Sign up

ĐƯỜNG XƯA ĐI HỌC - NNC




 


ĐƯỜNG XƯA ĐI HỌC

Thơnguyễnngọcchiến


Gửi H.
Anh trở lại con đường xưa em đi
Áo trắng học trò mỗi ngày tới lớp
Những trưa hè đong đưa bóng rợp
Hàng cây ven đường ran tiếng ve ngân.

Đường đến trường rộn rã bước chân
Có bướm vàng bay trên đồng lúa mới
Có mái tóc em thơm thơm hương bưởi
Có tình bạn bè lớp trước lớp sau.

Gốc đa đầu làng ta vẫn đứng chờ nhau
Ngày hai buổi cùng đi về sớm tối
Rười rười triền đê mênh mang gió thổi
Ta bên nhau như trang sách cuộc đời.

Gương mặt em rạng rỡ xinh tươi
Chúm chím làn môi, nói cười nhỏ nhẹ
Thích thêu thùa và đam mê hoa dẻ
Học giỏi chăm ngoan, điểm chín...mười...

Quên làm sao năm tháng ấy em ơi
Cuộc sống khó khăn trăm đường cơ cực
Cha mẹ nghèo vẫn thương con hết mực
Tần tảo làm ăn nuôi con lớn thành người.

Ta bây giờ hai đứa ở hai nơi
Cuối bể đầu non dặm đường xa ngái
Rồi chẳng biết có khi nào gặp lại
Để ta được một lần
                            
nằm hôn đất
                                            
quê hương!
N.N.C

 

 

 

 

(26) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

CÁT NƠI ẤY MÀU XANH - NNC

 

 

NGUYỄN NGỌC CHIẾN

CÁT NƠI ẤY MÀU XANH

BÚT KÝ


@Chương trình Phát thanh "VĂN NGHỆ" Đài Tiếng nói Việt Nam;
Tạp chí Agribank (NHNN và PTNT Việt Nam) và một số báo khác.
         
Có lẽ trên hình hài đất đai Quảng Trị  không một nơi nào nhiều cát như ở đây. Tôi đã nhủ thầm  như vậy trong lần đầu tiên tôi về các xã miền ven biển Triệu Phong. Lần ấy cách đây đã hơn mười lăm năm trôi qua rồi nhưng những ấn tượng về một vùng quê với những trảng cát dài mênh mông, vô tận thì dường như vẫn còn nguyên vẹn trong tôi. Dọc đường 64 xuôi về Cửa Việt qua các xã Triệu Trạch, Triệu Vân, Triệu An....đâu đâu tôi cũng thấy một màu cát trắng. Trong nắng hè tháng sáu, mặt cát nóng bỏng phản chiếu như một tấm gương khổng lồ. Mỗi đợt gió thổi qua, cát lại cuồn cuộn bay lên không trung. Và cát ở đây mới thật đúng là cát, mịn màng, trinh nguyên đến lạ lùng! Tôi cứ có cảm giác rằng, cái thứ cát nguyên chất xứ sở này rồi sẽ cứ trắng đến lạnh lùng, tàn nhẫn; rồi sẽ cứ mặc sức bay nhảy, tung hoành. Còn con người ở đây thì hết đời này qua đời khác, hết năm này qua năm khác phải chịu bao khốn khổ vì cát.
         
Đầu tháng tư năm nay tôi có dịp trở lại vùng quê xứ cát này. Cũng vẫn là những trảng cát, đồi cát mênh mông bể sở năm xưa nhưng giờ đây tất cả đã đổi khác. Trước mặt tôi màu cát trắng đã gần như nhường chỗ cho màu xanh của các loại cây trồng. Bên những màu xanh tít tắp của rừng cây lâm nghiệp trải dài là những thửa vườn, ao cá...cũng một màu xanh biêng biếc rất đỗi dịu hiền. Tỉnh lộ 64, đường Quốc phòng, đường liên xã, liên thôn... nơi nào cũng rợp mát bóng cây. Những con đường như những cánh tay âu yếm vươn ra nối những làng quê, nối những cánh đồng gần nhau hơn. Màu xanh của cỏ cây hoa lá cũng như gần gũi hơn, đằm thắm hơn. Tầm mắt người cũng ngắn lại bởi màu xanh. Bàn chân người cũng thanh thản hơn bởi màu xanh. Màu xanh đang ròng rã ngày đêm lấn dần màu cát trắng, biến cát trắng thành màu xanh phục vụ con người.

          Điểm dừng chân đầu tiên của tôi là Triệu Trạch, một trong năm xã vùng cát của huyện Triệu Phong. Không ai có thể ngờ được rằng, Triệu Trạch với một chốt thép Long Quang kiên cường thời đánh Mỹ, một "làng đại học" Lệ Xuyên lừng danh thời xây dựng lại là những làng quê tứ bề cát trắng. Hạt lúa, củ khoai ở đây cũng từ cát mà ra. Anh hùng, tài năng ở đây cũng từ cát mà sinh ra. Bao đời nay người và cát Triệu Trạch như hoà lẫn, quấn quyện làm một. Cát nuôi người và người yêu cát. Anh Nguyễn Phiến, cán bộ chuyên trách dự án cải tạo vùng cát Triệu Trạch trong câu chuyện tâm tình với tôi về quê hương mình đã cho biết: "Xã tôi có sáu thôn thì có tới năm thôn là vùng cát. Cả xã có tổng diện tích đất tự nhiên 3466 hécta thì có tới 3000 hécta là cát. Cả xã có 1.364 hộ thì có tới chín mươi phần trăm số hộ sống trên cát. Người dân quê tôi quanh năm lam lũ, tảo tần với cát, sống với cát và khi chết cũng về với cát...".
          Qua tìm hiểu anh Phiến tôi mới vỡ lẽ ra rằng: Trước đây Triệu Trạch là một xã rất nghèo, nhưng từ khi có chủ trương của huyện về cải tạo vùng cát, Triệu Trạch đã vươn lên trở thành một xã đi đầu về phát triển nông  - lâm nghiệp tương đối toàn diện ở vùng cát Triệu Phong. Dựa vào lợi thế diện tích đất tự nhiên dồi dào, hàng chục năm qua,đặc biệt là từ năm 1990 đến nay, Triệu Trạch đã vươn ra chế ngự vùng cát, bắt cát phải thay đổi quy luật phục vụ lợi ích cho con người. Từ một vùng quê lam lũ, đói nghèo, bời bời cát trắng năm xưa, qua bao năm năm tháng nhọc nhằn, từ đôi bàn tay cần mẫn của nhân dân một màu xanh của ấm no, của hy vọng đã bắt đầu trỗi dậy đơm hoa kết trái. Bây giờ Triệu Trạch đã có đến 1000 hécta cây lâm nghiệp. Cây lâm nghiệp ở đây là rừng chống nạn cát bay, cát lấp, là thành luỹ bảo vệ môi sinh môi trường và cuộc sống sản xuất của nhân dân. Trong sản xuất nông nghiệp cùng với thâm canh cây lúa, Triệu Trạch đã hàng năm trồng được 160 hécta khoai lang, 81 hécta lạc, 46 hécta ngô, 43 hécta sắn và hàng chục hécta rau màu các loại trên cát. Cát cứ ngày ngày xanh thêm, làng xóm Triệu Trạch cứ ngày ngày thay da đổi thịt thêm. Anh Phiến còn hồ hởi kể với tôi rằng: Để chế ngự cát và làm lợi từ cát, mấy năm gần đây được sự tài trợ của Chính phủ Nauy, trong khuôn khổ của dự án cải tạo vùng cát Triệu Phong, Triệu Trạch đã lần đầu tiên xây dựng được ba làng sinh thái trên cát với số dân ban đầu gồm 84 hộ. Người dân làng sinh thái đã bước đầu ổn định được nơi ăn chốn ở để phát triển sản xuất.

          Tôi đến thăm gia đình anh Nguyễn Toàn, một chủ hộ sản xuất giỏi ở làng sinh thái. Anh Toàn đi vắng, nhưng với những gì tôi thấy và với những gì tôi nghe làng xóm anh kể lại thì anh quả đúng là một người sản xuất giỏi. Vâng ! Không giỏi sao được, khi chỉ mới ba năm ra lập nghiệp ở vùng cát mà anh Toàn đã có trong tay một trang trại sản xuất khá bề thế. Ngoài các loại cây đã cho thu nhập, anh Toàn còn xây dựng được cho mình một hồ nuôi cá nước ngọt rộng gần hai hécta. Cá là nguồn thu nhập chính của gia đình anh. Khi có vốn trong tay, anh xoay sang mở rộng chăn nuôi và đã có đàn vịt lúc cao điểm lên tới 3000con, đàn gà 200 con và đàn lợn nái 15 con. Cây trồng và chăn nuôi đã đem lại cho gia đình anh nguồn thu nhập mỗi năm xấp xỉ 30 triệu đồng. Nhìn cơ ngơi trang trại của anh với một sức sống bền vững trên cát, tôi thầm ao ước trong một ngày không xa người dân xứ cát Triệu Trạch nói riêng và Triệu Phong nói chung mọi nhà cùng được như thế.
         
Trước năm 1975 và kéo dài cho đến những năm bảy mươi, tám mươi của thế kỷ trước, nhiều vùng cát rộng lớn ở Triệu Phong vẫn tồn tại như những sa mạc chết, là xứ sở của nắng và gió. Nhiều người dân tôi gặp ở các xã vùng cát Triệu Phong khi vui mừng nói với tôi về những đổi thay trên quê hương của họ hôm nay đã không khỏi ngậm ngùi nhắc đến những ngày khốn khó đã qua. "Hồi ấy, người dân vùng cát ai cũng muốn bỏ làng mà đi. Đi đâu cũng được, làm gì cũng được, miễn là đừng phải ngày ngày khổ sở vì cát". - Một người dân ở xã Triệu An đã thổ lộ với tôi như vậy. Còn ông Nguyễn Văn Minh, Trưởng làng sinh thái Vĩnh Hoà, xã Triệu Vân thì tâm sự:  "Lúc trai trẻ, cứ mỗi lần nghĩ đến vùng cát hoang hoá quê mình là tôi lại ao ước một điều gì đấy. Tôi nghĩ không lẽ cát không trồng được cây ? Đã từng đi đây đó, tôi thấy nhiều nơi người ta sống trên cát mà vẫn giàu, cây trồng trên cát mà vẫn xanh, vẫn đẹp. Thế là tôi tiếc rẻ cho vùng cát quê mình. Nhưng hồi chế độ cũ mấy ai quan tâm đến cát...".

          Ấp ủ hoài bão ấy, mãi những năm đầu thập kỷ chín mươi, ông Minh mới thực hiện được ao ước của đời mình là đưa cả gia đình ra lập nghiệp ở vùng cát. Ông nói rằng, ngày ấy cả khu vực này là một trảng cát lớn, trơ trọi, trắng xoá, không một bóng cây. Vợ chồng ông đã dựng lên một căn nhà nhỏ che mưa, che nắng và bắt đầu một cuộc sống mới trên vùng cát này. Qua bao năm tháng, cát đã khuất phục ý chí quyết tâm của con người. Làng Vĩnh Hoà trở thành làng sinh thái đầu tiên và giàu đẹp nhất trong các làng sinh thái ở vùng cát Triệu Phong. Còn ông Minh - một trong những người "đi tiên phong" về xây dựng làng sinh thái - cũng đã trở thành một chủ hộ sản xuất giỏi, có thu nhập cao nhất ở các làng sinh thái ven biển. Ở làng sinh thái Vĩnh Hoà, ngoài gia đình ông Nguyễn Văn Minh còn có gia đình ông Mai Đình Đàn, ông Nguyễn Văn Lợi, ông Mai Phú Quốc...là những gia đình cũng được xem là sản xuất giỏi và đã có thu nhập hàng năm trên dưới 20 triệu đồng từ cây trồng và chăn nuôi gia súc gia cầm trên cát. Sáu chục hộ dân làng sinh thái Vĩnh Hoà cuộc sống đang từng ngày đổi thay. Ra thăm vườn cây ao cá của ông Minh, tôi thấy cây gì cũng xanh tươi mơn mởn. Nhưng đẹp nhất, tốt tươi nhất vẫn là lạc. Lạc ở vùng cát Triệu Phong không thua kém lạc ở vùng đất đỏ hay đất thịt. Nhổ một cụm lạc tôi đếm cả thảy có 43 củ, dù còn non nhưng mười củ như chục, đều đặn. Anh Phan Chí Trung, cán bộ Văn phòng Uỷ ban nhân dân xã Triệu Vân nói rằng: Lạc là cây trồng chính của nông dân vùng cát nên trong tương lai xã sẽ phát triển thêm để nâng diện tích lên gấp rưỡi, gấp đôi thay vì 48 hécta  như hiện tại. Nhiều gia đình ở các làng sinh thái Triệu Vân cũng như Triệu Sơn, Triệu Trạch, Triệu Lăng đã có từ bốn đến năm sào lạc. Vườn cây của ông Minh còn có xoài, nhãn...tuy mới trồng nhưng đã khá lớn. Một giàn bầu, một giàn mướp đắng quả chi chít thõng xuống mặt hồ. Ông Minh nói với tôi có năm chỉ một giàn mướp đắng mà ông thu bạc triệu, một giàn bí hay giàn bầu mà ông thu bạc trăm, một khóm ớt, một cụm rau thơm mà ông thu bạc chục. Bản tính cần cù "năng nhặt chặt bị" đã giúp vợ chồng ông nuôi bảy đứa con khôn lớn, dựng vợ gả chồng cho chúng, tạo được vốn liếng cho chúng làm ăn. Bây giờ đã ở tuổi ngoài sáu mươi nhưng vợ chồng ông vẫn mỗi người một việc. Ông thì vừa làm Trưởng thôn vừa chăm sóc vườn cây, bà thì vừa nội trợ vừa rau bèo cám bã chăm sóc đàn lợn. Họ còn có một cơ sở đúc ngói xi măng tạo việc làm thường xuyên cho bốn lao động trong làng nhờ vào nguồn cát nguyên chất vô tận ngay trong vườn nhà.

          Dọc tỉnh lộ 64, bắt đầu từ cuối xã Triệu Trạch đến Cửa Việt, tôi gặp nhiều làng sinh thái vừa hình thành lên ở cả hai bên tỉnh lộ. Mỗi làng là một cái bàn cờ vuông vức và mỗi ngôi nhà là một quân cờ trong cái bàn cờ đó. Ở mỗi làng sinh thái đều có gắn biển tên làng và có một con đường đất đỏ rộng rãi, thẳng tắp nối từ tỉnh lộ 64 chạy đến cuối làng. Những hàng cột điện cũng thẳng tắp, những hàng cây mới trồng cũng thẳng tắp. Tôi nhớ lúc ở Ái Tử, anh Nguyễn Châu Long, Phó Văn phòng Uỷ ban nhân dân huyện có nói với tôi là ở cả năm xã vùng cát Triệu Phong đều có làng sinh thái. Và cho đến nay, theo thứ tự thời gian thì đã có cả thảy mười làng sinh thái ra đời với khoảng trên 400 hộ dân án ngữ trên khoảng vài ngàn hécta cát. Chủ trương của Uỷ ban nhân dân huyện Triệu Phong về cải tạo vùng cát hoang hoá là không có cách gì bền vững bằng cách đưa dân ra lập làng sinh thái trên cát. Chỉ có cách đó mới tạo được cho cát màu xanh vĩnh viễn lâu dài. Và cũng chỉ có cách đó  mới mong cải thiện được cuộc sống cho nhân dân vùng cát. Bằng sự giúp đỡ của Chính phủ Nauy và các chương trình, dự án khác của Nhà nước, của tỉnh, Triệu Phong đã đầu tư hàng chục, hàng trăm tỉ đồng cho các dự án cải tạo vùng cát huyện nhà. Nhưng có lẽ đó chưa phải là tất cả. Nói như anh Dương Trọng Khiên, cán bộ xã Triệu An thì ở một số làng sinh thái cuộc sống của không ít hộ gia đình vẫn gặp nhiều khó khăn. Mặc dù đã được đầu tư tiền xây dựng nhà cửa, tạo cho điều kiện làm ăn, nhưng nhân dân vẫn không khỏi bỡ ngỡ, lạ lẫm lúc ban đầu. Âu đó cũng là lẽ thường tình của buổi "khai đất lập làng" mà không riêng một nơi nào gặp phải. Và như vậy, Triệu Phong còn phải tiếp tục quan tâm, giúp đỡ nhân dân vùng cát, đặc biệt là nhân dân ở các làng sinh thái vừa mới thành lập. Phải làm sao để trong vòng mười năm, thậm chí năm, bảy năm tới tất cả mười làng sinh thái  trên vùng cát ven biển Triệu Phong này phải thực sự khởi sắc đi lên, an tọa vĩnh viễn cùng với màu xanh do chính con người tạo lập nên cho cát. Phần tôi, trong chuyến đi này, được tận  mắt chứng kiến những đổi thay kỳ diệu ở vùng cát quê nhà và dù còn nơi này chỗ kia khác nhau, tôi vẫn muốn gọi cát nơi ấy là cát màu xanh.
N.N.C

(20) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

NÓI VỚI EM - NNC


NÓI CÙNG EM

Thơnguyễnngọcchiến


Nỗi nhớ này anh biết gửi cho ai
Biết nói cùng ai những lời yêu mến
Mơ về ai những đêm dài lưu luyến
Em đi rồi còn lại một mình anh!

Em đi rồi nắng như chẳng còn xanh
Trăng lặn, sao mờ, gió lùa trước cửa
Mưa bay bay đều đều như nhịp thở
Nỗi buồn này anh biết nói cùng ai?

Biết nói cùng ai khi mỗi sáng ban mai
Anh thức dậy thấy mình cô đơn quá
Những gì thân quen sao bây giờ xa lạ
Vắng em rồi càng thấm thía nỗi đau.

Giá ngày ấy chúng mình đừng quen nhau
Đừng nói lời yêu, đừng tỏ tình vội vã
Đừng dành cho nhau những gì tha thiết quá
Đâu đến nỗi bây giờ xa xót cõi lòng nhau!

Ta đã từng hẹn ước tới mai sau
Còn lại những gì ta cho nhau tất cả
Hạnh phúc đơn sơ như cỏ cây hoa lá
Rất gụi gần sao bỗng hóa xa xôi.

Anh với em giờ ngăn cách biển khơi
Người mỗi phương biết khi nào gặp lại
Tình còn đó vẫn hồng tươi thắm mãi
Mà chẳng thể bên nhau một giấc mơ nồng.

Anh trở về trong đêm nhớ ngày mong
Cay đắng, buồn vui kết thành kỷ niệm
Sẽ là nốt nhạc ngân rung xao xuyến
Tận đáy lòng anh cho đến cuối đời.
N.N.C

(30) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

NÓI ĐI ANH - NNC


 

NÓI ĐI ANH

thơNguyễnNgọcChiến


@Thơ vui gửi một người!
Vào đêm trăng cũng vừa lên
Anh ơi ta hãy ra hiên tự tình
Hôm nay nói rõ chuyện mình
Để em còn biết sự tình ra sao.

Yêu nhau năm nảo năm nào
Mà anh cứ mãi...vườn đào vườn lê
Chuyện mình anh lại bỏ bê
Gặp nhau rồi lại ra về lặng thinh.

Người ta bao đám cưới xin
Chồng chồng vợ vợ nghĩa tình bên nhau
Còn em em nghĩ mà đau
Cũng yêu sao nỡ chuốc sầu vào thân.

Nhiều lần em cứ phân vân
Có nên...cắt đứt với anh tình này
Cha thì cáu gắt cả ngày
Mẹ thì chì chiết mặt mày ủ ê.

Đêm nay dưới ánh trăng quê
Nhìn trăng anh hãy thử...thề trước sau
Có yêu thì nói một câu
Không yêu anh cũng...một câu rõ ràng.

Chớ đừng dở dở dang dang
Kẻo rồi hoa héo lỡ làng duyên em
Thân con gái tựa cánh sen
Sen tàn ong bướm đua chen làm gì.

Kìa, trăng đang giục anh kìa
Nói cho xong chuyện mà về kẻo khuya!
N.N.C

(23) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

CHỊ TÔI - NNC


CHỊ TÔI

thơNguyễnNgọcChiến

Chị tôi sống ở thôn quê
Quanh năm lam lũ làm thuê nhà người
Đêm đêm gối thấm lệ rơi
Chồng con chẳng có lẻ loi một mình...

Thời thiếu nữ chị rất xinh
Tóc mềm như suối thân hình mảnh mai
Làn da tựa cánh hoa nhài
Áo Hồng Công với quần dài lụa đen.

Riêng tư chị gác một bên
Chiến trường đạn dưới bom trên chị vào
Thân con gái giữa gian lao
Trở về tàn tạ hoa đào tuổi xuân.

Khi xưa kẻ ái người ân
Bây giờ một mảnh tình chân chẳng còn
Căn nhà nhỏ ở cuối thôn
Một mình chị với mỏi mòn canh khuya.

Suối tóc xưa đã dần thưa
Đổi màu theo với nắng mưa cuộc đời
Nụ cười héo hắt trên môi
Còn đâu đôi mắt một thời đam mê...

Chị tôi sống ở thôn quê
Quanh năm lam lũ làm thuê nhà người
Đêm đêm gối thấm lệ rơi
Chồng con chẳng có lẻ loi một mình.
N.N.C

(36) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

EM LÀ NÀNG TIÊN - NNC


EM LÀ NÀNG TIÊN

thơNguyễnNgọcChiến


@Tặng các em gái!
Trong mắt anh em là Nàng Tiên đấy
Tiên đẹp nhường nào cũng thế mà thôi
Nhưng Nàng Tiên là chuyện của xa xôi
Là chuyện của ngụ ngôn, cổ tích...

Em hiện diện giữa cuộc đời rất thật
Chẳng cần phép màu, chẳng lụy phiền ai
Em như bình minh rạng rỡ mỗi ban mai
Như hoàng hôn buông trong chiều lặng.

Em ấm áp như muôn vàn tia nắng
Xua cái lạnh mùa đông gọi gió xuân về
Trong đêm đen em là ánh sao khuya
Là vầng trăng bồng bềnh khi mờ khi tỏ.

 



Trong mắt anh em là bông hồng đỏ
Dệt tình yêu tươi thắm mãi bốn mùa
Đất trời vào xuân cây cối đơm hoa
Hạnh phúc đơn sơ nồng nàn hương lửa...

Viết về em biết nói sao cho đủ
Ngàn vạn bài thơ sâu lắng thiết tha
Còn ngân vang như một bản tình ca
Chỉ riêng anh có một điều rất thật.

Trong mắt anh em là người đẹp nhất
Đẹp nhất trên đời, đẹp nhất trần gian
Chẳng có Nàng Tiên nào sánh được với em
Chẳng có vẻ đẹp nào làm anh đắm đuối.

Tà áo dài thướt tha, mát rượi
Em sẽ là Nàng Tiên đấy em ơi!
N.N.C

(22) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

HOA DẺ - NNC

HOA DẺ
thơNguyễnNgọcChiến


Anh về lại quê em
Giữa một chiều nắng ấm
Bâng khuâng anh đứng ngắm
Đất quê nhà yêu thương.

Lòng anh bỗng rưng rưng
Dâng trào bao kỷ niệm
Dâng trào bao lưu luyến
Của một thời chưa xa.

Của một thời đôi ta
Tình yêu và tuổi trẻ
Nồng nàn hương hoa dẻ
Giữa đất trời mênh mông.



Anh thăm lại đồi thông
Nơi gặp em ngày ấy
Cảnh xưa giờ vẫn vậy
Chỉ khác vắng em thôi.

Anh leo lên ngọn đồi
Trải mắt nhìn bốn hướng
Bỗng từ đâu bay đến
Hương dẻ nhè nhẹ thơm.

Hương dẻ cứ mơn man
Thoang thoảng hoài trong gió
Nao nao anh hỏi nhỏ
Em bây giờ nơi đâu?



Nhớ ngày ấy bên nhau
Ta cùng yêu hoa dẻ
Khăn mù soa anh vẽ
Cho em thêu chỉ hồng.

Ôi, đôi bướm, nhành bông
Long lanh trong sắc nắng
Như tình yêu trong trắng
Của đôi mình vương vương.

Em mỉm cười soi gương
Cài bông hoa lên tóc
Vô tư em ngồi học
Mê mẩn cả hồn ai?



Nhớ những buổi ban mai
Ta tìm hái hoa dẻ
Trong âm thanh lặng lẽ
Giữa núi đồi lô nhô.

Đường đèo dốc quanh co
Em níu anh bối rối
Anh đỡ em vồi vội
Đôi mắt tình đong đưa.

Rồi tới một chiều mưa
Đơn vị hành quân gấp
Em đi đâu không gặp
Phút chia tay lặng thầm...



Thấm thoắt đã bao năm
Trong cách xa vời vợi
Hôm nay anh trở lại
Em bây giờ ra sao?

Tha thẩn giữa đồi cao
Bốn bề lồng lộng gió
Hoa dẻ vẫn còn đó
Em bây giờ nơi nao?

Tình yêu xưa ngọt ngào
Có hương thơm hoa dẻ
Mình anh nay đơn lẻ
Vẫn dạt dào em ơi!
N.N.C

(23) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

CAO HẠNH - NNC

 

CAO HẠNH

           Cao Hạnh là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Nghệ sỹ Sân khấu Việt Nam, hội viên Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Trị và là Tổng Biên tập Tạp chí Cửa Việt gần mười lăm năm nay.

         Cao Hạnh yêu văn chương và đến với văn chương ngay từ khi đang là học sinh. Rồi sau này, khi đã là một cán bộ văn hóa huyện về cơ sở công tác, anh đã có những sáng tác đầu tay bằng những vở kịch, bài thơ...do chính anh dàn dựng, diễn xuất, phục vụ công chúng khán giả là đồng bào vùng giới tuyến Vĩnh Linh trong những năm đầu sơ tán trở về xây dựng, hàn gắn vết thương chiến tranh.
         
Khởi nghiệp để rồi gắn bó với văn chương mấy chục năm qua bằng những vở kịch, bài thơ, nhưng thành công lớn nhất ở nhà văn mộc mạc, chân quê, luôn đau đáu một nỗi niềm về quê hương nguồn cội này lại là thể loại truyện ngắn - một thể loại văn học được xem là không phải ai suốt một đời đa mang, gắn bó cũng đều thành công.

 

Nhà văn Cao Hạnh         

          Cao Hạnh đến với truyện ngắn để rồi có ngay tập truyện ngắn đầu tay "Bồ Câu Xám" do Nhà xuất bản Thanh niên ấn hành ra mắt bạn đọc khi mà tuổi đời của anh vẫn còn rất trẻ. Cũng trong thời gian này một vở kịch ngắn của anh đã đoạt giải nhất về đề tài lực lượng vũ trang và chiến trang cách mạng.
         
Cao Hạnh viết chậm, chắc, có vẻ như anh không quan tâm đến số lượng, mà cái anh hướng tới chính là chất lượng, chính là cái còn lại trong lòng bạn đọc qua mỗi sáng tác của mình. "Huyền Thoại Tình Yêu" - Nhà xuất bản Hội Nhà văn năm 1999 là một tập truyện ngắn hay của anh. Trong tập này, một số truyện như "Chiếc khăn che mặt", "Bài ca điệu lý"...đã được chọn in trong các tập truyện ngắn hay.
         
Mới đây anh lại cho ra mắt bạn đọc tập truyện ngắn "Vú Cát". Ngay từ khi mới ra đời, "Vú Cát" đã đón nhận sự sẻ chia, đồng cảm hết sức nồng hậu của giới văn học và bạn bè yêu văn chương. Đã có hàng chục bài viết của các nhà phê bình, các nhà văn, bạn đọc...đăng tải trên các báo, các tạp chí văn nghệ trong cả nước nói về tập truyện ngắn này. Và, một chút nữa thôi, "Vú Cát" đã được vinh danh trong giải thưởng hàng năm của Hội Nhà văn Việt Nam.
         
Bẵng đi một thời gian, ít thấy Cao Hạnh viết truyện ngắn mà thay vào đó là kịch, là thơ, nhất là thơ. Hình như anh muốn quay trở lại cái thể loại ban đầu anh yêu thích để thử sức mình. Một vài năm trở lại đây, thơ Cao Hạnh liên tục xuất hiện trên các báo và tạp chí văn nghệ, từ tờ báo...to nhất là Tạp chí Thơ của Hội Nhà văn Việt Nam, đến những tạp chí văn nghệ các tỉnh, thành. Và, chỉ mới đây thôi, anh đã cho xuất bản tập thơ "Giấc Mơ Màu Cỏ" của mình, tập hợp hơn bốn mươi bài thơ trong tổng số hàng trăm bài mà anh đã sáng tác trong thời gian qua.

          Thơ Cao Hạnh chịu ảnh hưởng sâu sắc của thể loại truyện ngắn mà anh là người từng trải. Đó là ở mỗi bài thơ của anh, trong cái cảm xúc mênh mông, vời vợi, nặng nghĩa nặng tình...với quê hương, cha mẹ, người thân, bạn bè, những kỷ niệm trong cuộc đời...bao giờ cũng lấp lánh hình bóng ai đó trong thơ anh. Một người cha với dư âm tiếng đàn bầu thánh thót; một người mẹ với điệu hò ru con ngọt ngào, thắm thiết; một người chị đi lấy chồng xa; một cô gái và người yêu trên thảo nguyên mênh mông; một chân dung nhà thơ giữa làng mạc, ruộng đồng...Mỗi bài thơ của Cao Hạnh bao giờ cũng ngân rung tiếng nức nở của cõi lòng và chan chứa, thấm đẫm tình yêu thương đồng loại mà anh muốn nhắn gửi. Thơ anh vì thế mà đằm thắm, dịu dàng, giàu cảm xúc, dễ đọc, dễ thuộc, dễ đi vào lòng người. Và tôi cho rằng, những bài thơ "có nhân vật" là những bài thơ thành công nhất của anh.
         
Viết về chân dung văn học Cao Hạnh, không thể trong một bài viết nhỏ mang tính giới thiệu trên trang blog này mà nói hết được. Có lẽ tôi sẽ trở lại với nhà văn này trong một bài viết đầy đủ hơn. Còn bây giờ xin được gửi tới bạn đọc một số bài thơ của Cao Hạnh trong tập "Giấc Mơ Màu Cỏ" do Nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành vào đầu năm 2010 này. Cũng xin nói thêm, những bài thơ tôi chọn dưới đây chưa hẳn là những bài thơ hay nhất của anh trong tập thơ này.
                                                                                                          Vĩnh Linh, ngày 03.03.2010
                                                                                                                 
Nguyễn Ngọc Chiến

 

 

THẢO NGUYÊN
thơCaoHạnh

Thảo nguyên ơi...thảo nguyên
Nơi anh đi cùng em
Giữa những chiều mênh mông hoa cỏ
Giữa những chiều biếc xanh ngọn gió
Màu hoa tím lặng trong chiều
Trên thảo nguyên đôi bướm trắng vờn nhau
Dệt giữa trời xanh hoa nắng
Anh nói bắt cho em bướm trắng
Em mỉm cười nũng nịu "bướm vàng thôi"

 

 

Hai chúng mình đuổi bướm em ơi
Trong phút chốc bướm bay đi đâu mất
Chỉ còn lại giữa hương hoa cỏ mật
Đôi chúng mình ngây ngất ngắm trời xanh
Em hái nhành cỏ biếc trao anh
Anh đặt bông mua vào môi em gái
Em tinh nghịch cắn bông hoa thế mãi
Để anh lỡ làng
              
cháy bỏng
                        
nụ hôn em...
Thảo nguyên...thảo nguyên
Anh không ngờ từ đó xa em
Xa mãi mãi, khi đầu xanh đã bạc
Nhớ một nụ hôn chưa bao giờ trao được
Nên cuộc đời thảm cỏ cứ xanh non.
C.H

 

NGÀY CHỊ ĐI LẤY CHỒNG
thơCaoHạnh

Ngày chịu đi lấy chồng
Tóc em còn để chỏm
Giờ đưa dâu
Em mãi bắt cào cào
Sực nhớ lại
Em chạy ùa ra bến sông
Lúc ấy con thuyền đã rời bến ngược dòng
Chị ngoảnh lại nhìn em, lệ tràn mi mắt
Em bâng khuâng hồn níu bóng con thuyền
Sỏng tay
            
rơi
                c
on cào cào bay lên
Đôi cánh tím vẽ hoàng hôn lên nắng vàng hun hút.

 



Ngày ấy chị đi để lại
Chiếc áo tơ tằm có hàng cúc bóp
Và cuốn sổ bìa da ghi bài hát
Nét chữ hiền màu mực tím rưng rưng
Lũ chúng em dành nhau chiếc áo tơ tằm
Để hít hà hơi chị
Những đứa em chưa hề biết chữ
Mà ngày nào cũng lật sổ từng trang...

Rồi một ngày con quạ bay ngang
Để lại tiếng kêu lạnh núi
Cả nhà nhìn nhau không nói
Ba ngày sau tin chị mất bay về
Cả nhà đang ăn cơm bỏ đũa chạy ra sông
Mẹ đau đớn lăn mình trên vạt cỏ
Dòng sông đưa chị về bến cũ
Nơi ngày xưa chị đi lấy chồng
Tiếng em khóc gào hằn lên mặt sông
Bãi cỏ cào cào tung lên ngàn cánh tím
Như hoàng hôn vỡ thành từng mảnh
Bay mù trời xoáy lốc vào đêm.

Chị ơi...từ ấy đã bốn mươi năm
Mái tóc em bây giờ điểm bạc
Thời gian cứa lên làn xanh từng nhát
Bao đau thương chôn chặt trong lòng
Kỷ niệm ngày chị đi lấy chồng.
C.H  

              

(28) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

1 2  Sau»