Sign up

DƯ ÂM MỘT VÙNG ĐẤT - NNC

 

NGUYỄN NGỌC CHIẾN
Dư âm
một vùng đất
GHI CHÉP

           (Tiếp theo)
           ...Tháng chạp, trời lắc rắc mưa. Tôi đến thăm gia đình Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Mít ở thôn Phú Hưng. Cả xã Hải Phú có tổng số hai mươi ba Bà mẹ Việt Nam Anh hùng nhưng hiện nay chỉ có ba mẹ còn sống là mẹ Trần Thị Mít, mẹ Trần Thị Dẫn và mẹ Nguyễn Thị Quý. Mẹ Trần Thị Mít năm nay vừa tròn 103 tuổi đang sống với người con trai đầu là ông Nguyễn Năng Luân năm nay cũng đã 84 tuổi. Theo ông Luân cho biết thì năm nay mẹ Mít đã yếu đi rất nhiều so với vài năm trước. Lần đầu tiên gặp mẹ Trần Thị Mít mà tôi đã không được nói chuyện với mẹ. Nhưng với những gì mà tôi đã từng được biết về mẹ cũng đủ để lòng tôi tôn kính, ngưỡng mộ mẹ rồi. Mẹ là Bà mẹ Việt Nam Anh hùng có tới 9 thân nhân là liệt sĩ, thuộc vào hàng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng có nhiều thân nhân liệt sĩ nhất ở Quảng Trị. Ngoài chồng là ông Nguyễn Năng Hải và một con trai là anh Nguyễn Năng Phàn hy sinh trong kháng chiến chống Pháp thì mẹ Mít còn có tới năm người con khác là các anh Nguyễn Năng Dể, Nguyễn Năng Để, Nguyễn Năng Kế, Nguyễn Năng Tút, chị Nguyễn Thị Tiếp, một người con dâu là chị Phạm Thị Tiết và một cháu nội là anh Nguyễn Năng Thành hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ. Cuộc đời mẹ đã góp phần làm rạng rỡ đất Hải Phú anh hùng bởi những chiến công to lớn của những người ruột thịt thân yêu của mẹ.


         

          Tôi cũng đã đến thăm Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Dẫn và con gái của mẹ nữ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Văn Thị Xuân. Khác với mẹ Trần Thị Mít, mẹ Trần Thị Dẫn vẫn còn đang rất khoẻ. Trong kháng chiến, mẹ Dẫn cũng đã phải ba lần chít khăn tang cho chồng và hai người con trai hy sinh cho cách mạng. Con gái mẹ, chị Văn Thị Xuân lúc bấy giờ là một nữ dân quân hoạt động hợp pháp trong lòng địch ngay tại quê hương Hải Phú. Chị Xuân đã mưu trí trà trộn trong lòng địch, bất chấp mọi khó khăn, nguy hiểm để nắm tình hình địch báo ra vùng tự do cho bộ đội và du kích. Chị còn bí mật vận động quần chúng nhân dân nổi dậy phá ấp chiến lược, diệt ác trừ gian. Bản thân chị cũng đã cùng với đồng đội nhiều lần đột nhập vào tận sào huyệt của địch để gài mìn và đã tiêu diệt được một số tên cả Mỹ lẫn ngụy. Năm 1974, với những chiến công đặc biệt xuất sắc của mình, chị Văn Thị Xuân đã vinh dự được Chính phủ Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Mười mấy năm sau, mẹ chị, bà Trần Thị Dẫn cũng đã vinh dự được Chủ tịch Nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Như vậy là trên đất Hải Phú nói riêng, Quảng Trị nói chung lần đầu tiên có một gia đình mà cả mẹ và con gái đều là anh hùng.
         
Theo sự gợi ý của Bí thư Đảng uỷ xã Văn Ngọc Uy và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Văn Ngọc Ánh tôi đã tìm đến gặp cựu chiến binh Nguyễn Năng Hợi. Theo hai anh Uy và Ánh thì trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Nguyễn Năng Hợi là một trong những du kích được xếp vào hàng những người con ngoan cường dũng cảm nhất của quê hương Hải Phú. Chính vì thế mà vào những năm chín lăm, chín sáu tiếp tục thực hiện Nghị định của Chính phủ về ưu đãi người có công trong kháng chiến, với những thành tích xuất sắc của mình, Nguyễn Năng Hợi đã được Ban chỉ huy quân sự huyện Hải Lăng và Hội đồng thi đua khen thưởng xã Hải Phú thụ lý hồ sơ đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Nhưng bởi lý do gì đó mà cho đến nay Nguyễn Năng Hợi vẫn chưa nhận được phần thưởng cao quý này.


         

          Trong kháng chiến chống Mỹ, ngay từ năm mười sáu tuổi, Nguyễn Năng Hợi đã tham gia vào lực lượng du kích xã làm liên lạc rồi dần dần chuyển lên các cương vị khác. Từ năm 1969 cho đến ngày quê hương giải phóng, anh đảm đương chức vụ Xã đội trưởng Hải Phú. Đó là thời kỳ vô cùng gay go, ác liệt giữa ta và địch. Nguyễn Năng Hợi đã cùng đồng đội trực tiếp tham gia chiến đấu sáu mươi lăm trận lớn nhỏ, tiêu diệt gần một trăm tên Mỹ - ngụy và phá huỷ gần mười xe cơ giới. Có trận Nguyễn Năng Hợi đã mưu trí dùng mìn địch đánh địch, cùng với năm du kích khác diệt gọn một trung đội bảo an hơn ba mươi tên. Anh đặc biệt có sáng kiến trong việc tận dụng các loại pháo, cối bị hỏng của địch để sáng chế ra các loại mìn định hướng cho đồng đội diệt bộ binh và xe tăng địch. Trong hai năm 1970-1971, Nguyễn Năng Hợi đã chế tạo thành công cả thảy 1202 quả mìn các loại. Nữ Anh hùng Văn Thị Xuân khi trò chuyện với tôi cũng đã thừa nhận rằng, chị từng dùng mìn tự tạo của Nguyễn Năng Hợi để tiêu diệt địch ngay từ lúc chị đang hoạt động bí mật trong vùng tạm chiếm. Bây giờ, khi có mặt ở gia đình cựu chiến binh Nguyễn Năng Hợi, tôi đã phải thực sự ngạc nhiên và khâm phục khi được tận mắt nhìn thấy những phần thưởng mà anh đã từng được đón nhận cách đây hơn ba mươi năm về trước. Đó là ngoài rất nhiều những tấm huân chương, huy chương thì anh còn có tới hai mươi hai giấy chứng nhận danh hiệu dũng sĩ diệt Mỹ, dũng sĩ diệt ngụy và dũng sĩ diệt xe cơ giới. Chị Nguyễn Thị Quế, vợ anh Nguyễn Năng Hợi trước đây cũng từng là một nữ du kích bám trụ chiến đấu tại quê hương và đã từng bị địch bắt tù đày, tra tấn. Họ đã gặp nhau và yêu nhau trong chiến tranh cho mãi đến sau ngày hoà bình mới xây dựng hạnh phúc bên nhau.


         

          Bên cạnh Văn Thị Xuân và Nguyễn Năng Hợi thì đất Hải Phú vẫn còn rất nhiều những tấm gương khác. Tôi đã không thể kể hết ra đây một cách đầy đủ về những tên người, tên chiến công của họ được gắn với mỗi tên làng tên xóm trên quê hương Hải Phú thân yêu. Nhưng tất cả họ đều là những tấm gương sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Đó là Phạm Đình Chương, một chiến sĩ giải phóng quân dũng cảm, kiên trung, một mình vượt qua mưa bom bão đạn, đối mặt với quân thù, chiến đấu cho đến hơi thở cuối cùng. Là Trần Xuân Thuỷ, Phạm Giỏ, Nguyễn Tiếp... những chiến sĩ an ninh mưu trí, quả cảm quyết xông vào tận sào huyệt của Mỹ - ngụy để tiêu diệt cho bằng được những tên ác ôn đầu sỏ, có nhiều nợ máu với nhân dân. Là Văn Ngọc Hiếu, Nguyễn Mai, Nguyễn Duy, Nguyễn Văn Hoạt, Nguyễn Lợi...những chiến sĩ du kích kiên trì bám trụ với làng xóm quê hương. Là Nguyễn Thị Lan, Văn Thị Huệ... "Anh hùng - bất khuất - trung hậu - đảm đang". Là bác Văn Dương cần cù sản xuất, chắt chiu từng đồng tiền, hạt gạo, ủng hộ kháng chiến. Là các em Nguyễn Cảm, Nguyễn Trường...tuổi nhỏ trí khôn, căm thù Mỹ - ngụy, quyết một lòng theo bộ đội, du kích đánh giặc...Tất cả họ đều là con em Hải Phú và đều đã đóng góp xương máu, công sức một cách xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc để làm rạng danh quê hương Hải Phú với hai lần vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho du kích và an ninh xã.


         

          Trước khi rời Hải Phú, tôi đã cùng anh Văn Hoà đến thăm khu di tích Phú Long, nơi thành lập chi bộ Cộng sản đầu tiên tại Hải Lăng. Thăm và thắp hương tại bia tưởng niệm chín dũng sĩ Phường Sắn, bia tưởng niệm ngã ba Long Hưng và một số địa danh khác trên quê hương Hải Phú anh hùng. Trong gió chiều nhè nhẹ và thoang thoảng hương thơm tôi như thấy có một điều gì đó vô hình nhưng rất đỗi thiêng liêng đang vây bủa quanh mình. Tự nhiên, tôi nghĩ đến những gì mà người dân Hải Phú đã làm được trong chiến tranh và tôi tin, trong hoà bình, nhất định họ sẽ tiếp nối truyền thống anh hùng đó để xây dựng một Hải Phú giàu đẹp, no ấm.
                                                                                                                                           N.N.C
*Rút từ tập "Những Nẻo Đường Quê Hương"

(20) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

VỀ ĐI EM - NNC

 

VỀ ĐI EM

thơNguyễnNgọcChiến


Về đi em nắng đã hườm ngoài cửa
Chim líu lo nghe rất ngọt trên cành
Sương giăng giăng từng chuỗi ngọc long lanh
Cây sầu đông đã hết mùa trút lá.

Bao năm qua nơi chân trời buốt giá
Em vẫn hằng đêm thao thức nhớ thương
Đau đáu nỗi niềm về lại quê hương
Lòng cháy khát một bến bờ hạnh phúc.

Về đi em, biết khi nào là phải lúc
Người ấy đang mong, người ấy đang chờ.
Nỗi nhớ nào cũng da diết, ngẩn ngơ
Em hãy về đi! Về đi em nhé!

Xuân đang đến gió thì thầm khe khẽ
Trăng nghiêng nghiêng xấp xỏa bên thềm
Thoang thoảng hương nhài dìu dịu trong đêm
Ngọt ngào lời ru...à ơi thương lắm!

Em trở về tình yêu thêm nồng thắm
Ta bên nhau không biết tháng biết ngày
Mặc đất trời gió thổi mưa bay
Ta bù đắp cho nhau những gì khao khát.

Ta bên nhau giữa mênh mông bát ngát
Đi đến tận cùng biển cả non cao
Ta bay lên chót vót những vì sao
Để hiểu thế nào tình yêu và hạnh phúc.

Hãy trở về như con tim thúc giục
Như những buổi đầu hò hẹn mê say
Ta bên nhau tay nắm chặt tay
Cùng dạo bước giữa phố phường Hà Nội.

Về đi em tình yêu đang vẫy gọi.

N.N.C

(45) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

MỜI EM VỀ THĂM QUÊ ANH - NNC

 


MỜI EM VỀ THĂM QUÊ ANH

thơNguyễnNgọcChiến


Gửi H.
Em ơi em về thăm quê anh nhé
Mảnh đất cỗi cằn nắng gió miền trung
Mùa hạ khô người đất bỏng như nung
Đông buốt giá tháng ngày mưa tầm tã.

Làng anh xưa kia đói nghèo vất vả
Cơm ba ngày một bữa...chuyện còn ghi
Mẹ tảo tần dậy sớm thức khuya
Củ sắn củ khoai nuôi anh khôn lớn.

Kể với em mà nghe như đùa bỡn
Chuyện buồn cười mà thật đấy em ơi
Nay em về đồng lúa xanh tươi
Bát ngát chè tiêu rưng rưng mời gọi.

Em hãy cùng anh thăm sông Bến Hải
Cầu Hiền Lương một thuở chia đôi
Về Cửa Tùng em hóng gió biển khơi
Ngắm bình minh vẫy chào Cồn Cỏ.

Vượt Dốc Miếu em vào Thành Cổ
Thăm lại chiến trường tám mốt ngày đêm
Ra sông Thạch Hãn em nhớ đừng quên
Gửi một cành hoa cho người nằm lại.

Anh đưa em về thăm quê nội
Đi giữa mùa vàng đất lúa Triệu Phong
Ra Gio Linh em ghé chợ Nam Đông
Về lại làng Tùng nghe điệu hò chèo cạn.

Lên Vĩnh Tú mời em nghe chuyện trạng
Cho môi em đỏ thắm nụ cười
Cho mắt em thăm thẳm gương soi
Cho men rượu nồng hồng hào đôi má.

Em ơi em về thăm quê anh nhé!

N.N.C

(25) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

ANH YÊU TÀ ÁO DÀI - NNC



ANH YÊU TÀ ÁO DÀI

thơNguyễnNgọcChiến



Tặng Ng.Th.H.

Chẳng biết tự bao giờ anh yêu đến thế
Yêu tà áo dài duyên dáng của em
Có lẽ từ khi cha trồng dâu, mẹ chăn tằm
Để dệt nên những sợi tơ vàng óng ả.

Anh đã đi bốn phương trời xa lạ
Ra Bắc vào Nam khắp mọi nẻo đường
Đất nước mình đâu đâu cũng quê hương
Những gì anh quên, những gì anh nhớ.



 

Chỉ tà áo dài là anh yêu muôn thuở
Như từng yêu em say đắm, thiết tha
Ai lên mặt trăng mới gặp được Hằng Nga
Trong giấc ngủ mới thấy nàng công chúa.

Anh chẳng đi xa vẫn gặp em mỗi bữa
Em là công chúa, em là nàng tiên
Em dịu dàng như cây cỏ thiên nhiên
Với tà áo dài thướt tha, mềm mại.



 

Tà áo dài anh đã từng ngắm mãi
Mà đam mê chưa đủ thỏa một lần
Tà áo dài mát rượi mỏng manh
Như tấm khăn voan choàng lên da thịt.

Sắc lụa tơ tằm muôn màu biêng biếc
Lộng lẫy phất phơ trong ánh nắng chiều
Ôi, em xinh đẹp biết bao nhiêu
Anh càng yêu thêm tà áo dài duyên dáng.

Đất nước mình qua bao năm tháng
Ngọt bùi nhiều nhưng cũng lắm đắng cay
Và sẽ còn những mai một, đổi thay
Chỉ tà áo dài muôn đời sau vẫn vậy.

Em xa quê hương mai ngày trở lại
Nhớ một thời con gái ngày xưa
Hương bưởi nồng nàn em gội mỗi trưa
Và cả tà áo dài em từng yêu từng quý.



 

Để mỗi bình minh khi anh thức dậy
Lại thấy em trong tha thướt áo dài
Lại thấy em đẹp tựa ánh ban mai
Cho lòng anh thêm một lần bối rối

Cho lòng anh thêm một lần đắm đuối!

N.N.C

 

 

 

(20) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

TUỔI NĂM MƯƠI - NNC

 

TUỔI NĂM MƯƠI

thơNguyễnNgọcChiến



Tuổi năm mươi anh thấy mình còn trẻ
Có lúc dại khờ như thuở đôi mươi
Vất vả, buồn vui miệng vẫn tươi cười
Cũng có lúc dỗi hờn như trẻ nhỏ.

Năm mươi tuổi máu vẫn còn tươi đỏ
Ngực vẫn  căng tràn rạo rực yêu thương
Cuộc đời còn bao nỗi vấn vương
Năm mươi tuổi mới là đầu đỉnh dốc.



Già chi lắm khi đầu hai thứ tóc
Nửa xanh chín phần nửa trắng làm...duyên
Chưa thể yên bề vui thú điền viên
Thì tay vẫn vung cao từng nhát cuốc.

Năm mươi tuổi có chi là mất - được
Tính toán thiệt - hơn mọi chuyện ở đời.
Hãy vui lên cho rộn rã tiếng cười
  êm ả như dòng sông chiều lặng.



Năm mươi tuổi vẫn yêu tà áo trắng
Yêu đến vô cùng, yêu đến đắm say
Có phải em là mây trắng đang bay
Mà tha thướt, ngọt ngào như vần thơ lục bát.

Năm mươi tuổi vẫn yêu em tha thiết
Ở cuối chân trời em có biết chăng
Khuôn mặt em đẹp tựa vầng trăng
Nhức nhối trong anh cả mùa đông lạnh giá.



Còn lại những gì anh cho em tất cả
Cuộc sống - tình yêu - se sắt nhớ thương
Để mai này em trở lại quê hương
Tuổi năm mươi em thấy anh còn trẻ!
N.N.C

(37) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

DƯ ÂM MỘT VÙNG ĐẤT - NNC

 

NGUYỄN NGỌC CHIẾN

Dư âm

một vùng đất

GHI CHÉP

           
          Có một vùng quê nằm về phía nam Thành Cổ Quảng Trị mà lần đầu tiên tôi mới đặt chân đến. Vùng quê ấy có tên gọi là xã Hải Phú thuộc huyện Hải Lăng. Dư âm về những tên đất, tên người, tên chiến công gắn với vùng quê này đã cuốn hút tôi từ rất lâu. Và cũng từ rất lâu, tôi cứ ao ước hoài được một lần về thăm mảnh đất anh hùng này.
         
Hôm đến Hải Phú, anh Văn Ngọc Uy, hồi đó là Bí thư Đảng uỷ xã đã rất hồ hởi khi nói với tôi về mảnh đất và con người quê anh. Anh còn cho tôi mượn xem tập bản thảo "Sơ lược truyền thống lịch sử Đảng bộ và nhân dân Hải Phú". Tập bản thảo chỉ dày ba mươi lăm trang đánh máy, lại chỉ mới có một phần nói về người và đất Hải Phú trong chiến tranh. Như thế, kể ra còn quá mỏng so với bề dày truyền thống vốn có về lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của một vùng đất kiên cường như Hải Phú.

 


         

          Lần dở từng trang sử truyền thống, tôi bỗng nhận ra rằng: Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Hải Phú quả là một địa bàn quan trọng, một vùng đất thường xuyên có những tranh chấp hết sức gay go, quyết liệt giữa ta và địch. Một phần vì nằm trên quốc lộ 1A, một phần vì nằm giáp với trung tâm đầu não của chính quyền ngụy ở thị xã Quảng Trị nên kẻ địch lúc nào cũng xem Hải Phú là một cửa ngõ phía nam quan trọng của chúng. Còn ta, ta cũng từng ví Hải Phú như là một xã "đầu sóng ngọn gió" của chiến trường Hải Lăng nói riêng và Quảng Trị nói chung. Thế nên, không lấy gì làm lạ khi chỉ trên một vùng đất không mấy rộng như Hải Phú mà kẻ thù đã tập trung ở đây một lực lượng khá đông những đơn vị quân sự tinh nhuệ nhất của chúng. Ngoài một đơn vị lính Mỹ lên đến cả ngàn tên đóng quân tại căn cứ La Vang thì Hải Phú còn là nơi đặt "đại bản doanh" của sư đoàn 1 bộ binh và trung đoàn 54 từng được mệnh danh là trung đoàn "trâu điên" của quân đội ngụy. Đó là chưa kể đến những sắc lính khác như  bảo an, dân vệ... mà quân số có thể lên đến hàng đại đội, tiểu đoàn. Ngoài ra là một lũ lúc nhúc những tên chỉ điểm, mật vụ... cực kỳ nguy hiểm và phản động lúc nào cũng có thể nhe nanh vuốt móng cào cấu chống phá ta. Vì vậy trong suốt hai mươi năm của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Hải Phú là một trong những vùng quê bị bom đạn kẻ thù tàn phá nặng nề nhất. Vượt lên những mất mát, thương đau ấy, người dân Hải Phú đã kiên trì bám đất giữ làng, cùng bộ đội anh dũng chiến đấu cho đến ngày kháng chiến thắng lợi. Bây giờ khi có mặt ở Hải Phú, tôi mới vỡ lẽ ra rằng, dù mấy mươi năm đã trôi qua, người dân trong xã vẫn không thể nào quên những ngày khốn khó đã qua và họ vẫn thường kể cho con cháu họ nghe về tấm gương hy sinh dũng liệt của chín dũng sĩ Phường Sắn, về Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Mít, về nữ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Văn Thị Xuân, về chốt thép Long Hưng kiên cường, bất khuất và về rất nhiều những địa danh, những người con trung dũng khác của quê hương Hải Phú anh hùng.

 


         

          Anh Văn Hòa nguyên là Xã đội phó của Hải Phú thời chiến tranh bây giờ đang đảm đương chức vụ Chủ tịch Mặt trận xã có lẽ là người cao tuổi nhất còn tham gia công tác. Và nếu như tôi không nhầm thì anh còn là người am hiểu khá tường tận về truyền thống đánh giặc của quê hương anh. Tôi đã thực sự bị cuốn hút bởi những câu chuyện anh kể rất say sưa về những tên đất, tên người, tên chiến công trên quê hương Hải Phú của anh. Ngay như chuyện về các dũng sĩ Phường Sắn cũng vậy. Tôi đã từng nghe nói nhiều lần về các dũng sĩ Phường Sắn nhưng chắc chắn đây là lần đầu tiên tôi được nghe đầy đủ nhất, cụ thể nhất về một chiến công đã từ lâu đi vào huyền thoại của vùng đất này.
          Với những gì còn đọng lại trong ký ức của một cựu chiến binh đã từng vào sinh ra tử như anh Hoà thì chiến công  về các dũng sĩ Phường Sắn có thể được tóm tắt lại như sau: Khoảng đầu những năm sáu mươi, mặc dù bị địch bao vây tứ phía, dồn dân lập ấp, chà đi xát lại vô cùng thảm khốc nhưng ở Hải Phú vẫn sừng sững, hiên ngang một căn cứ kháng chiến nhỏ của ta được đặt tại xóm Phường Sắn. Từ căn cứ Phường Sắn, quân dân Hải Phú nói riêng, Hải Lăng nói chung đã dựa vào đó để làm nơi đi về, hội họp, kêu gọi nhân dân nổi dậy đấu tranh, diệt ác phá kềm. Từ căn cứ Phường Sắn nhiều tin tức quan trọng về tình hình địch cũng đã được cung cấp kịp thời nhất, chính xác nhất cho mặt trận. Tại căn cứ Phường Sắn thường xuyên có một đơn vị Giải phóng quân chỉ vỏn vẹn có chín người bám trụ lại thách thức với kẻ thù. Và kẻ thù cũng từ lâu muốn nhổ đi cái gai trước mắt chúng nhưng chúng đã không có cách gì thực hiện được. Sau nhiều thất bại thảm hại,  một ngày tháng bảy năm 1964 được sự yểm trợ của một thiết đoàn xe bộc thép M113, một tiểu đoàn bộ binh ngụy đã hùng hổ tấn công lên Phường Sắn với ý định sẽ ăn tươi nuốt sống ngay cái đơn vị nhỏ bé này của ta trong chốc lát. Nhưng chúng đã bị chín dũng sĩ giáng trả quyết liệt ngay từ những giây phút đầu tiên khi chúng vừa đặt chân lên căn cứ Phường Sắn. Trận đánh đã diễn ra hết sức quyết liệt trong suốt tám tiếng đồng hồ liên tục. Các chiến sĩ của chúng ta lợi dụng thế phòng ngự vững chắc trong các công sự đã ngoan cường chiến đấu với kẻ thù cho đến viên đạn cuối cùng và anh dũng hy sinh sau khi đã làm tan rã đội hình địch, diệt tại chỗ hơn sáu mươi tên. Căn cứ Phường Sắn rơi vào tay địch nhưng chiến công dũng liệt của các chiến sĩ đã làm nức lòng quân dân ta và làm cho kẻ thù phải lấy đó làm nỗi kinh hoàng, khiếp sợ. Trận Phường Sắn sau này được đánh giá như là một trận đánh mở màn cho phong trào đồng khởi ở chiến trường Hải Lăng cũng như trên khắp các mặt trận Quảng Trị.

 


         

          Tôi ngậm ngùi hỏi anh Hoà về tên tuổi, quê hương của chín dũng sĩ Phường Sắn nhưng rất đáng tiếc là anh chỉ biết được có hai người. Đó là hai người quê tại Hải Phú mà một trong hai người ấy có Nguyễn Năng Dể là con trai của Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Mít. Còn người kia là Phạm Cao, người đã trực tiếp chỉ huy trận Phường Sắn hôm ấy. Bảy dũng sĩ còn lại, anh nói rằng, cho đến tận bây giờ, không một ai ở đây có thể biết được cụ thể tên tuổi họ là gì, quê quán họ ở đâu. Người ta chỉ biết một cách chung chung là quê họ ở Quảng Bình và Vĩnh Linh. Bởi ngay cả mộ chí của họ hiện nay ở nghĩa trang liệt sĩ xã cũng chỉ là những ngôi mộ vô danh với dòng chữ " Dũng sĩ Phường Sắn" mà thôi. Nghe câu chuyện này, tôi cứ hy vọng đến một ngày nào đó, những ai có trách nhiệm sẽ phải tìm hiểu kỹ càng hơn để biết được rõ ràng hơn về danh phận của bảy dũng sĩ Phường Sắn còn lại...(Còn nữa)

N.N.C

(*)Rút từ tập "Những Nẻo Đường Quê Hương"

(18) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

ĐÊM ĐÔNG - NNC

 

ĐÊM ĐÔNG

thơNguyễnNgọcChiến


Có đêm bỗng giật mình tỉnh giấc
Nghe ngoài kia tầm tã tiếng mưa rơi
Căn phòng nhỏ anh một mình thao thức
Lại nhớ bên em tuyết trắng trời.

Thu đã qua rồi đông lại về ngoài cửa
Ngọn gió nhắc anh thêm nhớ em
Đã bao mùa cứ hẹn lần hẹn lửa
Nên xa hoài vẫn thấy như quen.



 

Ta gửi cho nhau những dòng tin nhắn
Những vần thơ chín đỏ yêu thương
Mà cứ ngỡ bên nhau hò hẹn
Tay trong tay đi giữa phố phường.

Ta vẫn chờ nhau dù xa cách
Và nhớ thương giấu nhẹm trong lòng
Một ngày trôi qua tình ta thêm tuổi
Càng nhớ càng thương tình lại thêm nồng.



 

Sẽ một ngày không còn là mong ước
Không còn trong mòn mỏi đợi chờ
Cái ngày ấy ta tin rồi sẽ đến
Tình yêu chúng mình đâu chỉ ước mơ!

N.N.C

(27) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

NGÀY KHÔNG ANH - THƠ NGUYỄN THU HÀ

 

 

NGÀY KHÔNG ANH

thơnguyễnthuhà

 

Ngày không anh
Phố buồn nên phố vắng
Gió cũng mỏng manh
Và trời cũng chẳng xanh.

Ngày không anh
Mây buồn mây chẳng muốn lang thang
Trăng cũng buồn nên trăng không sáng
Sao thở dài ngao ngán trốn sau mây.



 

Ngày không anh
Đêm cô đơn, níu thời gian làm bạn
Bắt sầu cùng thức với đêm đen
Giấc mơ hồng lặng lẽ
Rút chân len lỏi qua cõi hồn u uất.



 

Ngày không anh
Mưa buồn nên mưa rất nhẹ
Từng hạt âm thầm lặng lẽ
Như nỗi nhớ trong em cứ tơi bời
Cứ lay lắt, hao gầy trong mong đợi...

NG.TH.H

 

(26) Góp ý    (0) Trackbacks      Chỉnh sửaChỉnh sửa    Bản inBản in

1 2 3  Sau»