại. Cô Chiêm không thể không lo lắng cho chồng. Hằng đêm cô thao thức không ngủ được vì nghĩ đến chồng, mong ngóng tin chồng. Nhưng rồi khi biết chiến tranh ngày một dai dẳng, ác liệt thì sự mong ngóng ở cô ngày một trở nên mong manh, vô vọng.

Cuộc sống của ba mẹ con ngày một khó khăn. Một thiếu phụ chỉ mới ngoài hai mươi tuổi như cô phải một lúc nuôi hai con nhỏ, rồi vừa phải tham gia công tác xã hội, vừa phải tham gia sản xuất, thật quá vất vả. Nhiều lúc cô cảm thấy mình đuối sức như không thể vượt lên được. Nhan sắc cô phai nhạt dần. Cô luôn có cảm giác rằng cô đã là một người đàn bà lam lũ, chân lấm tay bùn đang dần dần trở nên héo rũ, úa tàn vì năm tháng.

Bố mẹ chồng tuy không ăn chung ở đụng cùng cô nhưng không vì thế mà thiếu đi bàn tay săn sóc của cô. Không ngày nào là cô không lui tới giúp đỡ ông bà. Có bát canh ngon, có cái bánh ngọt cô cũng mang sang. Thật tội nghiệp cho hai ông bà chỉ có mỗi mụn con  là chồng cô, nên lúc nào cũng ao ước có được đứa cháu trai nối dõi. Ngày con trai ra đi, biết con dâu đã có mang, cả hai ông bà, nhất là ông đã mừng thầm trong bụng. Rồi khi bà to nhỏ với ông rằng, cái bụng nghén con so của nó mà cứ tròn tròn, nhọn  nhọn thế thì đích thị là con trai thì ông lại càng thêm phấn khởi, sung sướng vô ngần. Ông khấn vái ngày đêm cầu mong trời đất, tổ tiên, ông bà phù hộ độ trì cho gia đình ông. Nhưng rồi khi thấy nàng dâu sinh con gái thì ông đã thực sự tỏ ra thất vọng. Ông càng thất vọng hơn khi biết cuộc chiến tranh sẽ còn phải kéo dài và con trai ông sẽ còn phải biền biệt ra đi, chưa biết khi nào trở về. Từ thất vọng ông đổi tính đổi nết, trở nên buồn bực, cáu bẳn vô cớ. Ông uống rượu nhiều hơn và luôn miệng cằn nhằn với vợ về  nàng dâu:

- Đã một mình khó khăn thiếu thốn đủ đường lại còn rước con rơi con vãi đầu đường xó chợ về nuôi, làm như mình là từ bi, cứu  nhân độ thế lắm không bằng. Rồi ông quát to - đẻ con trai mà nuôi thì chẳng đẻ lại đi nuôi con trai của thiên hạ. Dâu với chả con!

Nghe những lời than vãn của bố chồng, cô Chiêm vừa buồn cười vừa thương ông. Nhưng mọi chuyện cô vẫn chôn chặt trong lòng. Cô không muốn mình phải nói ra sự thật. Cô cần chồng cô trở về để tự anh thú nhận với bố mẹ anh. Cô Chiêm cho rằng như thế có lẽ sẽ nhẹ nhõm hơn, công bằng hơn... (Còn nữa)

N.N.C

(30) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

QUÊ HƯƠNG - NNC

 

Nguyễn Ngọc Chiến

 

QuêHương

 

TRUYỆN NGẮN

        

         Đang cùng đoàn cán bộ ngân hàng tỉnh công tác tại Hà Nội thì tôi nhận được điện của bố tôi từ trong quê điện ra dặn: "Khi nào làm xong việc con chịu khó nán lại ít ngày về Duy Tiên thắp cho ông bà nội nén hương và tiện thể thăm cô Chiêm xem cô ấy dạo này  sinh sống ra sao. Bố nghe nói gần đây cô ấy không được khỏe mà cái Nguyệt và thằng Đông thì lại đang ở xa. Bố tôi thở dài- Khổ thế đấy con ạ! Già cả rồi mà cứ  phải thui thủi một mình, khi ốm khi đau chẳng biết trông cậy vào ai. Con nhớ nói với cô thế nào Tết này bố cũng sắp xếp ra thăm quê một chuyến...". Tôi đọc được trong giọng nói bình thản của bố tôi có một điều gì đó không bình thường. Nó hàm chứa cả sự lo lắng  lẫn nỗi niềm cảm thông, thương yêu của bố tôi  dành cho  cô Chiêm. Nhận được điện của bố, tôi tranh thủ giải quyết những phần việc còn lại  rồi xin phép nghỉ trước mấy ngày về quê nội thăm cô.

Trên chuyến xe khách Hà Nội - Duy Tiên hôm ấy, hơn hai tiếng đồng hồ  ngồi trên xe, tâm trí tôi hầu như chỉ nghĩ đến cô Chiêm. Có lẽ đã chín, mười năm nay rồi kể từ ngày lấy chồng, tôi chưa một lần được gặp lại cô. Tôi hình dung chắc cô nay đã già đi nhiều. Không biết với một thời gian dài như thế,  cô Chiêm có còn nhận ra tôi không. Hồi ấy, lần gặp cô cuối cùng  tôi hãy còn là một cô gái gầy gò mới lớn, mà nay đã là một thiếu phụ đẫy đà.

Xuống xe, tôi  xách túi đi bộ về làng. Con đường làng với những viên gạch lát nghiêng vừa xa lạ vừa thân quen. Hai bên đường là những đồng lúa, những vườn rau mượt mà, xanh biếc. Và kia, ngay trước mặt tôi là bờ đê sông Hồng. Con đê như một bức tường thành khổng lồ chạy dài tít tắp. Những rặng nhãn toả bóng sum suê che khuất một góc trời. Thoảng trong gió chiều là hương đất, hương cây, hương rơm nấm bếp...Tất cả thật mộc mạc, thật thân tình, khiến cho lòng tôi càng thêm bồi hồi xao xuyến .

Nhà cô kia rồi! Lồng ngực tôi chợt dâng trào một cảm xúc khó tả. Vẫn ngôi nhà gỗ ba gian lợp ngói ta mà ông bà  nội tôi đã xây cất lên từ cách đây mấy chục năm về trước. Vẫn bức tường gạch bao bọc quanh nhà rêu phong cùng năm tháng. Vẫn gốc nhãn cổ thụ  nghiêng mình soi bóng bên bờ ao. Tất cả vẫn nguyên vẹn như những ngày xa xưa ấy. Đến cổng, tôi giật mình dừng bước khi chợt nhìn thấy cô tôi  đang ngồi kéo đũi ở hiên. Đôi tay cô thoăn thoắt kéo sợi và miệng bỏm bẻm nhai trầu. Tôi vẫn đứng nguyên một chỗ nhìn cô, Quả là cô tôi có già đi ít nhiều. Nhưng trông cô vẫn khoẻ, vẫn nhanh nhẹn như ngày nào. Tôi cứ ao ước giá như lúc ấy tôi có được một chiếc máy ảnh để ghi hình cô đang ngồi kéo đũi. Tôi thông thả bước vào  sân và miệng khe khẽ lên tiếng. Cô Chiêm quay mặt nhìn ra trong khi  hai tay vẫn nhịp nhàng kéo sợi. Khi thấy tôi, cô dừng lại, nhả  miếng trầu, đưa vội tay quẹt miệng, đoạn hỏi: 

- Chị hỏi gì tôi ư?

Đã định đùa cô một chút  cho vui nhưng nghĩ sao tôi lại thôi. Bước nhanh về phía cô tôi reo to:

- Cô! Cô không nhận ra cháu sao?

Khuôn mặt cô thoáng một chút ngơ ngác rồi bỗng rạng rỡ hẳn lên. Cô buông nắm kén đang cầm trong tay rồi đứng ngay dậy, lật đật bước về phía  tôi. Tiếng cô hổn hển không giấu được nỗi mừng:

-Ai như con cái Quyên? Đúng rồi! Đúng là cái Quyên thật rồi! Cháu ơi, nghe cái giọng ỏn ẻn, trọ trẹ của cháu là cô biết ngay cháu của cô rồi...

Tôi cuống cuồng ôm lấy cô. Cô cũng choàng tay ôm lấy tôi. Hai cô cháu tôi cứ đứng như thế  mà ôm lấy nhau như không thể rời nhau ra được. Nhìn vào mặt cô tôi thấy nước mắt cô nhoà nhuện. Rồi cô bỗng đẩy tôi ra  nhìn chăm chắm vào mặt tôi. Cô mắng yêu:

- Tổ bố chị, mới ngày nào còn lếch cha lếch chếch như con cào cào thế mà nay đã ra dáng chị cán bộ nhà nước thế này đây. Cô dí dí ngón tay vào trán tôi - Tưởng đã có chồng có con, làm nên ông này bà nọ thì không còn nhớ đến ai nữa. Cứ thử quên bà cô này đi, bà lại chẳng vào tận trong ấy chửi cho một trận ấy à!

Tôi đánh trống lảng dắt cô vào nhà. Hai cô cháu tôi cùng ngồi xuống chiếc tràng kỷ đen bóng đặt ở gian giữa. Tôi hỏi cô:

- Cô ốm có nặng không cô?

Vừa rót nước từ một cái bình sứ ủ sẵn trên bàn đưa cho tôi, cô vừa chép miệng:

- Ôi dào, cúm cảm qua loa ấy mà! Người già ai lại không nhức đầu sổ mũi khi trái nắng trở trời hả cháu? Thôi, đừng quan tâm đến chuyện ấy nữa. Cô khỏe rồi, khỏe rồi!

Trong lúc tôi đặt hoa quả bánh kẹo lên bàn thờ thắp hương, thì cô tất tả chạy ra vườn hái vào mấy quả cam. Vừa bóc cam cho tôi ăn cô vừa hỏi tôi về bố mẹ tôi, chồng con tôi và về công việc của tôi. Tiếng cô thật trong trẻo, ấm áp. Tôi cứ có cảm tưởng tiếng nói của cô chẳng già đi chút nào. Cả thái độ săn sóc ân cần của cô đối với tôi cũng chẳng khác đi tí nào. Tất cả vẫn vậy, vẫn như ngày nào khi tôi còn bé cứ hai năm một lần theo bố mẹ về quê thăm cô.

- Ăn đi cháu, ăn đi cho lại sức! Đây là giống cam Xã Đoài bố mày trồng từ thuở bố mày còn ở nhà với cô, chưa đi bộ đội. Cả mấy chục gốc cam quý ngày ấy, bây giờ chỉ còn sót lại một cây. Nó già nua, còi cọc, chỉ lơ thơ mấy cành thế này mà năm nào cũng cho trái, lại sai đáo để cháu ạ!

Tiếng cô rủ rỉ như dỗ dành động viên. Tôi thấy cô gần gũi như bố tôi, mẹ tôi. Tôi ăn liền một lúc gần hết hai quả cam. Những quả cam to như vóc tay, tuy vỏ còn xanh nhưng ngọt ngào, thơm ngon, làm tôi dịu hẳn cơn khát. Trong khói hương từ bàn thờ tỏa ra, tôi như thấy có một điều gì đó vô hình nhưng thật là ấm cúng, thật là thiêng liêng đang vây bủa quanh mình.

...Cô Chiêm là em ruột của bố tôi. Ông bà nội tôi chỉ có hai người con là bố tôi và cô. Năm cô Chiêm bốn tuổi thì ông tôi mất. Hơn mười năm sau, lúc bố tôi đang học cấp ba, cô tôi học cấp hai thì bà tôi cũng ngã bệnh theo ông ra đi. Từ đó, hai anh em bố tôi chỉ còn biết sống dựa vào nhau, nuôi nhau lớn lên. Họ đã phải sớm trải qua những năm tháng đơn côi đầy những khó khăn, vất vả. Có lẽ vì thế mà sau này, dù đã mỗi người một phương, bố tôi vẫn luôn dành cho cô Chiêm một tình cảm thương yêu đặc biệt. Năm hai mươi tuổi, bố tôi đi bộ đội vào tuyến lửa Quảng Bình, Vĩnh Linh gặp mẹ tôi, một nữ thanh niên xung phong. Hai người xây dựng gia đình với nhau, rồi định cư luôn trong này. Còn cô Chiêm ở lại làng tiếp tục học cấp ba ở trường huyện. Cô là một học sinh giỏi toàn diện của trường. Không những học giỏi mà cô còn là một thiếu nữ đẹp người, đẹp nết. Nhiều bạn trai đặc biệt có cảm tình với cô. Năm cô học lớp mười (lớp cuối cấp hồi ấy) có một người con trai cùng làng quyết tâm theo đuổi cô. Tên anh là Phàn. Nếu ở lớp 10 B có cô Chiêm là người học giỏi nhất thì anh Phàn là người học dốt nhất lớp. Ngược lại, nếu cô là người có hoàn cảnh khó khăn nhất làng thì anh Phàn là người có hoàn cảnh được xem là khá giả nhất làng. Đi học, Phàn thường diện xe đạp Thống Nhất trong khi cô Chiêm và bạn bè phải đi bộ sáu, bảy cây số đến trường. Anh Phàn đi học rất sớm và bao giờ cũng đứng đợi cô Chiêm ở điếm canh đê. Khi tan học thì đứng đợi ở cổng trường. Ban đầu do không biết Phàn để ý săn đuổi mình nên cô Chiêm đã mấy lần vô tư ngồi lên xe đạp của anh. Đường đất lổ chổ ổ gà Phàn phải nai lưng ra đạp. Nhiều hôm mệt phờ người, anh cũng phải cắn răng tỏ ra vui vẻ. Anh luôn tự hào, hãnh diện khi có bạn gái ngồi cùng xe. Hồi ấy, sau khi anh trai đi bộ đội, cô Chiêm phải sống một mình chịu đủ bề khó khăn. Ai giúp đỡ được gì cô cũng đều vui vẻ chấp nhận. Cô xem việc Phàn đèo cô cũng là một sự giúp đỡ. Cô vô tư nghĩ đó chỉ là tình nghĩa bạn bè cùng lớp, cùng làng. Và để trả ơn lòng tốt của anh, trong những giờ kiểm tra bài tập ở lớp, thấy Phàn ngồi gãi đầu gãi tai, ngó nghiêng cầu cứu, cô Chiêm đã nhiều lần ném giấy nháp cho anh. Bài tập ở nhà, cô cũng không ngần ngại cho Phàn  coppy toàn bộ bài giải của mình. Sự học tập "tiến bộ vượt bậc" của Phàn khiến thầy giáo chủ nhiệm dạy toán vô cùng ngạc nhiên và tỏ ra nghi ngờ. Thầy quyết rình và bắt được quả tang cô Chiêm ném giấy nháp cho Phàn trong một lần làm bài tập. Việc vỡ lỡ, bị vặn hỏi, anh Phàn buộc phải thú nhận với thầy cô giáo tất cả. Cô Chiêm bị đưa ra kiểm điểm trước chi đoàn và tập thể lớp. Chuyện chỉ có thế mà trong đám bạn bè của hai người đồn ầm lên cô Chiêm và Phàn phải lòng nhau. Lời đồn ấy chẳng mấy chốc lan ra cả làng. Cô Chiêm buồn lắm! Cô bắt đầu tránh không gặp Phàn và thôi không ngồi xe của anh nữa. Ngược lại, anh Phàn tỏ ra phấn khởi. Anh cảm thấy sung sướng và thích thú khi nghe mọi người công khai gán ghép anh với người đẹp nhất làng, mà lại là người anh hằng âm thầm theo đuổi bấy nay. Rồi anh gửi liền mấy lá thư tỏ tình cho cô Chiêm. Lá nào anh cũng viết dài tới hai, ba trang với những lời lẽ dạt dào, chan chứa yêu thương. Anh không quên nói rằng anh đã thầm yêu cô từ lâu, rằng trên đời này anh thề chỉ yêu một mình cô, rằng nếu không được cô yêu anh sẽ ở vậy suốt đời. Thấy thư không có hồi âm, anh đến tận nhà cô để tán tỉnh. Anh đeo đẳng cô cả trên đường đi học. Thấy cô ở bất cứ chổ nào anh cũng lân la đến  gần bắt chuyện. Anh dùng những lời lẽ đẹp đẽ nhất, yêu thương nhất để nói với cô, tung hô cô. Kể cũng lạ! Cái anh chàng thì học dốt nhất lớp, văn chương chỉ điểm ba, điểm bốn, thế mà đứng trước mặt người đẹp, mồm miệng cứ tanh tách như con tôm, con tép, lời lẽ lại hay ho đến thế.

Cô Chiêm không thể không rung động trước những tình cảm chân thật của Phàn dành cho cô. Dẫu vậy, bao giờ cô cũng chỉ nói với anh:

- Chúng mình vẫn còn trẻ người non dạ, lại đang phải học hành, không nên quan tâm nhiều đến chuyện vớ vẩn ấy mà ảnh hưởng đến việc học tập.

Nói thì nói vậy nhưng trong trái tim cô, cô đã thầm kính dành một góc cho hình bóng của Phàn. Vậy rồi cô bỏ học. Cả trường xôn xao lên vì ngạc nhiên. Thầy cô và bạn bè đến tận nhà động viên khuyên giải cách gì cô cũng một mực không trở lại lớp nữa. Thấy cô bỏ học, anh Phàn cũng bỏ học theo. Anh rơm rớm nước mắt nói với cô:

- Học giỏi như Chiêm mà bỏ thì học dốt như tôi còn theo đuổi làm gì!

Cô Chiêm động viên:

- Tôi vì hoàn cảnh khó khăn nên mới bỏ học, còn anh, anh có điều kiện thì phải cố gắng lên. Anh đừng theo đuôi tôi bỏ học mà uổng.

Anh Phàn không chịu:

- Nhưng không có Chiêm bên cạnh tôi không bụng dạ nào mà học được nữa.

Cô Chiêm dọa:

- Nếu anh không nghe lời tôi, không đi học, không đỗ tốt nghiệp tôi sẽ chấm dứt mọi tình cảm với anh.

Thế là anh Phàn sợ phải tiếp tục theo học. Còn cô Chiêm ở nhà làm thư ký cho đội sản xuất. Cuối khóa học, anh Phàn thi tốt nghiệp cấp ba và đã đỗ được cái bằng loại trung bình. Nghe lời khuyên của cô Chiêm, anh cũng khăn gói ra Hà Nội để thi vào trường đại học nông nghiệp. Nhưng lần này thì anh trượt và đành phải ở nhà sản xuất. Hai người chính thức yêu nhau từ đấy. Hai năm sau họ tổ chức làm lễ thành hôn, sau khi nhà trai đã bằng lòng chấp nhận để anh Phàn ở rể nhà cô Chiêm. Đó cũng là thời gian giặc Mỹ mở rộng chiến tranh đánh phá ra miền Bắc  với quy mô và cường độ ngày một ác liệt. Theo tiếng gọi của quê hương, cô Chiêm động viên chồng lên đường làm nhiệm vụ. Chú Phàn được điều động vào thanh niên xung phong phục vụ tiền tuyến. Bảy tháng sau khi chồng ra đi, vào một đêm mưa tầm tả, cô Chiêm ở nhà trở dạ sinh bé gái đầu lòng. Cô đặt tên con là Nguyệt. Cô viết thư vào Thanh Hóa cho chồng, báo tin vui, động viên chồng an tâm công tác. Chú Phàn cũng thường xuyên gửi thư về cho vợ. Những lá thư như những cánh chim báo tin vui bay qua thời gian kịp thời cổ vũ, khích lệ người ra đi và người ở lại...(Còn nữa)

                                                                                                                                   N.N.C

(20) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

ĐÊM - NNC

Nguyễn Ngọc Chiến

 

đêm


TRUYỆN NGẮN



Lang thang phố, đội nắng mưa

Phơi thân hiến xác giữa mùa muỗi, ong

Công viên gác ngủ xoay vòng

Tấm áo muôn mảnh chạy rong. Lả người...

MINH ĐAN (Những mảnh đời tối sáng)

            

          (Tiếp theo và hết)

...Tôi đáp quấy quá và hỏi nó:  

- Cháu lên thành phố này được bao lâu rồi Phong?

         Nó chìa ra hai ngón tay và nói:

- Lên thành phố này thì hai năm, còn trước đó cháu ở chỗ khác được một năm.

- Cháu không nhớ nhà sao?

- Có ai mà nhớ!

- Thế bố mẹ cháu, anh em cháu không còn ai à?

Nó nói giọng buồn buồn:

- Còn! Nhưng ông một nơi, bà một nẻo, ông có vợ của ông, bà có chồng của bà. Ba má cháu bỏ nhau từ khi cháu mới lên sáu tuổi. Cháu phải ở với mẹ và bố dượng. Ông bố dượng đánh cháu suốt ngày nên cháu bỏ nhà đi lang thang.

- Thường ngày cháu ngủ nghỉ ở đâu?

Nó khua tay một vòng:

- Khắp thành phố này! Vỉa hè, gầm cầu, nhà ga, bến xe... nơi nào yên ổn thì tụi cháu ngủ đêm, còn ban ngày thì mỗi đứa một phương đi làm ăn - giọng nó nhỏ lại - Chú biết tụi cháu sợ gì nhứt không?

Tôi lắc đầu. Nó nói:

- Công an! Các ông ấy liên tục mở các đợt truy quét để gom bắt trẻ lang thang đưa vô các trại giáo dưỡng. Tụi cháu rất sợ phải vô đó nên phải đánh lạc hướng các ổng bằng cách thay đổi chỗ ngủ, nay chỗ này mai chỗ kia. À, mà hồi nãy cháu thấy mấy ông công an hỏi giấy tờ của chú. Cái ông người mập mập, đeo súng lục là dữ lắm đó! Tụi cháu sợ ổng như sợ cọp. Đứa nào móc túi hay làm bậy  mà chẳng may sa vô tay ông ấy thì coi chừng nát mông. Ông ấy đánh dữ lắm!

- Cháu bị ông ấy đánh lần nào chưa?

- Chưa!

- Nghĩa là cháu chưa bao giờ móc túi?

- Dạ.

- Có bao giờ cháu nghĩ đến một ngày nào đó cháu sẽ trở về quê hương không?

- Cháu chưa bao giờ nghĩ đến. - Nó đáp tỉnh bơ.

Tôi hục hặc ho. Nó hỏi:

- Chú bị bịnh à? - Rồi rất tự nhiên nó nắm lấy tay tôi, sau đó sờ lên trán tôi, cổ tôi. Nó kêu to - Người chú nóng như lửa. Đúng là chú đang bị cảm nặng rồi. Thôi, chú đi ra ngoài này tụi cháu cạo gió cho.

- Ở đâu? - Tôi lưỡng lự hỏi.

- Chỗ của tụi cháu, gần xịch hà!

Tôi phân vân nhưng cũng đứng dậy. Nó tranh cái ba lô cõng lên lưng, nắm tay tôi giục:

- Nhanh nhanh lên chú!

Tôi bước thấp bước cao đi theo thằng Phong. Nhìn cái dáng mảnh khảnh nhỏ bé của nó với chiếc ba lô to xù trên lưng, tôi vừa cảm động vừa ái ngại. Tôi không ngờ đời tôi phải có lúc như thế này. Nhưng cũng không còn cách nào hơn. Chỉ sau này tôi mới biết là tôi đã gặp may. Bởi, nếu như đêm ấy, trong trận cảm ấy, tôi không may mắn gặp được thằng Phong và các bạn của nó, không nhờ vả được chúng nó - những đứa trẻ bụi đời - thì không biết tôi sẽ ra sao.

 

"Chúng ta hãy quan tâm đến trẻ em..." mà xót xa thế này đây!

 Thằng Phong dẫn tôi đến một cái lều lợp tôn nằm sau lưng bến xe. Ở đấy, tôi thấy có ba đứa trẻ trạc tuổi nó đang thắp nến ngồi chơi bài trên một cái sạp tre. Thấy có người lạ chúng dừng cả lại nhìn ra. Thằng Phong đặt cái ba lô xuống sạp nói với cả bọn:

- Chú này là bộ đội ở biên giới về phép thăm nhà. Chú không may bị bịnh tao đưa chú vô đây cạo gió cho chú.

Thằng Phong mới nó có thế, cả bọn đã đứng dậy. Rồi đứa trải đệm, đứa tìm dầu, tìm xu... Trông chúng nhộn nhạo cả lên. Thằng Phong bảo tôi cởi áo ra nằm sấp xuống đệm. Tôi ngoan ngoãn làm theo. Nó lấy dầu hỏa thoa lên khắp lưng tôi rồi lấy đồng xu cạo đều đều từ cổ xuống thắt lưng. Những đứa khác cũng ngồi quây lại nắn chân, nắn tay cho tôi. Vừa cạo thằng Phong vừa nói:

- Gió ghê! Mới cạo mà cả lưng chú đã tím bầm. Chú bị cảm rất nặng đây nè!

Cạo hết lượt sau lưng, thằng Phong bảo tôi nằm ngửa ra để nó cạo ngực. Rồi nó cạo đến tay, chân, cổ, hai thái dương... Trên khắp người tôi chỗ nào thằng Phong cũng thoa dầu và cạo gió. Đôi tay nó uyển chuyển nhịp nhàng tạo cho tôi một cảm giác như đang được vuốt ve vừa êm ái, vừa dễ chịu. Được một lúc thì trán tôi bớt nóng, hai thái dương bớt nhức, cơn sốt dịu dần, người tôi nhẹ hẳn. Tôi biết đây là bài thuốc dân gian được lưu truyền từ rất lâu ở các tỉnh Nam bộ, không ngờ được phổ biến ra tận đây và lại được những đứa trẻ bụi đời sử dụng rành rọt đến thế. Thấy khỏe khỏe trong người, tôi định ngồi dậy, nhưng thằng Phong ngăn lại:

- Chú cứ nằm một lúc cho khỏe hẳn đi đừng vội ngồi dậy chóng mặt. Nói rồi nó rũ tấm ga đắp lên ngực tôi. Một lần nữa tôi lại phải nghe lời nó, ngoan ngoãn nằm im nhìn nó và các bạn nó chơi bài. Một lúc sau tôi ngồi dậy nói với cả bọn:

- Chú khỏe hẳn rồi! Nào các cháu ta ngồi cả lại đây.

Tôi mở ba lô lấy mấy gói kẹo. Cả bốn đứa cùng ngồi quây lại bên tôi vừa nói chuyện vừa ăn kẹo. Trông chúng thật non nớt, thật vô tư và cũng thật là tội nghiệp. Thằng Phong chỉ từng đứa giới thiệu:

- Đây là thằng Phong bịch nilon! - Nó chỉ một thằng đầu trọc, người mập ngồi cạnh tôi - Thằng này có bố là sĩ quan ngụy đi cải tạo chưa về, mẹ nó theo một ông bồ giàu có sang Úc sống, nó không biết ở với ai nên bỏ nhà đi bụi. Thằng này là Bi, còn gọi là Bi còm - nó chỉ một thằng gầy gò ngồi cạnh nó. - Còn thằng này tên là Tuy, có biệt danh là Tuy ! - Thằng Phong lại chỉ một đứa mắt lé ngồi trước mặt tôi. - Cả hai thằng này thì một do bố mẹ ly dị nhau, một do mẹ bị bịnh chết bố đi lấy vợ khác nên chúng bỏ nhà đi lang thang. - Thằng Phong dừng lại nhìn tôi rồi nói thêm - Ở thành phố này có đến một trăm năm chục đứa sống bụi bờ như tụi cháu. Tất cả đều từ nhà quê lên. Có cả mấy đứa từ Sài Gòn ra, từ Huế vô...

Thằng Phong bịch nilon châm một điếu thuốc kéo một hơi dài rồi góp chuyện:

- Có cả tụi con gái nữa. Đứa nhỏ thì đi bán nước, bán vé số, nhặt bịch nilon... Đứa lớn thì nấu ăn, dọn bàn cho các quán. Có mấy đứa còn kiêm cả việc làm đĩ đó chú.

Thằng Bi còm nói chen vào:

- Có mấy anh cỡ tuổi chú cũng sống lang thang ở gầm cầu, bến tàu làm đủ nghề từ thầy bói xem quẻ đến bốc vác hàng thuê.

Thằng Tuy hấp háy con mắt vừa nhai kẹo vừa nói:

- Mấy ổng đó coi vậy thôi chứ giựt túi xách, dây chuyền của các bà nhanh như cắt và lại hay ăn hiếp bọn con nít tụi cháu. Ngày nào mấy ổng không giựt được cái gì, không có tiền để ăn, để chơi gái là mấy ổng tìm ngay tụi cháu để dọa nạt xin tiền. Không có cho mấy ổng là mấy ổng đánh liền. Chỉ có thằng San là không ai dám ăn hiếp nó.

Thằng Tuy nói đến đó thì thằng Phong tầm quất như bỗng nhớ ra chuyện gì liền ra hiệu cả bọn im lặng rồi nhìn tôi nói:

- Trước đây nhóm tụi cháu còn có thêm thằng San nữa nhưng nó đã chết cách đây hai tháng.

Tôi giật thót người hỏi nó:

- Vì sao mà bạn cháu chết?

- Nó bị bệnh tả! - Thằng Phong đáp rồi kể - Thằng San bỏ đi bụi vì nhà đông anh em và nghèo nhất làng. Cháu gặp nó ở thành phố này rồi kết bạn với nhau. Nó lớn hơn cháu hai tuổi nên coi cháu như em, cái gì kiếm được nó cũng để phần cho cháu. Nó cũng thương thằng Phong bịch nilon, thằng Bi còm, thằng Tuy nhưng không thương bằng thương cháu. Người nó cao to, khỏe mạnh nên không sợ ai ăn hiếp. Và có ai ăn hiếp tụi cháu nó cũng đứng ra bênh vực. Nó làm đủ việc từ việc nhẹ đến việc nặng  để kiếm tiền gửi về nhà nuôi các em nó. Nó thường nói với cháu là nó chỉ sống ở đây thêm vài tháng nữa rồi về quê. Nhưng nó chưa kịp về quê thì đã bị bịnh - Thằng Phong dừng lại một lát rồi kể tiếp - Chiều đó, cháu đi ra ga tàu thì gặp thằng San đang ôm bụng nằm ở sân ga. Mặt nó tái nhợt, hai môi xám ngoét, cả người nó hâm hẩm nóng. Cháu dìu nó về đây cạo gió cho nó. Nó nằm yên được một lúc rồi nôn ọc ra và đi ngoài liên tục. Cháu thay quần áo cho nó rồi cùng ba thằng này cõng nó vào nhà thương. Nhưng đêm ấy thằng San đã chết.

 

Có thể đây là thằng San và những phút giây cuối cùng của nó trên đời

Thằng Phong kể xong thì đưa tay lên chùi mắt. Những đứa kia cũng im lặng đầy vẻ xúc động. Nhưng chỉ một lát chúng lại vô tư, vui vẻ kể sang chuyện khác.

Cứ vậy mấy đứa tranh nhau kể với tôi đủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Hình như có bao nhiêu chuyện rác rưởi, bao nhiêu chuyện đau lòng, bao nhiêu cảnh ngộ oái oăm, ngang trái, khổ ải, buồn cười... diễn ra hàng ngày trong đám người bờ bụi ở cái thành phố này chúng đều chứng kiến và đem kể hết với tôi. Tôi ngồi nghe chúng kể mà chẳng biết phải làm gì, nói gì với chúng. Và như để góp chuyện, đợi trời sáng tôi chỉ còn biết đem mấy mẩu chuyện đánh giặc ở biên giới ra kể cho chúng nghe.

Rồi thì trời cũng đã sáng! Thành phố N cũng đã thức dậy đón một ngày mới. Tôi cũng chuẩn bị chia tay với lũ trẻ để tiếp tục cuộc hành trình của mình. Cả bốn đứa cùng tiễn tôi ra xe ngựa. Dọc đường tôi ngậm ngùi nói với chúng:

- Theo chú thì các cháu nên tính đến một ngày nào đó các cháu phải từ bỏ cuộc sống bờ bụi ở thành phố này để trở về quê hương. Các cháu không thể sống mãi với cuộc sống lang thang, không nhà không cửa nơi đất khách quê người này mãi được. Khổ lắm các cháu ạ! Các cháu phải trở về quê hương! Dù ở quê hương các cháu không còn có bố mẹ, nhưng quê hương vẫn còn có những người ruột thịt, thân thích khác của các cháu. Các cháu sẽ được đi học, sẽ được vui chơi, rồi sau này lớn lên các cháu sẽ đi nơi này chỗ kia, hoặc sẽ đi bộ đội như chú đây chẳng hạn. Các cháu có đồng ý không?

Cả bốn đứa im lặng mỉm cười. Lúc xe ngựa chuyển bánh, tôi bắt tay thằng Phong nói với nó:

- Chú cảm ơn cháu rất nhiều!

Thằng Phong cũng nắm tay tôi thật chặt, hai mắt nó rớm lệ, nó nói:

- Chúc chú đi mạnh giỏi! Cháu... cháu cũng mong được như chú nói... Chú cứ yên tâm.

Sáng hôm đó tôi đã tìm được đến nhà bác tôi. Ở thăm bác hai ngày tôi chia tay với bác, đón xe ngựa quay trở lại thành phố N để mua vé xe tốc hành ra Bắc. Tôi đi thật sớm ra bến xe và tìm tới cái lều lợp tôn hôm nào. Nhưng thằng Phong và ba đứa bạn của nó không còn ở đó nữa. Một anh trong ban quản lý bến xe cho tôi biết là đêm qua công an thành phố vừa mở một đợt truy quét lớn để gom bắt tất cả các đối tượng vô gia cư, sống lang thang bờ bụi trên khắp thành phố. Thằng Phong và những đứa trẻ, tuổi như nó cũng đã bị công an bắt đưa vào các trung tâm giáo dưỡng của thành phố. Tôi thoáng buồn vì không gặp lại được thằng Phong và những đứa bạn của nó. Nhưng tôi lại mừng cho nó vì nó đã được đưa vào chỗ đáng vào. Bởi, chỉ có vào những nơi đó thì cuộc đời thằng Phong cũng như bao  cuộc đời bất hạnh khác như nó mới có cơ may làm lại từ đầu. Ở đó, nó sẽ được học chữ, học việc, và nhất là nó sẽ được học làm người để tương lai cuộc đời nó mãi mãi được sống êm đềm, phẳng lặng như bao cuộc đời tươi đẹp khác.

Đến nay dù đã gần hai mươi năm trôi qua, tôi vẫn không sao quên được cái đêm hôm ấy ở thành phố biển N. Mỗi lần nhớ tới kỷ niệm ấy thì tôi lại nhớ tới thằng Phong. Tôi nhớ nhất là cái dáng nhỏ bé của nó, với chiếc ba lô to xù trên lưng và đôi bàn tay nó uyển chuyển, nhịp nhàng trên tấm thân trần của tôi. Hai mươi năm đã trôi qua! Có thể thằng Phong nay đã là một thầy giáo, một anh công nhân, một chiến sĩ quân đội và cũng có thể chỉ là một nhà nông đang lam lũ làm ăn ở một vùng nông thôn hẻo lánh nào đó. Dù có là ai đi chăng nữa thì thằng Phong và cả những đứa bạn của nó chắc chắn phải là những công dân tốt. Tôi hằng tin như thế!

N.N.C

(23) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

ĐÊM - NNC

Nguyễn Ngọc Chiến

 

đêm

 

TRUYỆN NGẮN

                                                    

                                                            *Gửi Nhà báo MINH ĐAN (LọLemĐấtVõ)

                                               nhân đọc bài thơ "NHỮNG MẢNH ĐỜI TỐI SÁNG" của chị!

Tôi nhớ đâu khoảng tháng ba hay tháng tư gì đó năm một nghìn chín trăm bảy mươi chín, nghĩa là sau chiến tranh biên giới Tây - Nam kết thúc không lâu. Lúc đó tôi là một chiến sĩ biên phòng vừa rời chiến hào, được cấp trên cho nghỉ phép về thăm nhà. Được nghỉ phép là một niềm vui lớn đối với tất cả mọi người lính, nhất là đối với những người lính trẻ xa nhà lâu ngày như tôi. Vậy nên vừa mới nhận được tin, tôi đã cảm thấy sung sướng vô ngần. Rồi ngay từ hôm đó cho tận hôm lên đường tôi đã gần như tập trung tất cả tâm trí để chuẩn bị cho chuyến đi. Dẫu sao đây cũng là lần đầu tiên sau hơn ba năm xa cách tôi mới được về thăm quê hương, gia đình. Đêm nằm ngủ, tôi cứ trằn trọc, suy nghĩ hết chuyện này đến chuyện khác, không sao chợp mắt được. Nhưng chiều hôm sau, tức là hôm cuối cùng ở lại đơn vị để ngày mai lên đường, trong lúc nhìn lên tấm bản đồ to tướng treo bên vách, tôi bỗng chú ý đến những chấm đỏ được đánh dấu  trên bản đồ để chỉ vị trí các thành phố và các thị xã tỉnh lỵ của nước ta. Mắt tôi dừng ngay lại ở một chấm đỏ khá đậm được đánh dấu ngay chính giữa nét vẽ phân chia phần lục địa và biển đông. Chấm đỏ ấy là thành phố N. Chú ý đến chấm đỏ này và thành phố này vì tôi vừa sực nhớ ra, có một lần, đó là hồi tôi mới vào biên giới Tây - Nam, cha tôi khi tiễn tôi lên đường đã ngậm ngùi nói với tôi rằng, ông có một người anh ruột xa quê hương đã gần ba mươi năm nay, hiện đang sinh sống, làm ăn ở thành phố N. Ngày miền Nam mới hoàn toàn giải phóng, cha tôi đã một lần vào thăm, và hai người đã gặp lại nhau trong niềm xúc động khôn xiết. Cha tôi muốn vào thăm một lần nữa, nhưng không thể đi được vì cha tôi đã già. Còn người anh của cha tôi cũng rất muốn về thăm quê hương, nhưng do bệnh tình, nên cũng không thể về được. Cha tôi dặn tôi là nếu có điều kiện thì ghé vào thăm ông. Tôi chưa từng đến N mà mới chỉ đi ngang qua hồi hành quân vào biên giới Tây-Nam. Tuy vậy N luôn là thành phố đẹp đẽ và hấp dẫn trong tôi qua những trang sách hồi còn đi học, hoặc qua những lời kể của người khác khi lớn lên sau này. Tôi ao ước đến N lắm chứ, đến rồi đi dù chỉ một lần.

 Xe khởi hành lúc ấy khoảng mười một giờ trưa khi tôi vừa kịp leo lên ô tô. Ngồi trên xe, nhìn cảnh vật hai bên đường lao vun vút, tôi cho rằng, với tốc độ này thì chỉ vào khoảng chập tối xe sẽ đến N. Mà chập tối đến N nghĩa là thời gian tốt nhất cho phép tôi tìm đến nhà bác tôi. Vì theo như lời dặn của cha tôi thì nhà bác tôi tuy ở ngoại thành nhưng cách trung tâm thành phố không xa lắm! Vậy là tôi đinh ninh rằng thế nào trong tối nay tôi cũng sẽ được gặp bác tôi, sẽ được ngủ một giấc ngon lành giữa thành phố tràn trề gió và rì rào sóng biển.

        Nhưng sự đời đâu phải lúc nào cũng mang đến vận may cho mình. Chiếc ô tô hành khách sau khoảng một giờ bon bon như tên bắn ra đến gần thị xã Long Khánh thì bị  hỏng máy. Chẳng biết là nó bị hỏng ở bộ phận nào, nghiêm trọng đến đâu mà nó phải nằm chết dí bên vệ đường hơn ba tiếng đồng hồ tốp thợ mới sửa xong để cho xe chạy tiếp. Rút cục, xe ra đế nơi thì cả thành phố N đã chìm trong giấc ngủ say. Tôi tìm đến một chiếc ghế đá ngồi suy nghĩ một lúc nên phải như thế nào rồi xách ba lô đi đến một gánh hàng rong gần nhất. Chủ hàng là một phụ nữ đứng tuổi đang ngủ gà ngủ gật, thấy tôi đến thì giật mình tỉnh dậy đon đỏ mời chào. Tôi ngồi xuống cái đòn đối diện với chị ăn mấy quả chuối rồi mua thêm mấy phong bánh nhét vào ba lô. Mục đích chính của tôi là  làm quen với người chủ hàng này, để qua chị tôi có thể hỏi han biết được đôi điều. Nhưng tôi chưa kịp bắt chuyện với chị thì chị đã hỏi tôi:

- Chú về đâu?

- Dạ, em về Vĩnh Trung! Còn xa không chị?

- Sáu, bảy cây số lận. - Người phụ  nữ trả lời và nói thêm -  Mà giờ này còn đâu xe cộ nữa mà đi. Nhà trọ thì cũng đã đóng cửa - rồi chị ái ngại hỏi tôi - Chú có bà con hay người quen quanh đây không?

- Dạ không! - Tôi thật thà đáp.

Chị khẽ thở dài:

- Vậy bây giờ chú định sao?

Lẽ ra phải trả lời câu hỏi của chị thì tôi lại hỏi:

- Chị còn bán ở đây lâu không?

Tôi hỏi vậy vì muốn biết xem chị có ngồi đây bán đến sáng không và nếu có thì cho tôi ngồi cùng cho vui, nhưng chị lắc đầu:

- Không! Tôi chuẩn bị dọn hàng đây. - Nói rồi chị bắt đầu dọn các thứ cho vào thúng. Bỗng nghĩ sao, chị dừng tay nói với tôi - Hay chú về nhà tôi nghỉ tạm, nhà tôi cách đây chừng cây số thôi.

Tôi cũng thật lòng đáp:

- Cảm ơn chị, em nghỉ ở bến xe cũng được. Còn mấy tiếng nữa là sáng chứ có lâu lắc gì đâu mà lo.

Chị quẩy gánh lên vai bước đi, còn quay lại dặn tôi:

- Chú không về nhà tôi thì nghỉ lại đây đợi cho đến sáng rồi hãy đi, chứ có xe ôm, xe thồ đến cũng đừng đi vào giờ này, nguy hiểm lắm! Chú nhớ nghen!

Chia tay với chị hàng rong tốt bụng, tôi quay lại chiếc ghế đá hồi nãy đặt chiếc ba lô xuống đầu ghế làm gối rồi từ từ ngã người xuống. Trời về khuya, sương nặng hạt lại gió biển tràn vào có vẻ lành lạnh. Tôi dùng chiếc mũ cối có gắn ngôi sao úp hờ lên mặt che bớt sương đêm và bắt đầu chìm dần vào giấc ngủ. Giấc ngủ  đến với tuổi hai mươi ít âu lo, phiền muộn thật là nhanh  chóng và cũng thật là êm ái, dịu dàng. Mấy tháng trước khi còn phải quần nhau với bọn Pôn Pốt ở biên giới, tôi rất thèm được ngủ, nên bạ đâu cũng có thể ngủ được. Dựa  gốc cây, dựa mép hào, có khi chỉ  là giải lao chốc lát giữa đường hành quân tôi vẫn ngủ tốt. Giấc ngủ lại sâu, ít mộng mị. So với trứơc đây, bây giờ được ngủ trên chiếc ghế đá này, giữa thành phố này thì quả là sung sướng gấp cả trăm lần. Mà đã là người lính thì cũng cần phải nếm trải, cũng cần phải xông pha sương gió như thế này nó mới cứng cáp lên được.

 

Có thể đây là những đứa trẻ lang thang mà tôi đã gặp năm ấy...

 Tôi đang ngon giấc thì bỗng có ai đó gõ nhẹ lên chiếc mũ cối. Tôi choàng tỉnh giấc, hai tay ôm lấy chiếc mũ cho khỏi rơi xuống đất rồi ngồi bật dậy. Nhiều ánh đèn pin chiếu thẳng vào tôi khiến tôi hoa cả mắt. Tôi phải quay mặt  nhìn sang một phía khác để lấy lại thăng bằng rồi mới nhận ra tốp người đang đứng trước mặt tôi. Đó là các anh công an đang đi tuần. Họ có bốn người, ai cũng nai nịt súng ống gọn gàng và dùi cao su lăm lăm cầm tay. Một người đeo súng lục hỏi tôi, giọng trịch thượng, cộc lốc:

- Có giấy tờ gì không?

Tôi móc túi áo ngực lấy ra tờ giấy nghỉ phép trao cho họ. Người vừa hỏi tôi bấm đèn pin xem. Xem xong anh ta đưa trả lại cho tôi, giọng anh ta dịu hẳn:

- Sao đồng chí không vào nhà trọ nghỉ mà lại nằm đây? Sương nhiều lắm!

Tôi trả lời họ vắn tắt. Họ nghe xong mỉm cười rồi chào tôi bỏ đi.

Tôi tiếp tục ngả lưng xuống ghế đá. Nhưng lần này thì tôi không thể nào ngủ được. Vừa hút thuốc tôi vừa suy nghĩ vẩn vơ. Thật lạ, hễ không ngủ được là tôi thường hay nghĩ vẩn vơ. Khi thì tôi nghĩ đến đơn vị, lúc lại nghĩ về gia đình. Rồi lại nghĩ đến một con sông, một cây cầu hay một con đường nào đó mà tôi đã từng gặp, từng qua. Có khi tôi lại nghĩ đến một người dân ở gần chỗ đơn vị tôi đóng quân hoặc chỉ là một cô gái mà tôi đã thoáng gặp ở đâu đó. Đầu óc tôi trở nên căng thẳng, hai mí mắt nằng nặng và thái dương thì giật giật liên hồi. Một lúc sau, khắp người tôi nóng dần lên rồi nóng ran lên. Sờ tay vào chỗ nào trên da thịt tôi cũng thấy nóng như lửa. Cả vầng trán và hai bên thái dương bắt đầu đau nhức không sao chịu nổi. Cổ họng tôi khô rát, mặn đắng. Nhìn đâu tôi cũng thấy quay cuồng, chao đảo. Lấy chai dầu gió, tôi thoa lên khắp người và vuốt mạnh khắp nơi để xoa dịu cơn đau. Với kinh nghiệm, tôi biết tôi đang bị cảm nóng. Hồi ở đơn vị, tôi vẫn thỉnh thoảng bị những trận cảm kiểu này. Nhiều khi không cần uống một viên thuốc nào mà chỉ cần nhờ vào một người nào đó bắt gió giúp cũng đỡ. Và thế là do chủ quan, mà cũng không còn cách nào khác, tôi cứ nằm ì trên chiếc ghế đá và thiếp đi lúc nào không hay.

Đang mơ màng tôi nghe có tiếng ai đó gọi nhỏ gần như thì thầm bên tai:

- Chú... chú gì ơi!

Rồi lại:

       Chú bộ đội ơi!

Phải nghe tới ba lần tôi mới sực tỉnh mở mắt ra nhìn quanh. Tôi thấy trước mặt tôi là một thằng bé khoảng mười một, mười hai tuổi gì đó. Nó ngồi xổm, hai tay chống cằm nhìn tôi. Nó mặc quần đùi đen, áo thun đen và cả cái mũ lưỡi trai nó đang đội trên đầu cũng màu đen nốt. Qua ánh điện nhàn nhạt, tôi thấy cả người nó là một khối đen lờ mờ không rõ nét. Tôi hỏi nó:

- Cháu cần gì? Gọi chú có việc gì?

Nó cười khì khì rồi hỏi:

- Chú...chú... có thuốc không cho cháu một điếu?

- Nhỏ vậy mà hút thuốc à? - Nói vậy nhưng tôi vẫn rút ra một điếu đưa cho nó. Nó cầm lấy ngậm luôn vào miệng rồi hỏi:

- Có lửa không chú?

Tôi bật lửa cho nó châm thuốc. Nó hít một hơi dài phả khói ra nghi ngút rồi kêu lên:

- Chà, đã quá! Samít hả chú?

Nó kéo liền mấy hơi nữa rồi dí tắt điếu thuốc đang cháy, dắt lên vành tai. Nó nói: "để lát nữa hút". Rồi nó đứng dậy ngó quanh một vòng như tìm kiếm ai, đoạn ngồi xổm xuống, hai tay chống cằm nhìn tôi như ban nãy. Tôi cũng nhìn nó và đoán lờ mờ rằng: Thằng nhỏ này chắc hẳn là một đứa trẻ sống lang thang ở bến xe này. Không thế thì tại sao vào giờ này nó vẫn còn một mình loanh quanh ở đây? Tôi vẫn đang chóng mặt, buồn nôn, nên rất muốn được yên tĩnh để nghỉ ngơi. Nhưng khi thấy thằng bé cứ ngồi đực ra đấy, tôi lại muốn được làm bạn với nó, trò chuyện với nó. Tôi bèn hỏi:

- Nhà cháu ở đâu?

- Xa lắm! - Nó đáp cụt lủn.

- Xa là bao nhiêu?

- Bốn, năm chục cây số lận.

- Vậy cháu lên đây ở với ai?

- Với tụi bạn như cháu!

- Như cháu là như làm sao?

- Là sống cù bơ cù bất, không nhà không cửa.

- Hằng ngày các cháu làm gì?

- Đánh giày, nhặt bịch nilon, làm tầm quất... việc gì có tiền là tụi cháu làm.

Tôi chống tay ngồi dậy. Trán tôi vã  mồ hôi và khắp người vẫn nóng như lửa. Thấy tôi ngồi dậy, thằng bé cũng đứng lên. Rồi nó lân la ngồi xuống cái ghế đá cạnh tôi. Tôi ngồi dịch sang nhường chỗ cho nó. Tôi nắm tay nó, nó kêu lên: "Trời ơi! Tay chú nóng hầm hập hà!". Rồi nó hỏi:

- Chú là bộ đội đóng quân ở biên giới à?

- Sao cháu biết?

- Vì cháu thấy chú có thuốc Samít của Thái. Loại này cực ngon, phải không chú?

Vừa nói nó vừa rung rung cặp đùi ra vẻ thích thú. Tôi hỏi nó:

- Tên cháu là gì?

- Phong! - Nó trả lời và nói thêm - Tụi bạn thường gọi cháu là Phong tầm quất để phân biệt cháu với một thằng Phong khác chuyên làm nghề nhặt bịch nilon. Rồi nó hỏi lại tôi - Thế còn chú, chú tên gì?

- Cứ gọi chú bộ đội là được rồi... (Còn nữa)

N.N.C

(20) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

«Trước   1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18  Sau»