MẢNH ĐẤT BÊN DÒNG BẾN HẢI - NNC

By NGUYỄN NGỌC CHIẾN

 

MẢNH ĐẤT

BÊN DÒNG BẾN HẢI

NGUYỄN NGỌC CHIẾN

        
      
Trước 30.4.2010 khoảng chục ngày Trần Hoài - phóng viên báo Quân đội Nhân dân điện  thoại vào nhờ tôi viết cho một bài về sự đổi mới trên quê hương Vĩnh Linh hôm nay. Mặc dù đó là thời điểm tôi đang bị ốm rất mỏi mệt chán nản tôi cũng đã gắng gượng...ngồi dậy đáp ứng yêu cầu của bạn. Bài viết này sau đó in trên báo Quân đội Nhân dân và báo Quảng Trị số đặc biệt kỷ niệm 35 năm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30.4.1975 - 30.4.2010). Tôi xin giới thiệu bài báo này lên đây để bạn bè quan tâm đến Vĩnh Linh cùng đọc.(NNC)

        

                Trong kháng chiến chống Mỹ Vĩnh Linh từng được cả nước quan tâm ngưỡng mộ và dành cho những tên gọi thân thương trìu mến như: "Tiền đồn miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa" "Vĩnh Linh lũy thép" "Tuyến lửa anh hùng"...bởi những chiến công hiển hách trong suốt hơn hai mươi năm ròng rã chiến tranh. Vĩnh Linh cũng là địa phương đầu tiên của miền Bắc được tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân được Bác Hồ tám lần gửi thư khen ngợi và tặng hai câu thơ: "Đánh cho giặc Mỹ tan tành. Năm châu khen ngợi Vĩnh Linh anh hùng". Ngày nay trong dựng xây và phát triển Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Linh đã biết phát huy truyền thống đoàn kết cần cù sáng tạo...để xây dựng huyện nhà thành một huyện đổi mới và giàu đẹp xứng đáng là mảnh đất nơi đầu cầu giới tuyến năm xưa.
          Bây giờ ai có dịp trở lại Vĩnh Linh sẽ không khỏi ngỡ ngàng trước những đổi thay nhanh chóng của vùng đất mà cách đây không lâu còn chi chít hố đạn bom. Từ phía đông huyện đất đỏ bazan lên phía tây huyện đất sỏi cỗi cằn hay đất bạc màu pha cát đâu đâu cũng bạt ngàn màu xanh của cao su hồ tiêu cây lâm nghiệp cây lương thực rau màu. Theo số liệu thống kê từ Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Linh đến nay toàn huyện đã có tổng diện tích gieo trồng gần 12.500 ha trong đó diện tích lúa: 6.560 ha cao su: 6.060 ha hồ tiêu: 796 ha và diện tích nuôi trồng thủy sản là 704 ha...Nhờ chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật đúng hướng nên năng suất sản lượng năm sau luôn cao hơn năm trước.
         
Cao su và hồ tiêu là hai loại cây công nghiệp dài ngày có giá trị hàng hóa xuất khẩu cao là thế mạnh trong phát triển kinh tế của nông dân Vĩnh Linh và trong thực tế đã mang lại thu nhập lớn không chỉ giúp người dân "xóa đói giảm nghèo" mà còn giúp họ làm giàu chính đáng. Thiên nhiên đã ưu đãi ban tặng cho vùng đất nghèo khó khắc nghiệt này một dãi đất đỏ bazan màu mỡ tơi xốp với một diện tích rộng lớn lên đến gần 10.000 ha thích hợp với các loại cây trồng đặc biệt là cây công nghiệp dài ngày như hồ tiêu cao su. Chỉ riêng cây cao su nếu như trước đây chỉ được phát triển chủ yếu trong các nông trường quốc doanh như nông trường Bến Hải nông trường Quyết Thắng thì nay đã được phát triển đến tận hộ gia đình. Diện tích cao su của Vĩnh Linh được nâng dần lên theo từng năm. Nếu như vào năm 1994 toàn huyện mới chỉ có 1.100 ha thì năm 2000 đã có gần 4.500 ha và đến nay toàn huyện đã đạt xấp xỉ 6.060 ha. Nhiều vùng đất rộng lớn của Vĩnh Linh trước đây chồng chất hố đạn bom hoang hóa mặc cho gió mưa bào mòn hoặc là "thâm căn cố đế" cây sắn cây khoai cây lâm nghiệp...có giá trị kinh tế  thấp thì nay nhờ mạnh dạn chuyển đổi đầu tư đã được thay thế bằng cây hồ tiêu cao su. Vĩnh Linh có tổng số 22 xã thị trấn thì đa số các xã đều có trồng cao su. Số hộ trồng cao su ở mỗi xã lên đến hàng trăm hộ. Hộ trồng ít thì từ 0 5 - 1ha hộ trồng nhiều thì từ 5 - 7ha. Và có những hộ xây dựng thành trang trại cao su với diện tích từ 10 - 15ha. Nhiều hộ có thu nhập cao su mỗi năm lên đến hàng chục hàng trăm triệu đồng trở thành những nông dân làm ăn tiêu biểu không những của Vĩnh Linh mà còn của tỉnh Quảng Trị.
         
Cây hồ tiêu là cây công nghiệp truyền thống có mặt từ rất sớm trên đất Vĩnh Linh. Ngày nay phần lớn các gia đình nông dân sống trên vùng đất bazan đều có vườn hồ tiêu kinh doanh. Mặc dù giá cả bấp bênh lên xuống thất thường nhưng giá trị từ hồ tiêu vẫn cao gấp nhiều lần so với các loại cây trồng khác. Trước đây có những năm giá hạt tiêu khô đã có lúc lên tới 80 - 100 ngàn đồng 1kg. Hàng ngàn hộ đã thực sự giàu lên từ hồ tiêu. Và cây hồ tiêu đã trở thành cây mũi nhọn trong phát triển kinh tế của 70% hộ gia đình nông dân Vĩnh Linh. Hàng trăm hộ chỉ riêng hồ tiêu đã có thu nhập 30 - 40 triệu đồng 1năm.
         
Các xã phía đông phía tây huyện và cả những xã miền núi của đồng bào Vân Kiều cách đây không lâu cuộc sống của người dân rất nghèo nhưng nay bộ mặt của làng quê đời sống của hầu hết gia đình đã hoàn toàn thay đổi. Nông dân Vĩnh Linh không những giỏi trồng cây công nghiệp mà còn tích cực thâm canh lúa chăn nuôi gia súc gia cầm nuôi trồng đánh bắt thủy hải sản. Ở lĩnh vực sản xuất nào người nông dân Vĩnh Linh cũng tảo tần chịu khó và có được những thành công nhất định. Từ khi có  đề án nhân rộng mô hình sản xuất nông nghiệp có giá trị thu nhập 50 triệu đồng 1ha 1năm trở lên được tích cực triển khai thực hiện thì hiệu quả sản xuất từ đa dạng hóa cây trồng vật nuôi của người dân ngày càng mang lại thu nhập cao. Cho đến nay trên toàn huyện đã có tổng số trên 3000 ha đạt thu nhập hàng năm trên 50 triệu đồng 1năm. Cá biệt có một số mô hình sản xuất từ nuôi trồng thủy sản và thâm canh hồ tiêu có thể đạt 60 - 70 triệu đồng 1năm. Cây lúa ở Vĩnh Linh do thiếu nghiêm trọng nguồn nước tưới tiêu nên ngoài một số xã làm được hai vụ còn chủ yếu chỉ làm được một vụ nhưng những năm qua nhờ đầu tư tiền của công sức mở mang mạng lưới thủy lợi nên đến nay năng suất sản lượng đã tăng lên rõ rệt. Nếu như những năm sau chiến tranh năng suất chỉ đạt 3 - 4 tấn 1ha 1năm thì nay năng suất đã có thể đạt gấp rưỡi gấp đôi trên cùng một diện tích. Sản lượng lúa của toàn huyện năm 2009 đạt gần 32 ngàn tấn giải quyết đủ nhu cầu lương thực cho toàn huyện. Thu nhập của người dân Vĩnh Linh ngày càng được nâng cao. Năm 2000 là gần 4 triệu đồng 1người 1năm năm 2006 là 6 3 triệu đồng thì nay mức bình quân thu nhập đầu người đã đạt gần 9 triệu đồng 1người 1năm. Đời sống của người dân Vĩnh Linh đã thực sự được cải thiện đáng kể và không ngừng được nâng cao. Bộ mặt nông thôn ở Vĩnh Linh đang từng ngày khởi sắc và đổi mới. Nhà cửa của nhân dân trên 90% đã được ngói hóa hoặc được xây dựng kiên cố cao tầng. Đường làng ngõ xóm ở các xã hầu hết đã được "bê tông hóa". Tính đến cuối năm 2009 toàn huyện đã "bê tông hóa" "nhựa hóa" được 62 km đường giao thông nông thôn. Trên 96% hộ dân có điện sinh hoạt và bình quân 100 người dân có 12 máy điện thoại cố định.
         
Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa cơ sở" sau hơn 10 năm thực hiện ở Vĩnh Linh đã thu được kết quả đáng mừng với 168/195 làng bản 45/48 cơ quan và khoảng gần 20 ngàn hộ dân được công nhận "làng văn hóa" "đơn vị văn hóa" và "gia đình văn hóa". Chương trình "kiên cố hóa" trường học bằng sự đóng góp của nhân dân đạt 80% trường học được xây dựng từ 2 tầng trở lên. Có 28/72 trường đạt chuẩn quốc gia. Phong trào khuyến học khuyến tài luôn luôn được quan tâm và thực hiện. Công tác y tế xóa đói giảm nghèo đền ơn đáp nghĩa cũng thường xuyên được chú trọng và thu được những kết quả đáng phấn khởi.
         
Vào những tháng năm này ai có dịp trở lại Vĩnh Linh sẽ khó lòng nhận ra vết tích cũ của chiến tranh. Nhưng những tên đất tên người tên chiến công thì vẫn còn đó. Một thị trấn Hồ Xá xưa kia tan hoang trong lửa đạn bây giờ đã được xây dựng lại khang trang mang vóc dáng của một đô thị trẻ. Một thị trấn Cửa Tùng mới thành lập xinh xắn hiền hòa với một cây cầu ở ngay cửa sông nghiêng nghiêng như vành trăng bên bờ biển. Một địa đạo Vĩnh Mốc từng chở che quân dân Vĩnh Linh trong chiến tranh một cây cầu Hiền Lương mang nỗi đau chia cắt một tương đài Bến đò B sừng sững uy nghiêm còn in dấu đoàn quân vượt sông Bến Hải...Tất cả vẫn như còn đó ghi đậm chiến công của quê hương một thời anh dũng đánh giặc. Vĩnh Linh trong những tháng năm này đang hòa mình với cả tỉnh cả nước sôi nổi thi đua lao động sản xuất để mảnh đất "trăm thương ngàn nhớ" xưa ngày một hồng da thắm thịt ngày một giàu đẹp khởi sắc đi lên trong tiến trình đổi mới và phát triển.

N.N.C                                                                                                                            

More...

CÁT NƠI ẤY MÀU XANH - NNC

By NGUYỄN NGỌC CHIẾN

 

 

NGUYỄN NGỌC CHIẾN

CÁT NƠI ẤY MÀU XANH

BÚT KÝ


@Chương trình Phát thanh "VĂN NGHỆ" Đài Tiếng nói Việt Nam;
Tạp chí Agribank (NHNN và PTNT Việt Nam) và một số báo khác.
         
Có lẽ trên hình hài đất đai Quảng Trị  không một nơi nào nhiều cát như ở đây. Tôi đã nhủ thầm  như vậy trong lần đầu tiên tôi về các xã miền ven biển Triệu Phong. Lần ấy cách đây đã hơn mười lăm năm trôi qua rồi nhưng những ấn tượng về một vùng quê với những trảng cát dài mênh mông vô tận thì dường như vẫn còn nguyên vẹn trong tôi. Dọc đường 64 xuôi về Cửa Việt qua các xã Triệu Trạch Triệu Vân Triệu An....đâu đâu tôi cũng thấy một màu cát trắng. Trong nắng hè tháng sáu mặt cát nóng bỏng phản chiếu như một tấm gương khổng lồ. Mỗi đợt gió thổi qua cát lại cuồn cuộn bay lên không trung. Và cát ở đây mới thật đúng là cát mịn màng trinh nguyên đến lạ lùng! Tôi cứ có cảm giác rằng cái thứ cát nguyên chất xứ sở này rồi sẽ cứ trắng đến lạnh lùng tàn nhẫn; rồi sẽ cứ mặc sức bay nhảy tung hoành. Còn con người ở đây thì hết đời này qua đời khác hết năm này qua năm khác phải chịu bao khốn khổ vì cát.
         
Đầu tháng tư năm nay tôi có dịp trở lại vùng quê xứ cát này. Cũng vẫn là những trảng cát đồi cát mênh mông bể sở năm xưa nhưng giờ đây tất cả đã đổi khác. Trước mặt tôi màu cát trắng đã gần như nhường chỗ cho màu xanh của các loại cây trồng. Bên những màu xanh tít tắp của rừng cây lâm nghiệp trải dài là những thửa vườn ao cá...cũng một màu xanh biêng biếc rất đỗi dịu hiền. Tỉnh lộ 64 đường Quốc phòng đường liên xã liên thôn... nơi nào cũng rợp mát bóng cây. Những con đường như những cánh tay âu yếm vươn ra nối những làng quê nối những cánh đồng gần nhau hơn. Màu xanh của cỏ cây hoa lá cũng như gần gũi hơn đằm thắm hơn. Tầm mắt người cũng ngắn lại bởi màu xanh. Bàn chân người cũng thanh thản hơn bởi màu xanh. Màu xanh đang ròng rã ngày đêm lấn dần màu cát trắng biến cát trắng thành màu xanh phục vụ con người.

          Điểm dừng chân đầu tiên của tôi là Triệu Trạch một trong năm xã vùng cát của huyện Triệu Phong. Không ai có thể ngờ được rằng Triệu Trạch với một chốt thép Long Quang kiên cường thời đánh Mỹ một "làng đại học" Lệ Xuyên lừng danh thời xây dựng lại là những làng quê tứ bề cát trắng. Hạt lúa củ khoai ở đây cũng từ cát mà ra. Anh hùng tài năng ở đây cũng từ cát mà sinh ra. Bao đời nay người và cát Triệu Trạch như hoà lẫn quấn quyện làm một. Cát nuôi người và người yêu cát. Anh Nguyễn Phiến cán bộ chuyên trách dự án cải tạo vùng cát Triệu Trạch trong câu chuyện tâm tình với tôi về quê hương mình đã cho biết: "Xã tôi có sáu thôn thì có tới năm thôn là vùng cát. Cả xã có tổng diện tích đất tự nhiên 3466 hécta thì có tới 3000 hécta là cát. Cả xã có 1.364 hộ thì có tới chín mươi phần trăm số hộ sống trên cát. Người dân quê tôi quanh năm lam lũ tảo tần với cát sống với cát và khi chết cũng về với cát...".
          Qua tìm hiểu anh Phiến tôi mới vỡ lẽ ra rằng: Trước đây Triệu Trạch là một xã rất nghèo nhưng từ khi có chủ trương của huyện về cải tạo vùng cát Triệu Trạch đã vươn lên trở thành một xã đi đầu về phát triển nông  - lâm nghiệp tương đối toàn diện ở vùng cát Triệu Phong. Dựa vào lợi thế diện tích đất tự nhiên dồi dào hàng chục năm qua đặc biệt là từ năm 1990 đến nay Triệu Trạch đã vươn ra chế ngự vùng cát bắt cát phải thay đổi quy luật phục vụ lợi ích cho con người. Từ một vùng quê lam lũ đói nghèo bời bời cát trắng năm xưa qua bao năm năm tháng nhọc nhằn từ đôi bàn tay cần mẫn của nhân dân một màu xanh của ấm no của hy vọng đã bắt đầu trỗi dậy đơm hoa kết trái. Bây giờ Triệu Trạch đã có đến 1000 hécta cây lâm nghiệp. Cây lâm nghiệp ở đây là rừng chống nạn cát bay cát lấp là thành luỹ bảo vệ môi sinh môi trường và cuộc sống sản xuất của nhân dân. Trong sản xuất nông nghiệp cùng với thâm canh cây lúa Triệu Trạch đã hàng năm trồng được 160 hécta khoai lang 81 hécta lạc 46 hécta ngô 43 hécta sắn và hàng chục hécta rau màu các loại trên cát. Cát cứ ngày ngày xanh thêm làng xóm Triệu Trạch cứ ngày ngày thay da đổi thịt thêm. Anh Phiến còn hồ hởi kể với tôi rằng: Để chế ngự cát và làm lợi từ cát mấy năm gần đây được sự tài trợ của Chính phủ Nauy trong khuôn khổ của dự án cải tạo vùng cát Triệu Phong Triệu Trạch đã lần đầu tiên xây dựng được ba làng sinh thái trên cát với số dân ban đầu gồm 84 hộ. Người dân làng sinh thái đã bước đầu ổn định được nơi ăn chốn ở để phát triển sản xuất.

          Tôi đến thăm gia đình anh Nguyễn Toàn một chủ hộ sản xuất giỏi ở làng sinh thái. Anh Toàn đi vắng nhưng với những gì tôi thấy và với những gì tôi nghe làng xóm anh kể lại thì anh quả đúng là một người sản xuất giỏi. Vâng ! Không giỏi sao được khi chỉ mới ba năm ra lập nghiệp ở vùng cát mà anh Toàn đã có trong tay một trang trại sản xuất khá bề thế. Ngoài các loại cây đã cho thu nhập anh Toàn còn xây dựng được cho mình một hồ nuôi cá nước ngọt rộng gần hai hécta. Cá là nguồn thu nhập chính của gia đình anh. Khi có vốn trong tay anh xoay sang mở rộng chăn nuôi và đã có đàn vịt lúc cao điểm lên tới 3000con đàn gà 200 con và đàn lợn nái 15 con. Cây trồng và chăn nuôi đã đem lại cho gia đình anh nguồn thu nhập mỗi năm xấp xỉ 30 triệu đồng. Nhìn cơ ngơi trang trại của anh với một sức sống bền vững trên cát tôi thầm ao ước trong một ngày không xa người dân xứ cát Triệu Trạch nói riêng và Triệu Phong nói chung mọi nhà cùng được như thế.
         
Trước năm 1975 và kéo dài cho đến những năm bảy mươi tám mươi của thế kỷ trước nhiều vùng cát rộng lớn ở Triệu Phong vẫn tồn tại như những sa mạc chết là xứ sở của nắng và gió. Nhiều người dân tôi gặp ở các xã vùng cát Triệu Phong khi vui mừng nói với tôi về những đổi thay trên quê hương của họ hôm nay đã không khỏi ngậm ngùi nhắc đến những ngày khốn khó đã qua. "Hồi ấy người dân vùng cát ai cũng muốn bỏ làng mà đi. Đi đâu cũng được làm gì cũng được miễn là đừng phải ngày ngày khổ sở vì cát". - Một người dân ở xã Triệu An đã thổ lộ với tôi như vậy. Còn ông Nguyễn Văn Minh Trưởng làng sinh thái Vĩnh Hoà xã Triệu Vân thì tâm sự:  "Lúc trai trẻ cứ mỗi lần nghĩ đến vùng cát hoang hoá quê mình là tôi lại ao ước một điều gì đấy. Tôi nghĩ không lẽ cát không trồng được cây ? Đã từng đi đây đó tôi thấy nhiều nơi người ta sống trên cát mà vẫn giàu cây trồng trên cát mà vẫn xanh vẫn đẹp. Thế là tôi tiếc rẻ cho vùng cát quê mình. Nhưng hồi chế độ cũ mấy ai quan tâm đến cát...".

          Ấp ủ hoài bão ấy mãi những năm đầu thập kỷ chín mươi ông Minh mới thực hiện được ao ước của đời mình là đưa cả gia đình ra lập nghiệp ở vùng cát. Ông nói rằng ngày ấy cả khu vực này là một trảng cát lớn trơ trọi trắng xoá không một bóng cây. Vợ chồng ông đã dựng lên một căn nhà nhỏ che mưa che nắng và bắt đầu một cuộc sống mới trên vùng cát này. Qua bao năm tháng cát đã khuất phục ý chí quyết tâm của con người. Làng Vĩnh Hoà trở thành làng sinh thái đầu tiên và giàu đẹp nhất trong các làng sinh thái ở vùng cát Triệu Phong. Còn ông Minh - một trong những người "đi tiên phong" về xây dựng làng sinh thái - cũng đã trở thành một chủ hộ sản xuất giỏi có thu nhập cao nhất ở các làng sinh thái ven biển. Ở làng sinh thái Vĩnh Hoà ngoài gia đình ông Nguyễn Văn Minh còn có gia đình ông Mai Đình Đàn ông Nguyễn Văn Lợi ông Mai Phú Quốc...là những gia đình cũng được xem là sản xuất giỏi và đã có thu nhập hàng năm trên dưới 20 triệu đồng từ cây trồng và chăn nuôi gia súc gia cầm trên cát. Sáu chục hộ dân làng sinh thái Vĩnh Hoà cuộc sống đang từng ngày đổi thay. Ra thăm vườn cây ao cá của ông Minh tôi thấy cây gì cũng xanh tươi mơn mởn. Nhưng đẹp nhất tốt tươi nhất vẫn là lạc. Lạc ở vùng cát Triệu Phong không thua kém lạc ở vùng đất đỏ hay đất thịt. Nhổ một cụm lạc tôi đếm cả thảy có 43 củ dù còn non nhưng mười củ như chục đều đặn. Anh Phan Chí Trung cán bộ Văn phòng Uỷ ban nhân dân xã Triệu Vân nói rằng: Lạc là cây trồng chính của nông dân vùng cát nên trong tương lai xã sẽ phát triển thêm để nâng diện tích lên gấp rưỡi gấp đôi thay vì 48 hécta  như hiện tại. Nhiều gia đình ở các làng sinh thái Triệu Vân cũng như Triệu Sơn Triệu Trạch Triệu Lăng đã có từ bốn đến năm sào lạc. Vườn cây của ông Minh còn có xoài nhãn...tuy mới trồng nhưng đã khá lớn. Một giàn bầu một giàn mướp đắng quả chi chít thõng xuống mặt hồ. Ông Minh nói với tôi có năm chỉ một giàn mướp đắng mà ông thu bạc triệu một giàn bí hay giàn bầu mà ông thu bạc trăm một khóm ớt một cụm rau thơm mà ông thu bạc chục. Bản tính cần cù "năng nhặt chặt bị" đã giúp vợ chồng ông nuôi bảy đứa con khôn lớn dựng vợ gả chồng cho chúng tạo được vốn liếng cho chúng làm ăn. Bây giờ đã ở tuổi ngoài sáu mươi nhưng vợ chồng ông vẫn mỗi người một việc. Ông thì vừa làm Trưởng thôn vừa chăm sóc vườn cây bà thì vừa nội trợ vừa rau bèo cám bã chăm sóc đàn lợn. Họ còn có một cơ sở đúc ngói xi măng tạo việc làm thường xuyên cho bốn lao động trong làng nhờ vào nguồn cát nguyên chất vô tận ngay trong vườn nhà.

          Dọc tỉnh lộ 64 bắt đầu từ cuối xã Triệu Trạch đến Cửa Việt tôi gặp nhiều làng sinh thái vừa hình thành lên ở cả hai bên tỉnh lộ. Mỗi làng là một cái bàn cờ vuông vức và mỗi ngôi nhà là một quân cờ trong cái bàn cờ đó. Ở mỗi làng sinh thái đều có gắn biển tên làng và có một con đường đất đỏ rộng rãi thẳng tắp nối từ tỉnh lộ 64 chạy đến cuối làng. Những hàng cột điện cũng thẳng tắp những hàng cây mới trồng cũng thẳng tắp. Tôi nhớ lúc ở Ái Tử anh Nguyễn Châu Long Phó Văn phòng Uỷ ban nhân dân huyện có nói với tôi là ở cả năm xã vùng cát Triệu Phong đều có làng sinh thái. Và cho đến nay theo thứ tự thời gian thì đã có cả thảy mười làng sinh thái ra đời với khoảng trên 400 hộ dân án ngữ trên khoảng vài ngàn hécta cát. Chủ trương của Uỷ ban nhân dân huyện Triệu Phong về cải tạo vùng cát hoang hoá là không có cách gì bền vững bằng cách đưa dân ra lập làng sinh thái trên cát. Chỉ có cách đó mới tạo được cho cát màu xanh vĩnh viễn lâu dài. Và cũng chỉ có cách đó  mới mong cải thiện được cuộc sống cho nhân dân vùng cát. Bằng sự giúp đỡ của Chính phủ Nauy và các chương trình dự án khác của Nhà nước của tỉnh Triệu Phong đã đầu tư hàng chục hàng trăm tỉ đồng cho các dự án cải tạo vùng cát huyện nhà. Nhưng có lẽ đó chưa phải là tất cả. Nói như anh Dương Trọng Khiên cán bộ xã Triệu An thì ở một số làng sinh thái cuộc sống của không ít hộ gia đình vẫn gặp nhiều khó khăn. Mặc dù đã được đầu tư tiền xây dựng nhà cửa tạo cho điều kiện làm ăn nhưng nhân dân vẫn không khỏi bỡ ngỡ lạ lẫm lúc ban đầu. Âu đó cũng là lẽ thường tình của buổi "khai đất lập làng" mà không riêng một nơi nào gặp phải. Và như vậy Triệu Phong còn phải tiếp tục quan tâm giúp đỡ nhân dân vùng cát đặc biệt là nhân dân ở các làng sinh thái vừa mới thành lập. Phải làm sao để trong vòng mười năm thậm chí năm bảy năm tới tất cả mười làng sinh thái  trên vùng cát ven biển Triệu Phong này phải thực sự khởi sắc đi lên an tọa vĩnh viễn cùng với màu xanh do chính con người tạo lập nên cho cát. Phần tôi trong chuyến đi này được tận  mắt chứng kiến những đổi thay kỳ diệu ở vùng cát quê nhà và dù còn nơi này chỗ kia khác nhau tôi vẫn muốn gọi cát nơi ấy là cát màu xanh.
N.N.C

More...

MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ NGÀY THƠ VIỆT NAM TẠI QUẢNG TRỊ - NNC

By NGUYỄN NGỌC CHIẾN

 

MỘT SỐ HÌNH ẢNH
VỀ NGÀY THƠ VIỆT NAM
TẠI QUẢNG TRỊ


          Ngày 27 tháng 2 năm 2010 (nhằm ngày 14 tháng giêng năm Canh Dần) Hội Văn học - Nghệ thuật Quảng Trị đã tổ chức tọa đàm Ngày Thơ Việt Nam và phối hợp với Trường Trung học Phổ thông Lê Lợi thành phố Đông Hà tổ chức Đêm Thơ Nguyên Tiêu. Đến dự đêm thơ có lãnh đạo Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Trị đại diện một số các cơ quan ban ngành liên quan; lãnh đạo Hội Văn học - Nghệ thuật ban Giám hiệu Nhà trường; các Văn nghệ sỹ cùng đông đảo các thầy cô giáo và các em học sinh. Một số diễn viên của Đội Nghệ thuật Quần chúng Bộ đội Biên phòng Quảng Trị đã tham gia trình bày các tiết mục thơ.
          Sau đây là một số hình ảnh trong Ngày Thơ Việt Nam tại Quảng Trị.
          Ảnh: Nguyễn Ngọc Chiến

 

Nhà văn Cao Hạnh và Trần Biên chủ trì buổi tọa đàm 

Nhà văn Cao Hạnh - Phó Chủ tịch Hội VHNT Quảng Trị
phát biểu khai mạc buổi tọa đàm

Nhà văn Xuân Đức phát biểu

Võ Văn Luyến 

 

Các Hội viên phân hội Văn học

Cao Hạnh

Phan Thị Thanh Minh trình bày thơ

Nguyễn Thúy Sâm ngâm thơ

Võ Văn Hoa trình bày một sáng tác mới

Lê Văn Thê Cao Hạnh Nguyễn Ngọc Chiến Võ Văn Hoa (trái sang)

Nguyễn Ngọc Chiến Đức Tiên và Mai Thanh Tịnh (trái sang)

Đậu Trung Thành Hồ Thùy Liên Võ Văn Luyến Ngô Nguyên Phước Bùi Như Hải
Nguyễn Ngọc Chiến Trần Đình Thành Võ Văn Hoa Phan Hồ Du Lam (trái sang)

Nguyễn Ngọc Chiến và Võ Văn Hoa

Nguyễn Ngọc Chiến và Xuân Lợi

Nguyễn Ngọc Chiến và Mai Thanh Tịnh

Bùi Như Hải Võ Văn Hoa Phan Hồ Du Lam và Lê Văn Thê

Nghệ sỹ Ưu tú Hoàng Sỹ Cừ - Chủ tịch Hội VHNT Quảng Trị và
Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Đăng Hậu - Hiệu trưởng nhà trường -  khai mạc đêm thơ

Hai tiết mục văn nghệ của Trường THPT Lê Lợi trong đêm thơ

Các diễn viên đội Nghệ thuật Quần chúng Bộ đội Biên phòng QT trình bày thơ

Nhà thơ Đức Tiên tặng hoa diễn viên

Nhà thơ Phan Thị Thanh Minh tặng hoa

Khán giả trong đêm thơ

Phan Văn Quang

More...

DƯ ÂM MỘT VÙNG ĐẤT - NNC

By NGUYỄN NGỌC CHIẾN

 

NGUYỄN NGỌC CHIẾN
Dư âm
một vùng đất
GHI CHÉP

           (Tiếp theo)
           ...Tháng chạp trời lắc rắc mưa. Tôi đến thăm gia đình Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Mít ở thôn Phú Hưng. Cả xã Hải Phú có tổng số hai mươi ba Bà mẹ Việt Nam Anh hùng nhưng hiện nay chỉ có ba mẹ còn sống là mẹ Trần Thị Mít mẹ Trần Thị Dẫn và mẹ Nguyễn Thị Quý. Mẹ Trần Thị Mít năm nay vừa tròn 103 tuổi đang sống với người con trai đầu là ông Nguyễn Năng Luân năm nay cũng đã 84 tuổi. Theo ông Luân cho biết thì năm nay mẹ Mít đã yếu đi rất nhiều so với vài năm trước. Lần đầu tiên gặp mẹ Trần Thị Mít mà tôi đã không được nói chuyện với mẹ. Nhưng với những gì mà tôi đã từng được biết về mẹ cũng đủ để lòng tôi tôn kính ngưỡng mộ mẹ rồi. Mẹ là Bà mẹ Việt Nam Anh hùng có tới 9 thân nhân là liệt sĩ thuộc vào hàng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng có nhiều thân nhân liệt sĩ nhất ở Quảng Trị. Ngoài chồng là ông Nguyễn Năng Hải và một con trai là anh Nguyễn Năng Phàn hy sinh trong kháng chiến chống Pháp thì mẹ Mít còn có tới năm người con khác là các anh Nguyễn Năng Dể Nguyễn Năng Để Nguyễn Năng Kế Nguyễn Năng Tút chị Nguyễn Thị Tiếp một người con dâu là chị Phạm Thị Tiết và một cháu nội là anh Nguyễn Năng Thành hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ. Cuộc đời mẹ đã góp phần làm rạng rỡ đất Hải Phú anh hùng bởi những chiến công to lớn của những người ruột thịt thân yêu của mẹ.


         

          Tôi cũng đã đến thăm Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Dẫn và con gái của mẹ nữ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Văn Thị Xuân. Khác với mẹ Trần Thị Mít mẹ Trần Thị Dẫn vẫn còn đang rất khoẻ. Trong kháng chiến mẹ Dẫn cũng đã phải ba lần chít khăn tang cho chồng và hai người con trai hy sinh cho cách mạng. Con gái mẹ chị Văn Thị Xuân lúc bấy giờ là một nữ dân quân hoạt động hợp pháp trong lòng địch ngay tại quê hương Hải Phú. Chị Xuân đã mưu trí trà trộn trong lòng địch bất chấp mọi khó khăn nguy hiểm để nắm tình hình địch báo ra vùng tự do cho bộ đội và du kích. Chị còn bí mật vận động quần chúng nhân dân nổi dậy phá ấp chiến lược diệt ác trừ gian. Bản thân chị cũng đã cùng với đồng đội nhiều lần đột nhập vào tận sào huyệt của địch để gài mìn và đã tiêu diệt được một số tên cả Mỹ lẫn ngụy. Năm 1974 với những chiến công đặc biệt xuất sắc của mình chị Văn Thị Xuân đã vinh dự được Chính phủ Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Mười mấy năm sau mẹ chị bà Trần Thị Dẫn cũng đã vinh dự được Chủ tịch Nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Như vậy là trên đất Hải Phú nói riêng Quảng Trị nói chung lần đầu tiên có một gia đình mà cả mẹ và con gái đều là anh hùng.
         
Theo sự gợi ý của Bí thư Đảng uỷ xã Văn Ngọc Uy và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Văn Ngọc Ánh tôi đã tìm đến gặp cựu chiến binh Nguyễn Năng Hợi. Theo hai anh Uy và Ánh thì trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Nguyễn Năng Hợi là một trong những du kích được xếp vào hàng những người con ngoan cường dũng cảm nhất của quê hương Hải Phú. Chính vì thế mà vào những năm chín lăm chín sáu tiếp tục thực hiện Nghị định của Chính phủ về ưu đãi người có công trong kháng chiến với những thành tích xuất sắc của mình Nguyễn Năng Hợi đã được Ban chỉ huy quân sự huyện Hải Lăng và Hội đồng thi đua khen thưởng xã Hải Phú thụ lý hồ sơ đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Nhưng bởi lý do gì đó mà cho đến nay Nguyễn Năng Hợi vẫn chưa nhận được phần thưởng cao quý này.


         

          Trong kháng chiến chống Mỹ ngay từ năm mười sáu tuổi Nguyễn Năng Hợi đã tham gia vào lực lượng du kích xã làm liên lạc rồi dần dần chuyển lên các cương vị khác. Từ năm 1969 cho đến ngày quê hương giải phóng anh đảm đương chức vụ Xã đội trưởng Hải Phú. Đó là thời kỳ vô cùng gay go ác liệt giữa ta và địch. Nguyễn Năng Hợi đã cùng đồng đội trực tiếp tham gia chiến đấu sáu mươi lăm trận lớn nhỏ tiêu diệt gần một trăm tên Mỹ - ngụy và phá huỷ gần mười xe cơ giới. Có trận Nguyễn Năng Hợi đã mưu trí dùng mìn địch đánh địch cùng với năm du kích khác diệt gọn một trung đội bảo an hơn ba mươi tên. Anh đặc biệt có sáng kiến trong việc tận dụng các loại pháo cối bị hỏng của địch để sáng chế ra các loại mìn định hướng cho đồng đội diệt bộ binh và xe tăng địch. Trong hai năm 1970-1971 Nguyễn Năng Hợi đã chế tạo thành công cả thảy 1202 quả mìn các loại. Nữ Anh hùng Văn Thị Xuân khi trò chuyện với tôi cũng đã thừa nhận rằng chị từng dùng mìn tự tạo của Nguyễn Năng Hợi để tiêu diệt địch ngay từ lúc chị đang hoạt động bí mật trong vùng tạm chiếm. Bây giờ khi có mặt ở gia đình cựu chiến binh Nguyễn Năng Hợi tôi đã phải thực sự ngạc nhiên và khâm phục khi được tận mắt nhìn thấy những phần thưởng mà anh đã từng được đón nhận cách đây hơn ba mươi năm về trước. Đó là ngoài rất nhiều những tấm huân chương huy chương thì anh còn có tới hai mươi hai giấy chứng nhận danh hiệu dũng sĩ diệt Mỹ dũng sĩ diệt ngụy và dũng sĩ diệt xe cơ giới. Chị Nguyễn Thị Quế vợ anh Nguyễn Năng Hợi trước đây cũng từng là một nữ du kích bám trụ chiến đấu tại quê hương và đã từng bị địch bắt tù đày tra tấn. Họ đã gặp nhau và yêu nhau trong chiến tranh cho mãi đến sau ngày hoà bình mới xây dựng hạnh phúc bên nhau.


         

          Bên cạnh Văn Thị Xuân và Nguyễn Năng Hợi thì đất Hải Phú vẫn còn rất nhiều những tấm gương khác. Tôi đã không thể kể hết ra đây một cách đầy đủ về những tên người tên chiến công của họ được gắn với mỗi tên làng tên xóm trên quê hương Hải Phú thân yêu. Nhưng tất cả họ đều là những tấm gương sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Đó là Phạm Đình Chương một chiến sĩ giải phóng quân dũng cảm kiên trung một mình vượt qua mưa bom bão đạn đối mặt với quân thù chiến đấu cho đến hơi thở cuối cùng. Là Trần Xuân Thuỷ Phạm Giỏ Nguyễn Tiếp... những chiến sĩ an ninh mưu trí quả cảm quyết xông vào tận sào huyệt của Mỹ - ngụy để tiêu diệt cho bằng được những tên ác ôn đầu sỏ có nhiều nợ máu với nhân dân. Là Văn Ngọc Hiếu Nguyễn Mai Nguyễn Duy Nguyễn Văn Hoạt Nguyễn Lợi...những chiến sĩ du kích kiên trì bám trụ với làng xóm quê hương. Là Nguyễn Thị Lan Văn Thị Huệ... "Anh hùng - bất khuất - trung hậu - đảm đang". Là bác Văn Dương cần cù sản xuất chắt chiu từng đồng tiền hạt gạo ủng hộ kháng chiến. Là các em Nguyễn Cảm Nguyễn Trường...tuổi nhỏ trí khôn căm thù Mỹ - ngụy quyết một lòng theo bộ đội du kích đánh giặc...Tất cả họ đều là con em Hải Phú và đều đã đóng góp xương máu công sức một cách xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc để làm rạng danh quê hương Hải Phú với hai lần vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho du kích và an ninh xã.


         

          Trước khi rời Hải Phú tôi đã cùng anh Văn Hoà đến thăm khu di tích Phú Long nơi thành lập chi bộ Cộng sản đầu tiên tại Hải Lăng. Thăm và thắp hương tại bia tưởng niệm chín dũng sĩ Phường Sắn bia tưởng niệm ngã ba Long Hưng và một số địa danh khác trên quê hương Hải Phú anh hùng. Trong gió chiều nhè nhẹ và thoang thoảng hương thơm tôi như thấy có một điều gì đó vô hình nhưng rất đỗi thiêng liêng đang vây bủa quanh mình. Tự nhiên tôi nghĩ đến những gì mà người dân Hải Phú đã làm được trong chiến tranh và tôi tin trong hoà bình nhất định họ sẽ tiếp nối truyền thống anh hùng đó để xây dựng một Hải Phú giàu đẹp no ấm.
                                                                                                                                           N.N.C
*Rút từ tập "Những Nẻo Đường Quê Hương"

More...

DƯ ÂM MỘT VÙNG ĐẤT - NNC

By NGUYỄN NGỌC CHIẾN

 

NGUYỄN NGỌC CHIẾN

Dư âm

một vùng đất

GHI CHÉP

           
          Có một vùng quê nằm về phía nam Thành Cổ Quảng Trị mà lần đầu tiên tôi mới đặt chân đến. Vùng quê ấy có tên gọi là xã Hải Phú thuộc huyện Hải Lăng. Dư âm về những tên đất tên người tên chiến công gắn với vùng quê này đã cuốn hút tôi từ rất lâu. Và cũng từ rất lâu tôi cứ ao ước hoài được một lần về thăm mảnh đất anh hùng này.
         
Hôm đến Hải Phú anh Văn Ngọc Uy hồi đó là Bí thư Đảng uỷ xã đã rất hồ hởi khi nói với tôi về mảnh đất và con người quê anh. Anh còn cho tôi mượn xem tập bản thảo "Sơ lược truyền thống lịch sử Đảng bộ và nhân dân Hải Phú". Tập bản thảo chỉ dày ba mươi lăm trang đánh máy lại chỉ mới có một phần nói về người và đất Hải Phú trong chiến tranh. Như thế kể ra còn quá mỏng so với bề dày truyền thống vốn có về lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của một vùng đất kiên cường như Hải Phú.

 


         

          Lần dở từng trang sử truyền thống tôi bỗng nhận ra rằng: Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Hải Phú quả là một địa bàn quan trọng một vùng đất thường xuyên có những tranh chấp hết sức gay go quyết liệt giữa ta và địch. Một phần vì nằm trên quốc lộ 1A một phần vì nằm giáp với trung tâm đầu não của chính quyền ngụy ở thị xã Quảng Trị nên kẻ địch lúc nào cũng xem Hải Phú là một cửa ngõ phía nam quan trọng của chúng. Còn ta ta cũng từng ví Hải Phú như là một xã "đầu sóng ngọn gió" của chiến trường Hải Lăng nói riêng và Quảng Trị nói chung. Thế nên không lấy gì làm lạ khi chỉ trên một vùng đất không mấy rộng như Hải Phú mà kẻ thù đã tập trung ở đây một lực lượng khá đông những đơn vị quân sự tinh nhuệ nhất của chúng. Ngoài một đơn vị lính Mỹ lên đến cả ngàn tên đóng quân tại căn cứ La Vang thì Hải Phú còn là nơi đặt "đại bản doanh" của sư đoàn 1 bộ binh và trung đoàn 54 từng được mệnh danh là trung đoàn "trâu điên" của quân đội ngụy. Đó là chưa kể đến những sắc lính khác như  bảo an dân vệ... mà quân số có thể lên đến hàng đại đội tiểu đoàn. Ngoài ra là một lũ lúc nhúc những tên chỉ điểm mật vụ... cực kỳ nguy hiểm và phản động lúc nào cũng có thể nhe nanh vuốt móng cào cấu chống phá ta. Vì vậy trong suốt hai mươi năm của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Hải Phú là một trong những vùng quê bị bom đạn kẻ thù tàn phá nặng nề nhất. Vượt lên những mất mát thương đau ấy người dân Hải Phú đã kiên trì bám đất giữ làng cùng bộ đội anh dũng chiến đấu cho đến ngày kháng chiến thắng lợi. Bây giờ khi có mặt ở Hải Phú tôi mới vỡ lẽ ra rằng dù mấy mươi năm đã trôi qua người dân trong xã vẫn không thể nào quên những ngày khốn khó đã qua và họ vẫn thường kể cho con cháu họ nghe về tấm gương hy sinh dũng liệt của chín dũng sĩ Phường Sắn về Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Mít về nữ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Văn Thị Xuân về chốt thép Long Hưng kiên cường bất khuất và về rất nhiều những địa danh những người con trung dũng khác của quê hương Hải Phú anh hùng.

 


         

          Anh Văn Hòa nguyên là Xã đội phó của Hải Phú thời chiến tranh bây giờ đang đảm đương chức vụ Chủ tịch Mặt trận xã có lẽ là người cao tuổi nhất còn tham gia công tác. Và nếu như tôi không nhầm thì anh còn là người am hiểu khá tường tận về truyền thống đánh giặc của quê hương anh. Tôi đã thực sự bị cuốn hút bởi những câu chuyện anh kể rất say sưa về những tên đất tên người tên chiến công trên quê hương Hải Phú của anh. Ngay như chuyện về các dũng sĩ Phường Sắn cũng vậy. Tôi đã từng nghe nói nhiều lần về các dũng sĩ Phường Sắn nhưng chắc chắn đây là lần đầu tiên tôi được nghe đầy đủ nhất cụ thể nhất về một chiến công đã từ lâu đi vào huyền thoại của vùng đất này.
          Với những gì còn đọng lại trong ký ức của một cựu chiến binh đã từng vào sinh ra tử như anh Hoà thì chiến công  về các dũng sĩ Phường Sắn có thể được tóm tắt lại như sau: Khoảng đầu những năm sáu mươi mặc dù bị địch bao vây tứ phía dồn dân lập ấp chà đi xát lại vô cùng thảm khốc nhưng ở Hải Phú vẫn sừng sững hiên ngang một căn cứ kháng chiến nhỏ của ta được đặt tại xóm Phường Sắn. Từ căn cứ Phường Sắn quân dân Hải Phú nói riêng Hải Lăng nói chung đã dựa vào đó để làm nơi đi về hội họp kêu gọi nhân dân nổi dậy đấu tranh diệt ác phá kềm. Từ căn cứ Phường Sắn nhiều tin tức quan trọng về tình hình địch cũng đã được cung cấp kịp thời nhất chính xác nhất cho mặt trận. Tại căn cứ Phường Sắn thường xuyên có một đơn vị Giải phóng quân chỉ vỏn vẹn có chín người bám trụ lại thách thức với kẻ thù. Và kẻ thù cũng từ lâu muốn nhổ đi cái gai trước mắt chúng nhưng chúng đã không có cách gì thực hiện được. Sau nhiều thất bại thảm hại   một ngày tháng bảy năm 1964 được sự yểm trợ của một thiết đoàn xe bộc thép M113 một tiểu đoàn bộ binh ngụy đã hùng hổ tấn công lên Phường Sắn với ý định sẽ ăn tươi nuốt sống ngay cái đơn vị nhỏ bé này của ta trong chốc lát. Nhưng chúng đã bị chín dũng sĩ giáng trả quyết liệt ngay từ những giây phút đầu tiên khi chúng vừa đặt chân lên căn cứ Phường Sắn. Trận đánh đã diễn ra hết sức quyết liệt trong suốt tám tiếng đồng hồ liên tục. Các chiến sĩ của chúng ta lợi dụng thế phòng ngự vững chắc trong các công sự đã ngoan cường chiến đấu với kẻ thù cho đến viên đạn cuối cùng và anh dũng hy sinh sau khi đã làm tan rã đội hình địch diệt tại chỗ hơn sáu mươi tên. Căn cứ Phường Sắn rơi vào tay địch nhưng chiến công dũng liệt của các chiến sĩ đã làm nức lòng quân dân ta và làm cho kẻ thù phải lấy đó làm nỗi kinh hoàng khiếp sợ. Trận Phường Sắn sau này được đánh giá như là một trận đánh mở màn cho phong trào đồng khởi ở chiến trường Hải Lăng cũng như trên khắp các mặt trận Quảng Trị.

 


         

          Tôi ngậm ngùi hỏi anh Hoà về tên tuổi quê hương của chín dũng sĩ Phường Sắn nhưng rất đáng tiếc là anh chỉ biết được có hai người. Đó là hai người quê tại Hải Phú mà một trong hai người ấy có Nguyễn Năng Dể là con trai của Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Mít. Còn người kia là Phạm Cao người đã trực tiếp chỉ huy trận Phường Sắn hôm ấy. Bảy dũng sĩ còn lại anh nói rằng cho đến tận bây giờ không một ai ở đây có thể biết được cụ thể tên tuổi họ là gì quê quán họ ở đâu. Người ta chỉ biết một cách chung chung là quê họ ở Quảng Bình và Vĩnh Linh. Bởi ngay cả mộ chí của họ hiện nay ở nghĩa trang liệt sĩ xã cũng chỉ là những ngôi mộ vô danh với dòng chữ " Dũng sĩ Phường Sắn" mà thôi. Nghe câu chuyện này tôi cứ hy vọng đến một ngày nào đó những ai có trách nhiệm sẽ phải tìm hiểu kỹ càng hơn để biết được rõ ràng hơn về danh phận của bảy dũng sĩ Phường Sắn còn lại...(Còn nữa)

N.N.C

(*)Rút từ tập "Những Nẻo Đường Quê Hương"

More...

GIẾNG LÀNG - NNC

By NGUYỄN NGỌC CHIẾN

Nguyễn Ngọc Chiến

GIẾNG LÀNG

Tản văn

 

       

                     Nông thôn Việt Nam dù ở trung du đồng bằng miền biển...ở miền Bắc miền Trung miền Nam nơi nào ở đâu cũng đều có giếng làng. Và mục đích chính của giếng làng là để phục vụ nguồn nước sinh hoạt của nhân dân. Đi nơi này chỗ kia hoặc chỉ đọc qua sách vở nhất là sách sử   chúng ta biết có những cái giếng làng đã ngàn năm tuổi hạc.
         
Nhiều câu chuyện quanh cái giếng làng đã trở thành huyền thoại cổ tích đi vào lòng người hết thế này đến thế hệ khác. Nhiều câu tục ngữ bài ca dao gắn với giếng làng trở thành lời ru êm ái ngọt ngào của bà của mẹ bên vành nôi em nhỏ.
         
Giếng làng thường được chọn an tọa ở những vị trí sạch sẽ có phong cảnh đẹp thường là ở đầu làng hoặc nơi trung tâm dân cư có địa thế cao - thấp vừa phải không bị khô hạn về mùa nắng không bị ngập lụt về mùa mưa. Nơi ấy phải có nguồn nước quanh năm không bao giờ cạn kiệt cho dẫu hạn hán có tung hoành dữ dội đến mức nào.

 


         

          Giếng làng đi vào đời sống gắn bó với người dân nông thôn Việt Nam từ rất lâu. Và cũng từ rất lâu giếng làng là một trong những nơi được xem là "thiêng liêng" nhất của làng. Nhiều đôi trai gái khi yêu nhau đã chọn giếng làng làm nơi thề nguyện lòng chung thủy ngày hạnh ngộ. Khi xa quê hương bôn ba nơi góc bể chân trời ai ai cũng nhớ về giếng làng.
         
Giếng làng là tài sản chung của cả làng. Từ bao đời nay bà ta mẹ ta đã gánh nước ở đấy tắm rửa ở đấy giặt giũ ở đấy. Nơi ấy thời ta còn bé ta đã từng giúp mẹ ngày ngày quẫy những gánh nước từ giếng làng về nhà để vo gạo nấu cơm   giặt giũ...
         
Những năm chiến tranh tàn khốc bom đạn chà đi xát lại nhà cửa cầu cống trạm xá trường học...nơi nào cũng bị tàn phá. Nay hòa bình mọi cái được xây dựng lại khang trang đẹp đẽ gấp trăm gấp ngàn lần. Chỉ riêng cái giếng làng là vẫn vậy. Giản dị đơn côi...đêm ngày âm thầm lặng lẽ dâng hiến cho đời nguồn nước ngọt lành.

 


         

          Thấy được lợi ích từ giếng làng nhiều địa phương đã vận động nhân dân kẻ ít người nhiều góp của góp công tôn tạo nâng cấp lại giếng làng đưa việc gìn giữ bảo vệ giếng làng vào quy ước xây dựng làng - xã văn hóa gia đình văn hóa.
         
Tuy nhiên vẫn có những địa phương do không thấy hết được lợi ích từ công trình dân sinh vô cùng hữu ích này nên đã không mấy quan tâm đến giếng làng. Người ta chỉ thấy được lợi ích của giếng làng và cần đến nguồn nước của nó vào những năm hạn hán mà thôi.
         
Tôi còn nhớ năm ấy là một năm khủng khiếp xảy ra chưa từng có ở Quảng Trị. Đồng ruộng khô hạn nứt nẻ không còn lấy một vũng nước. Đâu đâu cây cối cũng xác xơ khô cháy vì hạn. Không những cây cối gia súc gia cầm thiếu nước mà ngay cả con người cũng thiếu trầm trọng nguồn nước. Đó là một năm mất mùa thất bát vì hạn một năm đói kém vì hạn...
         
Ở một xóm nọ có một cái giếng làng không ai nhớ là nó hình thành vào năm nào đời nào năm nay cái giếng làng ấy đã bao nhiêu tuổi. Có những cụ già ngót nghét cả trăm tuổi khi được hỏi cũng chỉ biết lắc đầu vì theo các cụ thì ngay từ khi các cụ còn nhỏ các cụ đã thấy cái giếng làng này. Như vậy thì nghĩa là cái giếng làng ấy đã có từ cách đây ít nhất cả trăm năm.

 


         

          Cái giếng làng ấy chỉ rộng chuông vuông mỗi bề hai mét không sâu lắm nằm ngay đầu làng trong lòng giếng quanh năm nước trong veo tận đáy. Bao năm qua cái giếng làng này chẳng được ai đoái hoài đếm xỉa. Cỏ dại rác rưởi...che kín cả mặt nước. Người ta đã quên hẳn nó.  Người ta bội bạc bỏ bê nó chỉ vì ngày nay nhà ai cũng đã có giếng nhà có bể đựng nước có điện...Người ta chỉ cần một cái ấn tay nhẹ nhàng là nước theo vòi vào tận...nồi nước lên tận...đầu. Ai còn nhớ gì tới cái giếng làng tội nghiệp ai cần gì phải ra giếng làng gánh nước như hồi xửa hồi xưa.
         
Vậy rồi trận hạn có một không ai ập đến. Nó ập đến thật nhanh khiến cho nhà ai cũng không kịp trở tay. Trận hạn đã làm cho đồng ruộng nứt nẻ cây cối khô cháy. Và trận hạn đã làm cho giếng nhà nào bể nhà nào cũng khô cạn trơ đáy không còn lấy một giọt nước.
         
Người ta mới sực nhớ tới cái giếng làng và đổ xô ra lấy nước. Có người còn mang cả thùng phuy và đủ các loại đồ nhựa ra lấy nước rồi dùng xe công nông xe bò chở nước đi bán cho người ở xa. Người ta tha hồ múc tha hồ gánh tha hồ chở. Ấy vậy mà giếng làng không hề cạn nước vẫn trong xanh tận đáy.

 


         

          Sau khi trận hạn qua đi người ta mới tổ chức họp làng. Ai ai cũng ca tụng giếng làng. Ai ai cũng nói với nhau về lợi ích của giếng làng. Rồi người ta mới đề nghị tất cả các hộ góp tiền để tôn tạo lại giếng làng. Ai cũng phát biểu rằng từ nay phải biết bảo vệ và gìn giữ giếng làng như một thứ tài sản quý giá của làng. Một ông cụ còn cao hứng ngâm cho mọi người nghe hai câu ca dao:
         
Đừng ai tham đó bỏ đăng
         
Thấy lê quên lựu thấy trăng quên đèn.
         
Giếng làng cùng với bến nước cây đa mái đình lũy tre...là những công trình địa danh gắn với nông thôn. Đó không chỉ là những công trình dân sinh mà đó còn là nét đẹp văn hóa của làng quê Việt Nam. Mỗi một chúng ta trong cuộc đời ai sinh ra và lớn lên ở nông thôn mà lại không một lần có một kỷ niệm gì đó với  giếng làng với lũy tre với mái đình. Chỉ riêng cái giếng làng thôi đã đầy ắp những kỷ niệm. Và khi khôn lớn ra đi có người phải hàng bao năm xa cách mới về thăm làng một lần. Nhưng cũng có người ra đi học hành làm ăn thành đạt rồi sống luôn ở thành phố hoặc một nơi khác rất xa. Có người ra đi rồi biền biệt bóng chim tăm cá chẳng một lần trở lại thăm quê thăm lại cái giếng làng mà họ từng gắn bó cả thời tuổi thơ. Mỗi người một hoàn cảnh nào ai dám trách ai.

 

         

          Nhưng tôi tin trong nỗi sâu thầm kín của những người con xa quê ấy họ vẫn lưu giữ rất nhiều những kỷ niệm ngọt ngào về quê hương. Và trong những kỷ niệm ngọt ngào ấy của lòng họ tôi biết họ vẫn dành một góc nhỏ cho cái giếng làng mà họ từng thân quen ngay từ những ngày còn tấm bé.
          Cây đa bến nước sân đình
         
Lung linh bóng nước đôi mình gương soi
         
Giờ em đã lấy chồng rồi
         
Còn tôi với giếng bên trời lẻ loi
         
Giá em đừng để gàu rơi
         
Thì tôi đâu phải tìm người trong gương!(*)

N.N.C

(*) Thơ Đặng Đình Nguyễn
 
 

 

More...

LINH CHI GIỮA LÒNG THÀNH CỔ - NNC

By NGUYỄN NGỌC CHIẾN

NGUYỄN NGỌC CHIẾN

LinhChi

giữalòngThànhCổ

BÚT KÝ

        

               (Đoạn cuối)
          ...Cuối năm 1999 kỹ sư Lê Văn Quỳnh bắt đầu khăn gói lên đường "tầm sư học đạo". Gia đình chắt chiu được đồng nào bà Dần dồn cả cho chồng lại còn động viên ông: "Mình cố mà học cho tốt rồi về dạy lại cho tôi để tôi và mình cùng làm nấm". Con đường ông đi không phải là vào Nam mà là ra Bắc ra Hà Nội ra với Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam. Nơi ấy ông đã có hơn mười năm sinh sống và gần bốn năm học tập thời trai trẻ. Được giáo sư Nguyễn Lân Dũng giáo sư Dương Đình Đống và nhiều người khác vốn là thầy cũ bạn cũ trực tiếp truyền đạt kiến thức ông học một lèo ba tháng về kỹ thuật trồng các loại nấm. Sau ba tháng ở Hà Nội ông lại xuôi về Thái Bình học thêm một tháng nữa về kỹ thuật chế biến nấm do Hội Nông dân tỉnh Thái Bình tổ chức.


         

          Trở về quê ông bắt tay ngay vào việc. Ông vận động sáu hộ nghèo trong khu phố mỗi hộ một người cùng làm nấm với ông. Có nhân công rồi nhưng vẫn thiếu nhiều thứ. Và cái thiếu nhất vẫn là vốn. Ông làm đơn vay Ngân hàng hai mươi triệu đồng tiền của gia đình cộng với bạn bè cho vay ba mươi triệu đồng nữa vậy là ông có chẵn năm mươi triệu đồng vừa đủ chi phí cho "mẻ" nấm đầu tay. Cả nhà ông bắt đầu lăn lưng ra với nấm từ chuẩn bị dụng cụ che chắn giàn kê tưới tắm cho đến các loại phụ liệu cần thiết như mạt cưa túi nilong nút cổ bông địu các loại cám...Rồi mọi thứ cũng hòm hòm đâu ra đó. Chưa đủ điều kiện làm hẳn những gian nhà riêng biệt để trồng nấm ông đành chấp nhận cho nấm "ở" lẫn với người. Ngôi nhà ông có bốn gian không rộng lắm vậy mà vợ chồng con cái ông dồn hết cả về một gian ba gian còn lại ông để trồng nấm. Cả ngôi nhà bếp ông cũng "tận dụng"  ưu tiên cho công việc. Trong nhà ông nơi nào cũng lỉnh kỉnh nhưng bao bì những giàn gỗ những xô chậu...Bước chân và xó xỉn nào cũng một mùi hăng hăng nông nồng ẩm ướt khó chịu. Nhưng thời gian thu hoạc nấm cũng đã đến.
          - Vụ đầu này tôi lỗ mất mười lăm triệu đồng! - Ông Quỳnh đột ngột nói.
         
- Tính chi ly phải gần hai mươi triệu chứ! - Bà Dần nói chen vào.
         
- Sao thế? - Tôi hỏi.
         
- Chung quy cũng là do mình áp dụng kỹ thuật chưa đến nơi đến chốn. - Ông Quỳnh ngậm ngùi trả lời.


         

          Để thu hoạch một vụ nấm Linh Chi phải qua chín tháng ròng rã chăm sóc. Nhưng theo như vợ chồng ông Quỳnh cho biết thì trong chín tháng ấy chỉ vất vả nhất mọi yếu tố kỹ thuật thành công hay thất bại lại tập trung chủ yếu vào tháng đầu tiên. Một quy trình sản xuất nấm Linh Chi phải tuần tự thực hiện đủ các bước. Bắt đầu là việc phơi phong và sàng lọc mạt cưa sao cho mạt cưa sạch sẽ khô ráo. Sau đó trộn đều mạt cưa với vôi và nước ủ trong ba đến năm ngày. Bước tiếp theo là đóng túi tức là cho mạt cưa vào túi nilong. Xong đâu đó thì dồn cả lại chất thành đống để hấp hơi ở nhiệt độ cao trong vòng mười hai tiếng mới được vớt ra để nguội mà phải để tới hai mươi tiếng đồng hồ chứ không thể ít hơn. Công đoạn này gọi là tiệt trùng phụ liệu. Xong đâu đó mới cho phép cấy giống vào túi đặt lên giá.
         
Trong tháng đầu các túi Linh Chi bắt buộc phải nuôi trong phòng tối cho đến khi nào sợi và quả thể của nấm phát triển mới được chuyển sang phòng sáng.  Chu kỳ để nấm phát triển kể từ khi cấy giống cho đến lúc quả thể của nấm nhú ra  khỏi nút cổ vừa tròn trịa một tháng. Tám tháng còn lại là tám tháng chăm sóc tưới tắm cho đến khi nào nấm trưởng thành thu hoạch được.


         

          Ông Quỳnh thất bại vụ nấm này không phải ở tám tháng cuối mà là ở ngay tháng đầu ở đúng vào cái công đoạn tiệt trùng. Đây là công đoạn quyết định thành bại của cả vụ nấm nhưng ông đã sơ hở trong khâu xử lý nào đó. Mà nói như ông thì có thể là do ông hấp hơi phụ liệu chưa đủ mười hai tiếng hoặc để nguội phụ liệu chưa đủ hai mươi bốn tiếng. Sai một ly đi một dặm là vậy. Thôi thì cũng coi như bài học để rút kinh nghiệm cho những vụ nấm sau.
         
Và vụ nấm sau thì ông thành công thật ông đã có lãi hơn hai mươi triệu đồng từ Linh Chi. Vụ này theo như lời bà Dần thì họ đã xử lý kỹ thuật một cách hoàn hảo tất cả các khâu. Thắng lợi tuy chưa phải là lớn nhưng như vậy cũng thu được một món tiền đủ để bù đắp cho vụ trước và trả lương cho nhân công. Mấy năm sau ông liên tiếp thắng liền mấy vụ mỗi vụ đều lãi hai mươi triệu đồng trở trở lên. Ông bắt đầu xây dựng lều trại làm nấm với diện tích hơn một trăm mét vuông. Rồi ông bỏ tiền ra vào tận Đà Nẵng Đồng Nai...học thêm về bí quyết làm nấm. Ông sản xuất thêm nấm Sò nấm Mộc Nhỉ...bán ra thị trường. Cơ sở của ông phải huy động thêm vài chục nhân công nữa mới đáp ứng được công việc.


         

          Hai vụ nấm sau năm đó ông thắng to với sản lượng lên tới sáu tạ nấm Mộc Nhỉ trên ba tạ nấm Sò và non nửa tạ nấm Linh Chi. Một điều không ngờ tới đó là đầu ra vốn lúc nào cũng khiến ông phải thấp thỏm lo âu canh cánh trong lòng giờ bỗng như trống dong cờ mở thuận tiện biết bao. Nấm ông sản xuất ra có bao nhiêu bán hết bấy nhiêu. Riêng với nấm Linh Chi mặc dù giá cả không thấp như nấm Sò nấm Mộc Nhỉ...nhưng cũng bán sạch có lúc không còn để bán. Đôi khi ông phải chịu sự "dỗi hờn" của người quen chỉ vì...thiếu nấm mà nấm ở đây là nấm Linh Chi. Thì ra cuộc sống bây giờ ngày càng ăn ra làm được nên người tiêu dùng cũng không ngại gì khi phải bỏ ra một món tiền lớn mua lấy ký Linh Chi dùng cho việc chữa bệnh phòng bệnh hay bồi bổ cơ thể. Mà phải đâu người xa lạ toàn người trong huyện trong tỉnh cả. Có những người ở vùng nông thôn cuộc sống còn nhiều khó khăn nhưng cũng không tiếc tiền khi được biết về công dụng của nấm Linh Chi. Mới hay Linh Chi thật khéo hấp dẫn người dùng không hổ danh là vị thuốc quý.
         
Khi cơ sở sản xuất nấm đặc biệt là nấm Linh Chi của ông Quỳnh được người ta chú ý đến thì nhiều nhà thuốc Đông y trong và ngoài tỉnh đã đến đây đặt hàng. Và chỉ mới đây thôi ông Ngô Thanh Nghị Chủ tịch Liên minh các Hợp tác xã của tỉnh cũng đã đưa đến nhà ông Quỳnh một vị khách. Đó là Lương y Ngô Qúy Thích một chủ nhà thuốc Đông y nổi tiếng ở Huế. Ông Thích ra gặp ông Quỳnh và có ý định hợp đồng với cơ sở sản xuất nấm của ông mua Linh Chi dài hạn. Nhưng rất đáng tiếc là ông Quỳnh đã không đủ khả năng cung cấp Linh Chi với một số lượng quá lớn như ông Thích yêu cầu.


         

          - Tôi  chỉ tiếc là mình đã để tuột khỏi tay một hợp đồng lớn.- Rồi ông thở dài - Nhưng cũng phải dễ dàng gì lại có thể sản xuất được hàng tấn Linh Chi mỗi vụ như họ yêu cầu được.
         
Bà Dần nói như một lời đề nghị:
          - Giá mà cơ sở của chúng tôi được vay vốn nhiều hơn lãi suất thấp hơn và chu kỳ cho vay dài hơn thì chắc chắn công việc làm ăn của chúng tôi sẽ thuận lợi hơn nhiều.
         
Ông Quỳnh nói rằng bây giờ ở thị xã Quảng Trị đã có thêm hai cơ sở sản xuất nấm của chị Hoàng Thị Mai và chị Nguyễn Thị Phàn bước đầu đã cho thu hoạch khá. Họ là hai trong số hàng chục người ở đây được ông ...truyền nghề. Tuy nhiên họ cũng chỉ mới sản xuất được nấm Sò và nấm Mộc Nhỉ nấm Linh Chi vẫn chưa ai dám làm.
         
Còn gia đình kỹ sư Lê Văn Quỳnh vẫn đều đặn mỗi năm một vụ nấm Linh Chi và tám đến mười vụ nấm Sò nấm Mộc Nhỉ. Hàng ngày vợ chồng ông lúc nào cũng cặm cụi tảo tần với nấm. Riêng ông ngoài công việc làm nấm hàng tháng ông vẫn phải thỉnh thoảng xa nhà đi đến các huyện thị khác để dạy nghề làm nấm cho bà con nông dân. Và trong năm nay ông cũng có dự định mở thêm hai lớp làm nấm cho bà con nghèo ở thị xã quê ông. Trong khu phố người ta thấy ông lúc nào cũng tất bật ngược xuôi. Nào đâu chỉ phải việc sản xuất việc làm nấm...mà ông còn phải đảm đương biết bao nhiêu là công việc từ giữ gìn trật tự trị an đến phong trào của người cao tuổi hội nông dân...việc gì cũng có ông tham gia việc gì cũng có ông dốc toàn tâm toàn ý phục vụ. Ở cái Thành Cổ Quảng Trị này ai cũng biết tên ông. Ai cũng quý ông mến ông bởi người ta thấy ông không chỉ là một người siêng năng cần cù trong công việc mà ông còn là một người sống mẫu mực tình nghĩa với láng giềng bà con chòm xóm.


         

          Thành Cổ Quảng Trị vào những ngày này thật là đông vui nhộn nhịp. Người khắp nơi trong cả nước đang đổ về đây thắp hương tưởng niệm cho người đã khuất.  Và Thành Cổ hôm nay vẫn đang bươn chải bộn bề làm ăn. Dọc các đường phố đã có thêm nhiều nhà cao tầng mọc lên nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ ra đời. Đâu đâu cũng rộn ràng tiếng máy đâu đâu cũng tràn ngập niềm vui. Chỉ có ở đây bên góc đường Lê Hồng Phong này nghe có vẻ yên ả hơn trầm lắng hơn. Ở đấy vừa có một cơ sở sản xuất nấm Linh Chi ra đời đang ngày ngày âm thầm lặng lẽ làm ăn. Để rồi mỗi năm từ cơ sở này những mẻ Linh Chi những mẻ thuốc quý lần lượt ra đời.
         
Linh Chi giữa lòng Thành Cổ! Linh Chi mang lại vẻ đẹp cho đời! Và Linh Chi - loài nấm quý vị thuốc quý ấy đã thực sự góp thêm một chút hương sắc cho Thành Cổ Quảng Trị thân yêu trên con đường dựng xây đổi mới và phát triển.

                                                                                                                                           N.N.C

More...

LINH CHI GIỮA LÒNG THÀNH CỔ - NNC

By NGUYỄN NGỌC CHIẾN

NGUYỄN NGỌC CHIẾN

LinhChi 

giữalòngThànhCổ

BÚT KÝ


@Bút ký này đã in trên tạp chí Cửa Việt báo Quảng Trị
phát trong Chương trình "Văn nghệ" của Đài TNVN
và in trong tập "GẠCH HỒNG THÀNH CỔ".

 

        
          Tháng ba đất trời Thành Cổ ngập tràn trong ánh nắng xuân ngập tràn trong dòng người và xe cộ ngược xuôi. Tháng ba tôi vào Thành Cổ.
         
Tôi đã hàng chục lần vào Thành Cổ có khi dừng lại lâu lâu có khi chỉ ngang qua nhưng lần nào cũng vậy Thành Cổ luôn là mảnh đất tôi yêu mến. Trải hơn ba mươi năm dựng xây dù có cái chưa làm được có cái đang dở dang nhưng Thành Cổ Quảng Trị thị xã nhỏ bên dòng Thạch Hãn thơ mộng từng làm rạng danh lịch sử đấu tranh bởi 81 ngày đêm từng bị nát vụn dưới lớp lớp đạn bom kẻ thù...hôm nay đã có thể mạnh mẽ vươn lên như một sức trai trẻ tràn đầy sinh lực. Vì thế tôi muốn nói rằng Thành Cổ hôm nay không chỉ là nơi để người ta tưởng niệm tri ân với những gì của quá khứ mà còn là nơi được người ta chú ý đến bởi những gì mà người dân ở đây đang làm để xây dựng một Thành Cổ xây dựng một thị xã ngày càng tươi đẹp hơn. Trong chuyến vào Thành Cổ lần này tôi muốn tìm đến với những người đang lao động sản xuất.

          - Thị xã hôm nay có nhiều mô hình làm ăn tiêu biểu có nhiều gương sản xuất kinh doanh giỏi trên các lĩnh vực và tôi muốn giới thiệu với anh một cơ sở sản xuất nấm Linh Chi khá nổi tiếng ở ngay giữa lòng Thành Cổ này. Ông là kỹ sư Lê Văn Quỳnh! - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã Quảng Trị anh Nguyễn Trí Tuân đã nói với tôi như vậy.
         
Có một cái gì đó cứ thôi thúc tôi phải đến ngay với "ông chủ" của loài nấm quý này. Tôi từng nghe nói ở Quảng Trị mô hình sản xuất nấm đã có từ khá lâu và hầu như ở huyện thị nào cũng có người trồng nấm nhiều người đã thực sự "ăn nên làm ra" trở nên giàu có nhờ nấm nhưng đó chỉ là những loài nấm thực phẩm thông thường như nấm Sò nấm Mộc Nhỉ nấm Rơm...Còn như nấm Linh Chi thì rất hiếm người trồng.
         
Theo anh Nguyễn Trí Tuân thì ông Quỳnh là người đầu tiên sản xuất loài nấm này. Có lẽ Linh Chi là loài nấm không dễ trồng lâu thu hoạch chi phí tốn kém mà lại khó thành công nên ít người theo đuổi chăng? Nhưng Linh Chi là một loại nấm quý quý vào hàng số một trong các loài nấm. Có lần tôi đã đọc một tài liệu nói về loài nấm quý này.

           Nấm Linh Chi còn có thêm mấy cái tên khác nữa là nấm Vạn Năm nấm Thần Tiên cây Điềm Lành cỏ Huyền Dịu. Tuy thế cái tên Linh Chi vẫn phổ biến hơn cả. Từ cách đây hàng trăm năm trên thế giới đã có bao truyền thuyết bao câu chuyện liên quan đến loài nấm Linh Chi. Một tài liệu cách đây hàng ngàn năm ghi tên 366 loài dược thảo đã không ngần ngại xếp Linh Chi vào hàng thượng dược.Còn ở nước ta từ đời Minh cho đến đời Trần trong các bản thảo còn lưu giữ lại đến hôm nay đều có ghi tên 2000 loài thuốc thì Linh Chi vẫn được xếp hàng đầu. Hồi đó chưa có điều kiện nghiên cứu về Linh Chi người ta chỉ biết được công dụng của nó qua kinh nghiệm và thực tế sử dụng. Ngày nay tức khoảng trên dưới bốn mươi năm nay Linh Chi đã được các nhà khoa học các viện nghiên cứu trên thế giới chú ý đến và người ta đã tìm ra được công dụng đắc địa của nó. Bắt đầu là Nhật Bản sau đó là Trung Quốc rồi lan dần ra các nước Hàn Quốc Hoa Kỳ Đài Loan Malaysia Thái Lan Việt Nam...ở nước nào Linh Chi cũng được xếp vào hàng dược liệu quý hiếm nhất. Người ta bắt đầu đặt cho nó một cái tên khoa học là Ganoderma Lucidium. Theo các tài liệu được công bố mới nhất trên thế giới thì nấm Linh Chi có rất nhiều công dụng trong chữa bệnh và nâng cao sức khỏe cho người như: giải độc tố gan thận mật; ngăn chặn và điều trị bệnh xơ gan bệnh tiểu đường bệnh huyết áp...Linh Chi còn có tác dụng bổ tim thông mạch cải tiến quá trình chuyển hóa và dinh dưởng. Người sử dụng Linh Chi đúng phương pháp có thể nâng cao tuổi thọ chống lú lẫn hoặc mất trí nhớ...Có thể sử dụng Linh Chi bằng nhiều cách trong điều trị như nấu nước uống ngâm với mật ong rượu nguyên chất hoặc cũng có thể hầm Linh Chi với thịt gà thịt lợn để ăn hàng ngày. Linh Chi lạ lùng và quý hiếm như thế sao lại không thể không cuốn hút tôi?

              Nhà kỹ sư Lê Văn Quỳnh ở đường Lê Hồng Phong thuộc khu phố 7 phường 1 cách di tích Thành Cổ không xa. Nhà ông là một ngôi nhà lợp ngói như ở nông thôn không lấy gì to tát lắm. Ngay từ ngoài ngõ tôi đã nhìn thấy những ngôi nhà lợp tôn và tôi đoán đó là nơi dùng để sản xuất nấm.
          - Được được mời chú vô nhà! - Ông Quỳnh đon đả.
         
- Mời chú uống nước! - Tiếp lời ông Quỳnh là một phụ nữ từ trong nhà đi ra nói giọng Bắc đáp lại lời "chào o" của tôi.
         
Ông Quỳnh năm nay 68 tuổi dáng người thấp nhỏ nhưng nhanh nhẹn tháo vát tựa như  "cụ Sóng vò lúa" một lão nông Bắc bộ trong tác phẩm của nhà văn Tô Hoài. Mái tóc ông đã điểm bạc nhưng nụ cười thì lúc nào cũng trẻ trung trên gương mặt. Người phụ nữ nói giọng Bắc là bà Nguyễn Thị Dần vợ ông. Bà Dần kém chồng mười tuổi và thực thà mà nói so với tuổi 58 của mình thì trông bà vẫn trẻ hơn rất nhiều. Bởi một phụ nữ quanh năm làm lụng vất vả như bà mà mái tóc vẫn đen vẫn dài và gương mặt bà trông vẫn hồng hào khỏe mạnh. Đặc biệt dù đã xa quê hương hơn ba mươi năm "theo chồng về xứ lạ"  bà Dần vẫn giữ được cho mình một giọng nói thật trong trẻo thật phổ thông thật "Hà Nội". Tất cả giọng nói êm ái trẻ trung của bà gương mặt hồng hào của bà rồi dáng dấp nhanh nhẹn của chồng bà như toát lên một vẻ trẻ trung khỏe khoắn một niềm tin đối với cuộc đời và một sự mãn nguyện đối với tất cả những gì là thành quả mà ông bà đã vất vả làm nên. Ngắm nhìn ông bà Quỳnh bên những giàn nấm Linh Chi giữa lòng Thành Cổ tôi bỗng sực nhớ đến những gì mà tôi biết về công dụng của nấm Linh Chi. Theo như vợ chồng ông Quỳnh cho biết thì giá bán hiện tại của Linh Chi là 600 ngàn đồng một kylôgam. Nhưng tôi biết đó chưa phải là giá cao nhất. Vì theo như lời cô bạn nhà báo cùng đi với tôi thì chỉ mới năm ngoái thôi vợ chồng cô ấy vừa mua một kylôgam Linh Chi với giá 700 ngàn đồng. Đó cũng chưa phải là giá tột đỉnh. Một anh bạn của tôi hiện công tác tại Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Linh cho biết là đã có lần anh ấy mua Linh Chi với giá một triệu đồng một kylôgam mà phải mua tận ngoài biên giới Việt - Trung.

          - Vợ chồng tôi bắt đầu làm nấm từ năm hai nghìn... - Kỹ sư Quỳnh bắt đầu câu chuyện của mình.
         
Ông kể rằng không phải ngẫu nhiên mà sáu bảy năm qua vợ chồng ông đã lăn xả vào nghề trồng nấm. Chuyện gì cũng có duyên cớ của nó. Và ông bắt đầu nói về cái ngày xa lắc xa lơ ấy. Cái ngày mà ông - một chàng trai Quảng Trị được may mắn gặp và xe duyên cùng với cô gái quê ở mãi tận Hưng Yên là bà Dần - vợ ông bây giờ. Hồi đó năm 1967 sau khi tốt nghiệp Đại học Nông nghiệp với tấm bằng kỹ sư nông - hóa ông được giữ lại Hà Nội công tác ở Bộ Nông nghiệp. Trong một lần đi công tác lên vùng Điện Biên - Lai Châu ông đã gặp bà. Bà Dần lúc ấy là một cô gái trẻ chưa đầy hai mươi tuổi mới từ quê lên công tác tại Văn phòng Tỉnh ủy Lai Châu. Qua vài lần gặp gỡ với kỹ sư Quỳnh người con gái xinh xắn quê Hưng Yên ấy đã đem lòng thương yêu chàng trai Quảng Trị hơn mình đến chục tuổi. Rồi họ tổ chức lễ cưới thành vợ thành chồng sinh con đẻ cái. Năm 1975 miền Nam giải phóng ông bà bồng bế con cái vào ngay Quảng Trị dựng lên một gian nhà nhỏ ngay giữa lòng Thành Cổ đổ nát   hoang tàn. Ông công tác ở Phòng Nông nghiệp bà công tác ở Phòng Lương thực cùng huyện. Rồi họ cùng nghỉ hưu trở về với cuộc sống đời thường.

          - Về nghỉ hưu được gần chục năm tôi mới nghĩ đến chuyện trồng nấm. - Ông Quỳnh lại tiếp tục câu chuyện. - Ngày ấy tuy mang tiếng là nghỉ hưu cả hai vợ chồng nhưng đồng lương nào có là bao. Tôi có bốn đứa con ăn học lại sống giữa thị xã không buôn bán gì nên cuộc sống rất chật vật. Nhưng đó cũng chưa phải là lý do khiến tôi trồng nấm.  Mà lý do chính là đi nơi này chỗ kia từ thành thị về nông thôn đâu đâu tôi cũng thấy người ta thải ra quá nhiều rác rưởi làm ô nhiễm môi trường trong đó có một khối lượng mạt cưa khổng lồ từ các xí nghiệp các cơ sở chế biến gỗ. Đọc báo xem tivi tôi thấy ở nhiều nơi người ta đã biết tận dụng các loại rác thải để tái chế hoặc sử dụng làm việc có ích. Là một kỹ sư nông nghiệp tôi thấy mình phải làm gì đây trước những gì mắt thấy tai nghe. Và thế là tôi quyết định học nghề trồng nấm...(Còn nữa)

                                                                                                                                           N.N.C

LINH CHI LÀ LOẠI NẤM TỐT NHẤT HIỆN NAY

More...

CHÀO NĂM 2010 - NGHĨ VỀ MẸ - NNC

By NGUYỄN NGỌC CHIẾN


CHÀO NĂM 2010

 

 

 

            CHÚC MỪNG NĂM MỚI - 2010

         

          Nhân dịp đón chào năm mới 2010 và sắp sửa mừng Xuân Canh Dần vui Tết cổ truyền tôi xin gửi tới các chị các anh các bạn và các em - những chủ nhân trên vnweblogs - lời chào trân trọng và những tình cảm thân thương quý mến nhất. Chúc các chị các anh các bạn và các em luôn luôn mạnh khỏe ai ai cũng thành đạt hơn nữa trong mọi lĩnh vực của cuộc sống và công việc! Chúc cho sân chơi của chúng ta ngày càng trí tuệ bổ ích hấp dẫn ngày càng thân thiết trên tinh thần giao lưu dựng xây chân thành và cởi mở!

Nguyễn Ngọc Chiến

NGHĨ VỀ MẸ

Tùy bút


          Mẹ ơi!
         
Con không biết làm thơ
         
Những vần thơ thật hay
         
Những vần thơ tầng tầng ý nghĩa
         
Những vần thơ đúng nghĩa là thơ
         
Như các nhà thơ
         
Như các bạn thơ của con
         
Để nói lên nỗi lòng con
         
Tròn một năm con không còn mẹ trên đời.
         
Hôm này ngồi nhớ mẹ
         
Con viết bài thơ này
         
Những vần thơ chân chất mộc mạc
         
Những vần thơ như lời ăn tiếng nói của mẹ khi còn.
         
Mẹ ơi!
         
Đời mẹ nhiều cay đắng
         
Quá nửa cuộc đời góa bụa nuôi con...

          Cách đây hơn ba tháng tôi đã làm bài thơ trên để dâng lên mẹ tôi nhân một năm ngày mẹ tôi qua đời. Bài thơ mới chỉ làm được từng ấy câu thì bỏ dở. Và từ ấy đến nay bài thơ ấy tôi vẫn không thể làm thêm được một câu nào. Tôi hiểu nỗi đau mất mẹ là nỗi đau lớn nhất trên đời của tất cả mọi người con. Và càng hiểu thêm một chân lý thật giản dị nhưng cũng thật đau xót đó là trên đời này mất cái gì thì ta còn có thể tìm lại được nhưng mất mẹ thì vĩnh viễn không bao giờ ta còn có mẹ nữa.
         
Mẹ là kết tinh tất cả những gì tốt đẹp nhất trên đời này!
         
Mẹ là nguồn cội là tình yêu là sức mạnh là trái đất là bầu trời là vầng trăng là những vì sao tinh tú. Mẹ là nước nguồn bốn mùa chắt chiu từ lòng đất thành suối thành sông thành biển. Mẹ là những hạt sương khuya và cũng là mây là gió là nắng. Mẹ là bốn mùa xuân hạ thu đông. Lòng mẹ rộng lớn bao la như đại dương mênh mông như vũ trụ...
         
Không ai có thể nói hết được về mẹ!
         
Không một từ ngữ nào hay hơn tiếng mẹ ta thầm gọi trong suốt cuộc đời!
          Khi năm cũ đi qua và năm mới đến lòng ta bỗng rạo rực bâng khuâng. Riêng với tôi thật tình là trong rất nhiều những cảm xúc dập dồn ùa đến trong cái thời khắc giao mùa giữa năm cũ và năm mới này tôi luôn dành những tình cảm thân thương quý trọng nhất cho cho các mẹ những người mẹ kính yêu của chúng ta. Bởi cứ mỗi dịp năm cũ đi qua năm mới đến mẹ lại già thêm một tuổi. Lưng mẹ thêm còng xuống mái tóc mẹ thêm bạc trắng màu nắng mưa sương gió.

               Ai cũng thấy xốn xang khi một năm cũ đi qua và một năm mới đến nhưng với các mẹ lòng mẹ lại bồi hồi như còn vẳng nghe đâu đây giọng nói thân thương của những đứa con yêu dấu của mẹ. Năm mới đem đến cho mọi người niềm vui nhưng với các mẹ khi năm cũ qua và năm mới đến mẹ lại cảm thấy buồn bã trống vắng khi các con mẹ lần lượt lên đường.
         
Đất nước trải qua hai mươi năm chiến tranh với biết bao mất mát hy sinh và biết bao thương nhớ đợi chờ. Nhưng thử hỏi có sự mất mát hy sinh nào sự mong mỏi đợi chờ nào lớn hơn ở các mẹ?
         
Mùa xuân năm một chín bảy lăm cả nước hát khúc hải hoàn ca khi non sông đất nước liền một dải cũng chính thời khắc ấy mẹ bàng hoàng nghe tin các con mẹ nhiều đứa không trở về. Các con của mẹ đã nằm lại đâu đó trên mảnh đất vừa xua tan bóng giặc.
         
Hơn ba mươi năm sau ngày chiến tranh kết thúc đất nước đã đổi thay. Vết thương đã liền sẹo trên da thịt người chiến sỹ. Vết tích của chiến tranh trên quê hương xứ sở cũng đã lùi dần vào dĩ vãng...
         
Ta bước chân sang sông đôi miền Nam - Bắc trên cây cầu mới mà gợi nhớ bóng mẹ năm nào âm thầm lặng lẽ với từng đường kim mũi chỉ vá cờ Tổ quốc. Ta lại càng chạnh lòng nhớ tới bao bà mẹ sớm nắng chiều mưa đôi bàn chân run rẩy trên những nhịp cầu tre lắt lẻo hay những con đường gập ghềnh lầy lội.

          Bây giờ những cây cầu đã được xây dựng lại vững chãi những con đường đã được mở rộng thênh thang vươn tới tận những bản làng hẻo lánh xa xôi tới cả những miền quê bốn mùa cát trắng.
         
Ta nghe rộn rã khắp nơi âm thanh của những công trình mới ánh điện toả sáng lung linh trong những ngôi nhà cao tầng trong hương sắc mùa thu bốn mùa quả ngọt.
         
Ta có những cánh đồng ăm ắp mùa vàng năm tấn những rừng cao su những vườn hồ tiêu trải dài tít tắp. Nơi ấy ta đã lớn khôn ra đi đánh giặc dựng xây từ hạt gạo quê nhà thấm đẫm bao mồ hôi đêm ngày của mẹ.
          Ta sống trên quê hương đổi mới mà thương các mẹ hôm nào bữa đói bữa no dành dụm chắt chiu nuôi ta khôn lớn nên người. Ta không còn phải lo hạt gạo manh quần tấm áo như những năm nào bởi cuộc sống hôm nay đã đổi thay nhiều rồi. Ta còn có sức bật để vươn lên những tầm cao mới.
         
Chào năm cũ qua đón năm mới đến ngắm các mẹ trong rạng ngời hạnh phúc mà tưởng như quên những ngày đau khổ đã qua. Ta chợt hiểu bao mất mát đớn đau các mẹ đã chôn sâu tận đáy lòng để hướng về phía trước hướng về hôm nay.
         
Chào năm cũ qua đón năm mới đến mừng tuổi các mẹ ta mong các mẹ sống vui khỏe để dõi trông và khích lệ đàn con vững bước. Năm mới đến ta hãy hái những bông hoa tươi thắm và tỏa ngát hương thơm dâng tặng những người mẹ kính yêu của chúng ta!

N.N.C

        

More...

CHỢ QUÊ - NNC

By NGUYỄN NGỌC CHIẾN

Nguyễn Ngọc Chiến


CHỢ QUÊ


Ghi chép

        

              Không hiểu vì sao mà tên chợ đi từ Nam ra Bắc tôi thường thấy tên nó chỉ một chữ ví như chợ Cầu chợ Bầu chợ Rồng chợ Sàng chợ Huyện chợ Mai chợ Hôm...Chắc người ta đặt tên chợ như vậy cho dễ nhớ chứ thực ra nó chẳng gắn gì với địa danh ở những nơi đó cả. Trường hợp cái chợ có tên là chợ Do ở quê tôi cũng thế.
          Chợ Do lớn thứ nhì ở huyện Vĩnh Linh sau một cái chợ ở trung tâm huyện lỵ và là một trong những cái chợ thôn quê lớn nhất ở tỉnh Quảng Trị. Độ mười lăm hai mươi năm trước chợ Do chưa có tên trong lòng người Quảng Trị. Nó chỉ là một địa danh chìm lặng trong  chiến tranh tàn phá chưa kịp phục hồi trong đói nghèo dĩ vãng. Lụp xụp lèo tèo năm ba hang xén hàng vải vóc áo quần còn lại là hang khoai sắn rau quả...nhưng cũng không nhiều lắm. Chợ họp thì chóng vánh vội vàng chưa đi đã ngại chưa đến đã tan chậm chân một chút thì...ôi thôi cắp rổ về không. Thật quả là ngày ấy cuộc sống làng quê ở đây ra sao thì ngày ngày nó bày ra lồ lộ ở chợ thế ấy.


         
          Nay thì khác lắm rồi! Chợ đã được xây dựng lại khang trang rộng rãi hẳn ra người đông đúc hơn. Hàng hóa thì chả thiếu một thứ gì nhưng có lẽ sôi động nhất vẫn là hàng nông sản thủy sản...ngày ngày tấp nập đổ về bày bán la liệt. Chả thế mà có hai câu ca dao truyền tụng:
         
Chợ Do chợ của nhà quê
         
Chợ sắn chợ cá chợ chè chợ tiêu.
        
Cá thì chưa dám nói là nhiều nhất chứ sắn chè hạt tiêu...nhất là  hạt tiêu thì đố ai tìm ra một cái chợ nào ở Quảng Trị nhiều hơn. Đây là một đặc điểm riêng biệt mà không một chợ nào ở cả cái rẻo đất miền Trung này có được. Hồ tiêu ở chợ Do bày bán la liệt khi vào vào vụ thu hoạch và quanh năm không lúc nào vắng hạt hồ tiêu ở chợ. Người sản xuất hồ tiêu quanh vùng có thói quen là không bao giờ bán đổ bán tháo hạt hồ tiêu khi thu hoạch mà cứ thủng thẳng túc tắc khi vài yến vài cân thậm chí vài lon như kiểu...chọc thèm chơi! Và có một điều lạ lùng và cũng hết sức tế nhị gần như là "thiên vị" là "ưu tiên" cho loại đặc sản này. Ấy là nhà nông khi mang hồ tiêu ra chợ thì chưa ai phải mất công ngồi bán dù chỉ là một giây một phút nào. Là bởi vì ai cần bán bao nhiêu ít hay nhiều thì người mua đã chặn hỏi vồ vập ngả giá ngay từ ngoài cổng cả rồi.


         
          Đến đây xin được "khoe" một chút hãnh diện của chợ Do nhờ hồ tiêu ấy là khách thập phương kể cả các ông tây bà đầm mỗi khi về bãi tắm Cửa Tùng hay địa đạo Vĩnh Mốc thường vẫn không quên ghé vô chợ Do mua ít ký hồ tiêu làm quà cho gia đình bè bạn...coi như là một chút đặc sản của miền đất đỏ Vĩnh Linh - Quảng Trị.
         
Chẳng biết cây chè xanh ở Vĩnh Linh ngày ngày bày bán ở chợ Do có tất cả bao nhiêu loại khi nấu uống thì thơm ngon đậm nhạt thế nào mà người nghiện chè khắp các vùng quê Quảng Trị lại "mách" cho các cô các chị buôn chè là phải chọn cho được giống chè xanh Vĩnh Linh.
         
Tìm hiểu kỹ mới hay chè xanh ở Vĩnh Linh cũng có khá nhiều loại chè Hà Giang chè Phú Thọ chè Thái Nguyên chè Nghệ An...Mấy giống chè này không hiểu do đâu mà lại "lạc" từ phía bắc vào tận đây rồi sinh tồn phát triển cho tới ngày nay. Đặc điểm của các loại chè này là lá to mỏng ra ngọn non quanh năm khi nấu uống chỉ một nước là hết chát hết mùi vị lại chóng thiu. Cây chè xanh Vĩnh Linh mới thực sự hợp khẩu vị người nghiện chè. Giống chè xanh Vĩnh Linh tuy lá nhỏ nhưng dày và khi nấu uống thường nước thứ hai thứ ba vẫn còn chát còn thơm và lại có vị ngọt đậm đà chứ không đắng như mấy loại chè kia. Trên đường 70 đường Một...cứ sáng sang ra là y như rằng mấy cái xe đi Huế đi Đông Hà...bao giờ cũng được chất ngồn ngộn trên nốc chè xanh từ chợ Do từ Vĩnh Linh.


         
          Trước đây nhà nông quanh vùng muốn mua lưỡi cày yến phân u rê cái soong hay mảnh vải tốt...thường phải lặn lội vào tận Đông Hà hay gần chi cũng phải Hồ Xá mới sắm nổi. Nay thì thả sức mua sắm ngay tại chợ Do. Hàng nội hàng ngoại hàng to tiền hàng nhỏ tiền hàng trả ngay hàng trả góp...có thể nói không thiếu một thứ gì. Thật quả là vui lòng người bán vừa long người mua. Thì điều kiện kinh tế đã thay đổi cuộc sống của nhà nông đã khá lên rồi! Mức tiêu dùng từ cái ăn cái mặc đến tiện nghi sinh hoạt phương tiện sản xuất...ngày càng đòi hỏi cao hơn.
          Chợ quê gắn bó với nhà nông như hình với bóng ấy là tiêu thụ mặt hàng sản xuất ra và đáp ứng mặt hàng cần mua sắm lại. Nghĩa là quy luật cung - cầu không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày. Chợ quê giữa thời mở cửa giúp không ít nhà nông "hái" ra tiền để trở thành những "ông chủ" "bà chủ" ngấp nghé cuộc sống giàu sang phú quý. Và chợ quê cũng góp phần "xóa đói giảm nghèo" cho nhà nông ấy là ngày ngày hàng bao lượt hộ nghèo tận dụng chút thời gian rảnh rỗi mở ra buôn bán nhỏ tăng thu nhập.

          Mai này ai về bãi tắm Cửa Tùng lộng gió nhớ ghé qua chợ Do ăn một đĩa bánh sắn bột lộc nhân tôm cay xé lưỡi hạt hồ tiêu rồi uống một bát nước chè xanh từ tay chị chủ quán chát...quẹo miệng trước khi để Cửa Tùng dội sóng lên da thịt một ngày thư dãn với đất trời....                                                                                                                                                   N.N.C




More...