ĐÊM - MIỀN BIÊN ẢI - NNC

By NGUYỄN NGỌC CHIẾN

 

NGUYỄN NGỌC CHIẾN

Đêm - miền biên ải

TRUYỆN NGẮN

        

         Tiệc rượi kéo dài tới mười một giờ khuya vẫn chưa kết thúc. Năm Tuấn ngồi ở mũi thuyền ngắm nhìn những khuôn mặt xung quanh qua ánh sáng nhợt nhạt hắt ra từ một ngọn nến lớn. Sông Hậu về đêm nơi tiếp giáp với đất bạn Campuchia phong cảnh thật thanh bình yên ả. Có lẽ chỉ có tiếng gió lao xao trên ngọn cây ven bờ và tiếng sóng dập dìu eo óc dưới mạn thuyền lúc này là những thứ âm thanh nghe rõ hơn tất cả. Một phần vì phải ngồi ôtô trên một chặng đường ngót nghét cả nghìn cây số để vào đây một phần vì chất men đã bắt đầu ngấm sâu vào lục phủ ngũ tạng nên Năm Tuấn đã cảm thấy rất mệt. Nhưng chả nhẽ chỉ vì thế mà đánh bài chuồn bỏ dở một cuộc vui người ta tổ chức ra chỉ là vì mừng cho mình một cựu chiến binh vào thăm lại chiến trường xưa. Thôi thì hãy cố gắng ngồi lại một lúc nữa với những con người tốt bụng để vừa nhâm nhi vừa trò chuyện. Năm Tuấn tự đặt ra cho mình một điều kiện là phải uống vừa phải nói vừa phải để luôn luôn giữ cho mình một tâm trí tỉnh táo một phong độ chững chạc.

         Một người nữa vừa bước xuống thuyền. Đó là một người đàn ông trạc độ năm lăm tuổi. Ông ta chào chung tất cả mọi người một câu rồi ngồi xuống khoang thuyền hai chân xếp bằng lại mặt hướng về Năm Tuấn. Thái độ của ông ta có vẻ rất tự tin. Sau khi đã uống cạn ly rượu từ tay chủ nhà trao ông ta mới nhìn chằm chằm vào mặt Năm Tuấn lên tiếng: "Hồi chiều tui có nghe nói anh vừa ở quê vô nhưng vì bận công việc giờ mới tới thăm anh được. Chà trông anh chẳng khác xưa là mấy. Ta uống với nhau một ly mừng cho cuộc gặp gỡ này nhé!". Nói rồi người đàn ông nâng ly rượu lên hướng về phía Năm Tuấn. Năm Tuấn cũng không ngần ngại nâng ly rượu lên hướng về phía ông ta. Mọi cặp mắt đổ dồn về phía anh. Hai người chạm ly. Chạm xong người đàn ông ngửa cổ uống ực một cái. Còn Năm Tuấn anh vẫn giữ nguyên ly rượu trong tay. Sở dĩ anh chưa uống vì anh chưa nhớ ra người đàn ông này là ai. Thật lạ! Trong số những người có mặt hôm nay dù thời gian đã lùi lại phía sau khá xa; dù tuổi tác nét mặt của mỗi người đã thay đổi đi ít nhiều ấy thế mà khi gặp lại họ anh đều nhận ra tất cả. Còn riêng với người này sao nghĩ mãi Năm Tuấn vẫn không thể nhớ ra. Hay ông ta đã nhầm anh với một người nào đó? "Tui là Đỏm Hai Đỏm đây! - Người đàn ông lại lên tiếng. - Còn anh anh là Năm Tuấn đúng không? Anh còn nhớ cách đây mấy mươi năm trước tại bờ sông Bình Di...". Người đàn ông nói đến đó thì dừng lại không nói nữa. Còn Năm Tuấn chỉ trong một tích tắc sau khi người đàn ông tự giới thiệu tên mình anh cũng đã nhớ ra ông ta là ai và đã gặp ông ta trong hoàn cảnh nào. "Anh thấy nơi này giờ khác xưa nhiều không?". Người có tên là Đỏm lại lên tiếng. Năm Tuấn không trả lời anh ta mà chỉ khẽ gật đầu. Cái gật đầu như muốn nói rằng tất cả đã thay đổi cả anh cũng thay đổi cả tôi cũng thay đổi. Thay đổi rất nhiều so với ngày ấy.

         Tiệc rượu càng về khuya càng trở nên rôm rả. Đã lâu lắm rồi Năm Tuấn mới được sống lại cái không khí ồn ào náo nhiệt nơi vùng biên cương sông nước này cùng cái tư chất phóng khoáng chơi hết mình của người dân Nam Bộ mà anh từng một thời nếm trải. Chỉ có khác là hồi đó những người có mặt hôm nay từ anh Năm Bủng đến Hai Đỏm...và cả anh nữa đều còn đang rất trẻ. Nay ai cũng lù xù đầu hai thứ tóc. Mặt mũi thì chân chim chân gà chồng chéo ngang dọc. Chả trách cả chủ lẫn khách gặp nhau mà chả nhận ra nhau. Được cái tửu lượng thì ai cũng dồi dào hăng hái còn hơn cả thời trai trẻ. Hết ly này tới ly khác hết chai này tới chai khác mà cuộc vui vẫn chưa chịu tàn. Năm Tuấn đã thực sự thấm mệt nên cũng chỉ nâng lên hạ xuống cái ly cho phải phép. Anh nhâm nhi lát xoài tươi vằm nhỏ dầm nước mắm ngồi nghe Năm Bủng ca vọng cổ đợi giải tán rồi lăn ra khoang thuyền ngủ lúc nào không hay. Tỉnh lại mới biết là mọi người đã ra về từ lúc nào. Chỉ còn lại anh và gia đình người chủ thuyền. Họ móc mùng lót gối đắp mền cho anh lúc nào anh cũng chả biết. Thế mới biết ngấm rượu là ngủ say như chết ngủ như không còn biết trời đất là gì. Nhưng tỉnh rượu mới là điều lạ lùng. Tỉnh vô cùng tỉnh không thể nào ngủ lại được nữa. Chả biết người khác có vậy không chớ Năm Tuấn thì chịu. Cả lúc này cũng vậy dù đầu óc vẫn quay cuồng nôn nao dù con thuyền đang tròng trành lắc lư êm ái anh vẫn không sao ngủ lại được nữa. Thiệt giống hệt cái đêm cách đây mấy mươi năm trước. Năm Tuấn bỗng nhớ tới Hai Đỏm và câu nói nửa chừng của anh ta. Anh biết Hai Đỏm nhắc tên con sông ấy không phải chỉ để Năm Tuấn nhận ra anh ta mà cái chính là muốn Năm Tuấn nhớ tới một chuyện xảy ra đã lâu. Mà chuyện ấy thì có lẽ cả anh và Hai Đỏm không ai là không nhớ.

         ...Những ngày gần cuối năm bảy lăm lúc miền Nam vừa mới giải phóng và biên giới Việt Nam - Campuchia đang thực sự trở nên nóng bỏng bởi cuộc chiến tranh do bè lũ Pônpốt gây ra. Trong một đêm giữa cái lán dã chiến nơi vùng biên ải sau một ngày cùng đồng đội chống trả quyết liệt với các đợt tấn công của địch đã rất khuya mà Năm Tuấn vẫn không sao ngủ được. Anh cứ trằn trọc thao thức hết trở mình bên này lại lật mình sang bên kia bởi một câu hỏi cứ lặp đi lặp lại trong đầu. Vì sao những quả đạn pháo của bọn Pônpốt từ tít tận bên kia biên giới bắn sang lại rơi rất chính xác vào trận địa chốt của bộ đội ta? Bọn này dù có tài cán gì cũng không thể bắn trúng mục tiêu một cách tuyệt đối như vậy được. Phải chăng có ai đó sống trong khu vực biên phòng này đã làm gián điệp điều chỉnh pháo cho chúng? Sau một hồi suy nghĩ Năm Tuấn cho rằng đây không còn là một câu hỏi hay đơn thuần chỉ là một mối nghi ngờ nữa mà đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng cần nghiêm túc điều tra làm rõ. Chắc chắn có ai đó đã làm việc này! Năm Tuấn khẳng định lại một lần nữa. Nhưng kẻ đó là ai ở đâu thì tất cả vẫn chỉ là bóng đêm bao phủ trước mắt anh. Năm Tuấn cố vắt óc ra để suy nghĩ tìm tòi. Vậy rồi anh nghĩ tới một người. Đó là người đàn ông vừa vượt biên từ Campuchia trở về Việt Nam cách đây không lâu. Các chiến sỹ biên phòng đã bắt được anh ta trong một đêm tuần tra biên giới. Anh ta trạc độ ba mươi tuổi. Mặt mày thì phờ phạc hốc hác; áo quần thì rách nát bẩn thỉu. Người đàn ông tự khai tên là Cang Việt kiều ở Campuchia. Anh ta nói rằng anh ta theo gia đình sang bên ấy sinh sống từ trước năm bảy lăm. Nay ở Campuchia bọn Pônpốt đang thi hành chính sách diệt chủng tàn sát đẫm máu đồng bào Khơme và Việt kiều ta. Anh ta sợ quá nên tìm cách trốn về nước. Năm Tuấn tự hỏi liệu Cang trở về Việt Nam có đúng như anh ta khai không hay nhằm mục đích gì khác? Có thể những điều anh ta nói chỉ là dối trá để nhằm che đậy con người thật của anh ta chăng? Cả đêm ấy Năm Tuấn đã gần như thức trắng cho đến sáng. Lúc nào trước mắt anh cũng hiện lên hình bóng Cang với khuôn mặt phờ phạc và bộ quần áo rách nát.

         "Ai chớ Tư Cang thì tụi tui có lạ chi! Anh muốn biết về ảnh hả? Được thôi!". Năm Bủng một người dân cùng ấp với Cang nói với Năm Tuấn rồi kể về Cang cho anh nghe. Tư Cang tên thật là Xixănđon. Cha anh ta là người Khơme mẹ là người Việt Nam. Hồi chế độ cũ Tư Cang rất nổi tiếng với nghề đâm thuê chém mướn kiếm tiền. Cha Cang trong một lần rượu chè quá chén đã lỡ tay đánh chết vợ. Cang thù cha rồi từ mặt cha cắt đứt tình máu mủ. Anh ta thương mẹ nên đặt tên mình theo tiếng Việt và lấy họ mẹ. Trước bảy lăm không lâu anh ta rời Việt Nam sang Campuchia sinh sống. Trong kháng chiến kiều bào ta đã đoàn kết với nhân dân Campuchia chống lại kẻ thù chung thì Cang trái lại có cảm tình với địch. Cứ dăm bữa nửa tháng anh ta lại đi Nôngpênh Xoàiriêng Xiêmriệp hay Côngpôngxưpư...một chuyến. Mục đích của những chuyến đi không ai rõ chỉ biết rằng sau mỗi lần trở về Cang lại sống rất xa hoa tiêu xài xả láng có vẻ như rất sẵn tiền. Thường xuyên lui tới nhà Cang là những người xa lạ chẳng ai biết ở đâu làm gì. Tình cảm giữa kiều bào ta với Cang phai nhạt dần không còn qua lại đùm bọc giúp đỡ nhau như trước nữa. Năm bảy lăm Pônpốt lên cầm quyền thẳng tay tàn sát đồng bào Campuchia đàn áp xua đuổi Việt kiều ta về nước và gây ra cuộc chiến tranh biên giới giữa hai nước. Riêng Cang bị chúng bắt đưa đi đâu một thời gian rồi thả về. Năm Tuấn tự hỏi phải chăng Cang đã bị bọn phản động dụ dỗ mua chuộc và bây giờ chúng cho Cang về nước để thực hiện những âm mưu đen tối của chúng?

         Con thuyền bỗng lắc mạnh một cái rồi nghiêng về một bên như có ai vừa bước lên. Năm Tuấn ngồi bật dậy nhìn ra. Đúng thế thật có một người đang đi trên tấm ván gác từ bờ ra thuyền. Qua ánh sáng nhờn nhợt anh nhận ra người đang đi xuống là Hai Đỏm. Tại sao Hai Đỏm lại đến đây vào giờ này? Năm Tuấn đang phân vân nghĩ ngợi thì Hai Đỏm đã nhảy phóc lên thuyền đứng như pho tượng trước mặt anh. Tay Hai Đỏm cầm một con dao dài sáng loáng. Như có linh tính mách bảo điều chẳng lành Năm Tuấn lùi lại phía sau. Tim anh đập rộn lên như muốn vỡ tung lồng ngực. Anh loay hoay tìm một cái gì đó nhưng không có và cũng không kịp nữa rồi. Bỗng có tiếng cười xòa: "Tìm chi vậy anh Hai?". Hai Đỏm hỏi rồi ngồi xuống khoang thuyền gác con dao lên hai đầu gối. Năm Tuấn nhìn Hai Đỏm ậm ự trong cổ không biết trả lời sao. "Bộ lạ nhà không ngủ được hay sao hả anh Năm? Tui đi coi đìa ngang qua nhòm vô thấy anh cứ trở mình trở mẩy hoài nên ghé lại định rủ anh qua nhà lai rai vài xị cho đỡ buồn". Thật hú vía! Thế mà ngỡ thằng cha này đêm hôm mò xuống đây để trả thù chuyện năm xưa. Hai Đỏm nói tiếp: "Đã mất công từ ngoài ấy vô thì cũng nên đi đây đi đó một lát cho vui...". "Nhất định tôi sẽ ghé thăm anh chị và các cháu. Ta đợi đến sáng đi anh!". Năm Tuấn nói. "Vậy cũng được! Thôi anh cố ngủ đi một lúc tui đi đây!". Hai Đỏm chào Năm Tuấn rồi bước về phía mui thuyền. Nhoáng một cái bóng anh ta đã mất hút trong màn đêm.

           Càng về khuya gió trên sông Hậu càng lồng lộng con thuyền càng lắc lư mạnh hơn. Năm Tuấn không tài nào ngủ lại được nữa. Anh cố làm mọi cách vẫn không sao ngủ được. Kể từ lúc gặp Hai Đỏm tâm trí anh như lúc nào cũng dồn hết về anh ta. Rồi cả hình bóng Tư Cang một con người đầy mưu mô quỷ quyệt của mấy mươi năm trước cứ lởn vởn trước mắt anh. Năm Tuấn nhớ tới ngày ấy ngày mà anh cùng đồng đội quyết ra tay để vạch trần cho bằng được con người thật của Tư Cang và đồng bọn trong đó có Hai Đỏm một tay chân đắc lực của hắn.

         Hôm ấy là một ngày bình lặng không gian im ắng tưởng như chẳng có chuyện gì xảy ra. Không có tiếng súng. Không có cảnh chết chóc. Không có những trận tấn công hay nã pháo của cả hai bên. Tất cả im ắng đến đáng sợ. Đó đây trên bầu trời trong xanh đã lại thấy thấp thoáng những cánh chim bay lượn. Sang đến ngày thứ hai thứ ba cũng vậy. Thế rồi bước sang ngày thứ tư mới sáng sớm tinh mơ từ bên kia biên giới bỗng rộ lên lên một loạt tiếng nổ đầu nòng. Sau đó là tiếng gió rít như xé vải trên đầu và một loạt tiếng nổ của các loại pháo cối. Mặt đất ầm ầm rung chuyển. Tiếng nổ càng lúc càng dày đặc càng lúc càng dập dồn. Cả một vùng biên cương chìm ngập trong khói lửa.

         Đang trên đường làm nhiệm vụ thì Năm Tuấn gặp pháo. Tiếng nổ như vây lấy anh. Năm Tuấn phải tạm lánh vào căn hầm bên đường. Chợt nghĩ sao anh nhảy ra khỏi nơi ẩn nấp rồi cứ thế lao mình băng băng trên đường. Khói lửa trùm lấy anh. Mảnh đạn bay vèo vèo quanh anh. Mặc! Năm Tuấn như không còn hay biết gì nữa không còn lo sợ gì nữa. Điều anh nghĩ đến lúc này là phải bằng mọi giá đến được nhà Tư Cang. Phải đến ngay bây giờ. Phải đến ngay trong lúc pháo cối của địch chưa kịp dừng lại. Nghĩ thế và anh vẫn băng băng trên đường. Một quả pháo nổ gần làm anh bị thương nhẹ ở tay. Năm Tuấn giữ chặt lấy vết thương và vẫn không dừng lại. Nhưng khi anh đến được nhà Tư Cang thì pháo địch đã thôi bắn. Ngôi nhà vắng vẻ cửa đóng kín. Phải một lúc Năm Tuấn mới thấy Tư Cang từ đâu đó chạy về. Mặt mũi anh ta mồ hôi mồ kê nhễ nhại áo quần lấm bê bết bùn đất. Nhìn điệu bộ của Tư Cang Năm Tuấn thấy anh ta có vẻ rất lúng túng. Để tránh sự ngờ vực Năm Tuấn vội lên tiếng nói với Tư Cang rằng mình đang trên đường đi công tác thì trúng mảnh pháo phải vào đây xin mảnh vải để băng vết thương. Một phút chần chừ rồi Tư Cang cũng nhanh nhanh vào nhà lấy bông băng ra băng vết thương cho Năm Tuấn. Trong lúc Tư Cang lúi húi băng vết thương Năm Tuấn đã tình cờ nhìn thấy ở túi quần sau của anh ta có dắt một khẩu súng ngắn loại col45 của Mỹ.

         Vậy là rõ. Từ những thu thập về nhân thân kết hợp với những gì vừa thấy Năm Tuấn đã có đủ cơ sở để khẳng định về con người thật của Tư Cang. Hắn chính là một tên gián điệp đã được tung về nước để hoạt động chống phá ta. Việc bắt giữ hắn có thể được tiến hành bất cứ lúc nào bởi lúc này hắn đã như con cá trong chậu. Điều quan trọng là cần tiếp tục điều tra để biết xem ngoài hắn ra còn có bọn tay chân nào nữa không? Và ngoài hoạt động điều chỉnh pháo bọn chúng còn làm những gì? Năm Tuấn báo cáo tình hình lên cấp trên và một chuyên án được thành lập. Chẳng bao lâu chân tướng phản dân hại nước của Cang đã dần dần lộ ra. Một lũ đàn em thân tín do Cang dụ dỗ mua chuộc đi theo hắn cũng dần dần lộ ra.

         Tư Cang được bọn quan thầy của chế độ Pônpốt và ngụy quyền Sài Gòn sống lưu vong cho trở về Việt Nam với hai mục đích là làm chỉ điểm điều chỉnh pháo và chắp nối với bọn phản cách mạng trong vùng. Cả hai việc được Cang song song thực hiện. Hắn đã trực tiếp nhiều lần dùng bộ đàm gọi pháo cối bắn vào các điểm chốt của bộ đội ta. Đồng thời hắn cũng đã dò la móc nối được với một số phần tử xấu để sai khiến. Bọn này chủ yếu là các sỹ quan binh lính của chế độ cũ hiện đang sinh sống tại các xã dọc biên giới. Do mặc cảm với quá khứ lại chưa hòa nhập với cuộc sống hiện tại nên khi được Cang ngon ngọt dụ dỗ chúng đã tỏ ra rất hăng hái. Trong số này phải kể đến Bảy Hàm và Hai Đỏm. Hàm và Đỏm trước đây từng là thủy quân lục chiến trong quân đội Sài Gòn. Từng nhiều năm theo đơn vị đóng quân ở khu vực biên giới nên rất thông thạo tình hình ở đây. Cả hai được Cang giao nhiệm vụ lôi kéo những thanh niên chậm tiến những kẻ chán đời ra nhập tổ chức Tuổi Xanh đợi dịp sẽ nổi dậy chống phá cách mạng và gây rối trật tự trị an. Hàm và Đỏm đã tỏ ra khá tích cực trong công việc được giao. Chúng được Cang tin cậy nên chi tiền cho ăn uống chơi bời thả cửa. "Các anh phải hết sức cố gắng để hoàn thành nhiệm vụ. Tôi sẽ có trách nhiệm theo dõi báo cáo lên cấp trên. Các ổng đã hứa là không tiếc bất cứ phần thưởng nào đối với chúng ta nếu chúng ta hoàn thành nhiệm vụ...". Trong một bữa rượu Tư Cang đã nói với Hàm và Đỏm như vậy. Bảy Hàm mừng rỡ khoe với Cang là hắn vừa rủ thêm đươc hai người ra nhập tổ chức Tuổi Xanh. Và hắn cũng không quên nhắc đến một người thứ ba mà hắn cho rằng người này cho đến nay vẫn đang lưỡng lự chần chừ chưa chịu nhận lời. Tư Cang nghe vậy thì gầm lên chửi rủa quát tháo một lúc rồi ngay đêm ấy hắn ra lệnh cho Hàm và Đỏm đi theo hắn.

         Đêm ấy trong một ngôi nhà sàn nhỏ nằm ven thị trấn biên giới gia đình Út Tam đã hoàn toàn yên tĩnh trong một buổi tối hạnh phúc. Chị vợ vừa mới chợp mắt và anh chồng thì còn đang thao thức bởi một điều khiến anh phải trằn trọc suy nghĩ. Mấy ngày nay anh chẳng còn tâm trí đâu mà làm việc. Không nghĩ đến thì thôi chứ nghĩ đến anh lại thấy lo lắng bất an mà không biết phải giãi bày cùng ai. Thì ra Tư Cang sau bao năm lang bạt xứ người nay trở về nước với mưu đồ đen tối. Tụi thằng Hàm thằng Đỏm đã theo Cang sa chân vào con đường tội lỗi nhúng tay vào việc xấu. Chúng nó trước đây từng là đồng ngũ với mình rồi khi giải phóng cùng đi học tập cải tạo cùng được tha bổng cho trở về làm ăn lương thiện. Sao chúng nỡ lòng quay ngoắt một trăm tám mươi độ tiếp tục dấn thân trở lại con đường xấu xa một thời ấy. Chúng lại còn rủ mình đi theo chúng với những hứa hẹn viễn vông nữa chớ! Mình không những không đồng ý mà còn phản đối quyết liệt. Nhất định chúng sẽ không để mình yên. Bằng cách này cách khác chúng sẽ gây khó dễ thậm chí trả thù mình. Mình phải làm gì đây? Không lẽ biết mà đành làm ngơ để tụi nó lọng hành tiếp tục gây tội ác. Thôi không suy nghĩ gì nữa. Ngay ngày mai phải tìm gặp các anh bộ đội biên phòng nói ra sự thật này. Nghĩ tới đó Út Tam ngủ thiếp đi.

         Bỗng có tiếng gõ cửa. Tiếng gõ dập dồn gấp gáp. Cả hai vợ chồng Út Tam cùng giật mình thức dậy. Chị vợ thì thầm vào tai chồng: "Đêm hôm khuya khoắt ai đến đây làm chi vậy? Anh ra coi thử!". Nghe lời vợ Út Tam lồm cồm ngồi dậy chui ra khỏi mùng rồi đi về phía cửa. Bên ngoài trăng sáng như ban ngày. Anh nghe có tiếng gọi tên anh. Út Tam nhận ra người gọi mình là Bảy Hàm nên bực bội nói: "Tui đã trả lời anh mấy lần rồi sao anh không để tui yên mà quấy rầy chi hoài vậy? Anh về đi khuya rồi để tui ngủ!". Bên ngoài vẫn tiếng Hàm van nài: "Thì tui đến đây đâu chỉ vì chuyện ấy...". Tuy chần chừ nhưng cuối cùng Út Tam cũng mở cửa thong thả bước xuống cầu thang. Như chỉ chờ có thế. Bên cạnh cửa Tư Cang nép sẵn vung dao giáng xuống. Út Tam chỉ kịp đưa hai tay lên đầu chới với một lúc rồi ngã gục xuống lăn từ trên cầu thang xuống đất không kêu được một tiếng. Trong nhà chị vợ hỏi to: "Anh Tam anh làm đổ cái gì vậy?". Rồi chị vùng dậy chạy ra ngoài sân. Qua ánh trăng vằng vặc chị thấy có mấy người vừa từ nhà chị bỏ chạy về phía biên giới. Và ở dưới đất chồng chị đang nằm im lìm bất động. Chị ôm lấy chồng lay gọi. Nhưng Út Tam đã chết!

         Vụ giết người ngay trong đêm đó được cơ sở phát hiện báo ngay cho Năm Tuấn. Nắm chắc tình hình là không ai khác ngoài Tư Cang và đồng bọn gây nên vụ án Năm Tuấn trình bày ý kiến với cấp trên và xin chỉ thị hành động. Kế hoạch được triển khai nhanh chóng và bí mật. Chỉ sau đó vài chục phút Bảy Hàm đã bị bắt ngay tại nhà hắn khi hắn vừa lững thững cầm con dao dính máu trở về. Cùng lúc ấy Hai Đỏm có việc đến nhà Hàm. Đỏm vừa đến đầu ngõ thì hoảng hốt bỏ chạy khi nắm được sự việc xảy ra. Hắn ba chân bốn cẳng phóng một mạch đến nhà Tư Cang. Cang nghe Đỏm trình bày thì bực bội gầm gừ: "Vậy là lộ hết rồi! Thôi nhanh nhanh thu xếp tẩu thoát!". Đỏm run rẩy: "Tôi...tôi có đi không?". "Chú mày muốn chết thì ở lại!". "Nhưng tôi không giết người". "Không giết người...- Cang cười gằn - Chỉ riêng việc chú mày tham gia vào tổ chức Tuổi Xanh cũng đủ để người ta treo cổ chú mày rồi". Thế là Hai Đỏm đành phải xin đi theo. Tư Cang lên đạn khẩu súng ngắn rồi cùng Hai Đỏm chạy đến một cái cầu sắt. Cang chui xuống gầm cầu lục trong đám cỏ khô lôi ra một cái máy PRC25 giao cho Đỏm. "Chú mày mang dùm tôi!". Nói xong Cang hùng hổ đi trước. Đỏm mặt mày ủ rủ theo sau. Cả hai hướng về phía biên giới. Khi đến bờ sông Bình Di con sông ranh giới giữa hai nước cả hai chuẩn bị lội xuống thì từ ba phía ánh đèn pin lóe sáng. Nhiều họng súng chĩa thẳng vào người chúng. Tiếp đó là một giọng hô dõng dạc: "Tất cả đứng im! Các anh đã bị bắt!". Tư Cang ngoan cố chụp lấy súng ở thắt lưng chĩa về phía trước. Nhưng hắn đã không kịp bóp cò. Cạnh đó Năm Tuấn đã lao tới giáng một cú đá vào người hắn. Tư Cang ngã sấp xuống làm khẩu súng trong tay văng về một bên. Riêng Hai Đỏm thì sợ quá khóc róng lên. Đêm ấy ta lần lượt quét sạch băng nhóm phản cách mạng do Tư Cang cầm đầu. Cái gọi là tổ chức Tuổi Xanh đã hoàn toàn bị xóa sổ...

         Lại một đêm nữa trôi qua nơi vùng sông nước miền tây. Cũng như đêm đầu tiên khi mới đến đây Năm Tuấn vẫn không sao dỗ được giấc ngủ. Anh cứ trằn trọc thao thức hoài. Chắc hẳn sau mấy mươi năm xa cách giờ trở lại nơi vùng biên cương gặp lại cảnh cũ người xưa với bao buồn vui kỷ niệm trong lòng anh có quá nhiều những bồi hồi cảm xúc. Hơn hai mươi năm đã trôi qua đất và người nơi miền biên ải này đã hoàn toàn đổi khác. Chẳng còn gì là dấu tích của một thời chiến tranh. Cuộc sống đang từng ngày đổi thay. Cảnh vật cũng trở nên tươi đẹp đáng yêu biết nhường nào. Anh mừng cho tất cả đồng đội và bạn bè cũ của anh. Mỗi người mỗi hoàn cảnh nhưng tất cả đều làm ăn phát đạt. Có người còn trở nên giàu có nhờ chí thú làm ăn. Anh mừng cả cho Hai Đỏm người một thời lầm đường lạc lối đứng ở bên kia chiến tuyến. Thật đúng là quả đất quay tròn! Không hẹn mà Năm Tuấn đã gặp lại Hai Đỏm. Suốt cả sáng nay anh đã dành trọn vẹn thời gian đến thăm nhà Hai Đỏm. Trong cuộc hội ngộ bất ngờ này cả hai đã gượng gạo ôn lại những kỷ niệm của một thời. Câu chuyện có lúc trở nên rời rạc buồn tẻ nhưng ai cũng muốn trút hết nỗi lòng mình. Năm Tuấn nhớ mãi câu nói của Hai Đỏm khi chia tay ra về: "Sau vụ ấy Tư Cang phải chịu án tử hình. Tôi và những người khác thì chịu mức án từ năm năm cho tới hai mươi năm. Tôi đã sáng mắt ra rất nhiều sau lần vấp ngã ấy. Có lẽ hồi ấy do tuổi mình còn trẻ nên nông nổi không kịp nghĩ suy. Và bây giờ thì tôi đã có thể nói rằng chỉ có ai ngốc nghếch ngu si thì mới đi ngược lại con đường mà dân tộc đang đi...". Năm Tuấn đã rất ngạc nhiên và vui mừng khi được biết Hai Đỏm bây giờ đã là một triệu phú nuôi cá tra cá basa trên sông Hậu. Anh có tới hai bè nuôi cá mỗi vụ cho thu nhập hàng trăm triệu đồng từ hai loại cá có giá trị xuất khẩu này. Anh lại càng ngạc nhiên hơn khi nghe Hai Đỏm nói về Ba Đảm: "Anh ấy ra tù sau tôi ba năm nhưng nhờ chịu khó làm ăn nên bây giờ cũng có một vườn cây ăn quả vài trăm gốc cho thu nhập khá cao hàng năm. Anh ấy còn sắm cả máy cày máy gặt đập liên hoàn làm dịch vụ cho bà con trong vùng khi mùa màng thời vụ đến. Đặc biệt Ba Đảm có hai con một gái một trai học rất giỏi năm rồi cả hai đứa đều là thủ khoa của hai trường đại học trong kỳ thi tốt nghiệp ra trường...".

         Càng về khuya gió trên sông Hậu càng trở nên lồng lộng hơn phóng túng hơn. Con thuyền dập dềnh lắc lư nhè nhẹ như một cánh võng. Mảnh trăng cuối tháng giờ mới chịu ló mình ra khỏi đám mây. Bầu trời đang nhờ nhờ bỗng vụt sáng. Những con sóng lăn tăn chấp chới long lanh vô vàn những ánh sao khuya. Đêm biên cương vùng sông nước miền tây thật mênh mông sâu thẳm.
N.N.C

More...

HOA HẬU LÀNG - NNC

By NGUYỄN NGỌC CHIẾN

 

NGUYỄN NGỌC CHIẾN

Hoa hậu làng

TRUYỆN NGẮN

        

         Mấy ngày nay ở làng Cào cứ xôn xao về chuyện cô Tuệ Tâm bỏ nhà trốn đi đâu. Người ta xem đây là sự kiện lạ lùng hiếm có xảy ra nơi cái làng quê mà quanh năm suốt tháng chẳng bao giờ có chuyện gì khác ngoài chuyện làm ăn. Ở đâu cũng có người tụm năm tụm ba xì xào bàn tán. Người chê Tuệ Tâm thì nhiều mà kẻ xuýt xoa ra điều cảm thông với cô cũng không phải ít. Chắc hẳn người dân làng Cào phải ít nhiều hiểu được duyên cớ vì sao cô Tuệ Tâm bỏ nhà ra đi thì mới có hai luồng dư luận khen chê trái ngược nhau như vậy. Chứ không lẽ tự nhiên người ta lại đứng ra bảo vệ bênh vực cho một cô gái mới nứt mắt đã làm điều xằng bậy bất hiếu với mẹ cha. Đã đành chuyện gì cũng phải có căn nguyên nhưng nghĩ cho cùng làm con mà như thế thật quả đáng trách. Mà phải chi Tuệ Tâm là người thiếu hiểu biết gì cho cam. Đằng này cô ấy là con nhà nề nếp gia phong được học hành đến nơi đến chốn. Tính tình lại nết na thùy mị biết lễ phép kính trên nhường dưới trong làng ngoài xã không ai là không biết. Đã thế Tuệ Tâm lại xinh đẹp một vẻ đẹp dẫu chưa tới mức "nghiêng nước nghiêng thành" nhưng chỉ cần là con gái thôn quê mà có nhan sắc nhường ấy cũng đáng để được xếp vào hàng giai nhân tuyệt sắc. Nói không ngoa chứ chẳng riêng ở cái xó xỉn làng quê này mà ngay cả trong huyện trong tỉnh có đốt đuốc đi tìm mỏi mắt đã chắc gì tìm được cô gái nào sánh bằng. Chả thế mà ngay từ khi đang là học sinh trung học bạn bè đã ưu ái gọi cô là hoa hậu của trường. Rồi sau này không chỉ riêng dân làng Cào không chỉ riêng lớp trẻ choai choai nam thanh nữ tú trong làng mà ở cả các làng các xã lân cận mọi người ai cũng gọi Tuệ Tâm là "Hoa hậu làng". Một người con gái như thế không ngờ lại làm chuyện động trời khiến cho ai cũng lấy làm ngạc nhiên và cha mẹ phải phiền lòng.

         Nhưng chuyện gì rồi cũng thế dù to nhỏ lớn bé đến đâu nó cũng chỉ nóng hổi một lúc rồi nguội lạnh chìm dần vào sự quên lãng. Chuyện cô Tuệ Tâm cũng vậy theo thời gian rồi cũng chả còn mấy ai để ý đến nữa. Ai cũng chép miệng ôi dào chuyện nhà người ta chứ đâu phải chuyện nhà mình mà quan tâm cho mệt óc. Con dại cái mang hay dở gì thì cha mẹ phải chịu xưa nay vốn vậy rồi. Chỉ có ông bà Tú cha mẹ cô Tuệ Tâm là đau xót là chẳng thể nguôi ngoai được nỗi niềm thương nhớ con. Cả tháng qua ông bà lúc nào cũng buồn bã ủ rủ như tàu chuối khô. Ông thì còn đỡ chứ bà trông mới thiểu não thảm hại làm sao! Bà đã khóc ngày khóc đêm đã vật mình vật mẩy kêu trời gọi đất đến khản cổ. Khi không còn đủ nước mắt để khóc được nữa thì bà thở ngắn than dài kể lể với chồng đủ chuyện. Bà đổ mọi tội lỗi lên đầu ông cho rằng vì ông mà con gái bà bỏ nhà ra đi. Bà bắt ông phải đi tìm cho bằng được con gái về cho bà. Bà bỏ ăn nằm mê mệt mấy ngày mặc cho chồng và cô con gái đầu thay nhau an ủi dỗ dành bà cũng không thèm dậy. Mới hôm nào nhìn bà còn khỏe mạnh béo tốt như thế vậy mà mới chừng mươi bữa nửa tháng trông bà sút hẳn. Vẻ mặt bà xanh xao vàng vọt như người ốm mới khỏi. Suốt ngày bà chẳng nói chẳng rằng cứ ngồi im thinh thít ở bậu cửa nhìn ra. Có đêm đang ngủ bà bỗng hét toáng lên rồi bật khóc nức nở gọi con. Những lúc như thế ông Tú chỉ còn biết ôm lấy bà mà dỗ dành. Rồi hình như mủi lòng ông cũng rơm rớm nước mắt khóc theo vợ. Bà có biết đâu rằng ruột gan ông cũng như đang có muối xát. Bà có biết đâu rằng ông cũng đang chết cay chết đắng từ bữa đó tới nay. Làm cha ông cũng biết thương con chứ đâu đến nỗi lòng băng dạ đá như bà nghĩ. Ừ thì cứ cho Tuệ Tâm bỏ nhà ra đi là vì ông. Nhưng tại sao con gái ông nó lại không hiểu được lòng cha nó. Làm cha ai cũng có cái quyền được khuyên răn giảng giải cho con điều hay lẽ phải. Ai cũng mong con cái sau này có được cuộc sống sung sướng hạnh phúc. Lẽ ra nó phải biết vâng lời ông phục tùng ông. Vậy mà...nó đã làm điều ngược lại. Từ hôm nó bỏ đi đến nay ông đã có đêm nào trọn giấc. Ông biết ông đã quá căng với con nên đã làm nó giận và bỏ đi. Và ông đã tỏ ra ân hận. Ông đã đi tìm con khắp nơi nhờ cả người quen tìm hộ. Rồi ông còn bỏ tiền túi ra thuê cả nhân viên an ninh đi tìm mà hành tung về con gái ông vẫn chỉ là con số không. Chẳng biết nó đã đi đâu làm gì? Thời buổi thì chiến tranh loạn lạc. Việt cộng quốc gia đánh đấm nhau rầm rầm. Đạn bom thì như rươi đâu có chừa ai. Một tuần trôi qua. Rồi nửa tháng một tháng trôi qua. Con gái ông vẫn bặt vô âm tín. Trời ơi nếu nó có mệnh hệ gì thì vợ chồng ông làm sao sống nổi!

         Gia đình ông bà Tú mấy chục năm nay sống ở thôn quê. Nói là thôn quê nhưng cũng gần phố thị vì cái làng Cào là vùng ngoại ô sát với trung tâm thành phố. Chiến tranh chưa lan đến vùng quê này. Thỉnh thoảng lắm mới nghe tin đặc công Việt cộng đột nhập nơi này đột nhập nơi kia đâu mãi ngoài thành phố. Mà có đánh thì họ cũng tìm mục tiêu họ đánh chứ không lẽ họ đánh vào dân lành. Còn ở đây nơi được gọi là vùng thôn quê này cuộc sống vẫn ngày ngày trôi qua một cách êm ả thanh bình. Người dân không lo lắm với cảnh đạn bom cảnh bên này bên kia đánh nhau nên cứ làm làm ăn ăn như chưa từng có chiến tranh.

         Vợ chồng ông bà Tú đều là công chức ăn lương chính phủ. Bà làm trong ngành giáo dục ông làm trong ngành bưu điện. Hồi còn dạy học bà Tú từng một thời là cô giáo dạy sử trường Cao Bá Quát một trường trung học có tiếng trong tỉnh. Mới đây vì lý do sức khỏe bà xin nghỉ dạy ở nhà lo việc nội trợ. Ngoài khoản lương hàng tháng bà còn có thu nhập thêm từ quầy tạp hóa mở bán tại nhà. Còn ông vẫn đang làm việc lại đã có gần hai mươi năm trong nghề mà ì ạch mãi mới lên được cái chức trưởng phòng. Nhưng lương lậu dẫu được xếp theo thang bậc thâm niên vẫn chỉ ngang lương của một sỹ quan cấp thiếu úy vừa tốt nghiệp trường võ bị Đà Lạt. Gộp lương của hai vợ chồng cộng với vài khoản lặt vặt khác như thế cũng đủ giúp ông bà nuôi sống bốn miệng ăn và chi phí cho hai con học hành. Ông bà chỉ có hai cô con gái. Hồi còn son trẻ hai người cũng đã có ý định đẻ thêm để kiếm thằng cu cho có nếp có tẻ. Nhưng rồi trong một lần bị bệnh sản khoa bà phải mổ cấp cứu người ta buộc phải hủy cái thai mới được sáu tháng để cứu sống bà. Từ đó bà khiếp không dám mang thai một lần nào nữa. Hai cô con gái Tuệ Linh và Tuệ Tâm càng lớn càng giống mẹ. Xinh đẹp nết na học giỏi. Cách đây vài năm Tuệ Linh lấy chồng rồi theo chồng về quê sinh sống. Còn Tuệ Tâm vừa học xong trung học đang đăng ký thi vào trường sư phạm nuôi ước mơ trở thành cô giáo nối nghiệp mẹ.

         Hồi đang là học sinh Tuệ Tâm đã nổi tiếng là học giỏi. Bà Tú thường vẫn lưu giữ trong ký ức mình những kỷ niệm về các con. Khi Tuệ Tâm lên học trường Cao Bá Quát đến năm cuối lớ ngớ thế nào con bé được xếp ngay vào lớp học do bà làm chủ nhiệm. Bà dặn con: "Ở nhà thì mẹ là mẹ của con nhưng khi đến lớp thì mẹ là cô giáo. Vì thế khi đang trong lớp học con phải gọi mẹ là cô như tất cả các bạn". Ấy thế mà rất nhiều lần nó quên mất lời bà dặn nên cứ một điều "thưa mẹ" hai điều "thưa mẹ" rồi khi chợt nhớ ra nó lại "thưa cô" khiến cả lớp cười ầm lên. Những lần đầu khi gọi bà là cô Tuệ Tâm có vẻ ngượng ngập nên về nhà nó bảo: "Mẹ con mình ở lớp trông cứ như đóng kịch với nhau vậy. Mẹ con mà xưng hô với nhau cứ cô cô em em con thấy nó thế nào ấy. Chắc phải còn lâu con mới quen gọi mẹ là cô như các cô giáo khác". Bà nhớ có lần bà giảng bài lịch sử về sự kiện Nguyễn Ánh và nhà Tây Sơn. Hôm kiểm tra bài học cũ bà gọi Tuệ Tâm lên lớp trả lời khái quát về sự kiện trên. Chẳng biết nó học hành thế nào mà cứ ấp a ấp úng không trả lời được đành bị điểm một. Bà giận tím mặt không hiểu là tại làm sao. Phải chi nó là đứa học dốt thì bà còn cảm thấy dễ chịu. Đằng này nó là học sinh giỏi nhất nhì trường. Sao bây giờ bỗng nhiên đâm ra lạ lùng như vậy. Chiều ấy về nhà bà chưa kịp hỏi nó thì nó đã chủ động hỏi bà: "Chắc mẹ giận con lắm phải không?". "Không những giận mà tao đang định cho mầy một trận đây!". - Bà nói. Với một vẻ mặt buồn bã Tuệ Tâm nói với bà: "Mẹ ơi không phải là con không thuộc bài đâu mà con cố tình ậm ự không trả lời thôi. Con đã định hỏi mẹ ngay tại lớp nhưng thấy không tiện nên đành để dành về nhà hỏi mẹ. Mẹ ơi tại sao người ta lại gọi một người có công lao to lớn với đất nước như Nguyễn Huệ - Quang Trung là giặc hả mẹ? Sử sách còn ghi rành rành là ông ấy dẹp chúa Trịnh chúa Nguyễn nối đôi miền sông Gianh thu giang san về một mối. Rồi lại có công đánh tan giặc Xiêm ở phương nam đại phá giặc Thanh ở phương bắc dựng nên cơ đồ non nước. Còn Nguyễn Ánh người cầu cứu giặc Tây chống lại Nguyễn Huệ và nhà Tây Sơn thì lại được ca tụng là ông vua tài cao đức trọng có công lao với đất nước. Thành phố nào ở miền Nam cũng có đường phố mang tên đường Gia Long nhưng lại không có một đường phố nào được mang tên đường Nguyễn Huệ hay Quang Trung. Vì sao thế hả mẹ? Mẹ hãy giải thích cho con nghe đi!". Bà không biết trả lời con ra sao cho hợp tình hợp lý bởi tất cả những gì bà giảng về sự kiện trên đều nằm trong sách giáo khoa do chính phủ biên soạn. Việc ca ngợi Nguyễn Ánh lên án Quang Trung coi Nguyễn Ánh là chính nghĩa Quang Trung là phi nghĩa đã có trong chương trình sử học từ hàng chục năm qua. Đó là cách nhìn nhận đánh giá các sự kiện và nhân vật lịch sử của những người có trách nhiệm trong chính phủ đương thời. Là nhà giáo bà chỉ việc lĩnh hội truyền đạt lại cho học sinh. Nhưng tại sao con gái bà mới chỉ là đứa trẻ mười bảy mười tám tuổi đã có những câu hỏi "hóc búa" như vậy? Trong lòng nó đang nghĩ những gì? Tự nó hiểu về Quang Trung và Nguyễn Ánh như vậy hay có ai đã bày vẽ cho nó? Nhưng mà suy cho cùng những gì Tuệ Tâm thắc mắc càng suy ngẫm bà càng thấy có lý.

         Bà Tú đem chuyện kể với chồng. Ông Tú cũng lấy làm ngạc nhiên không kém. Rồi ông nói với bà như một lời giải thích. Rằng lớp trẻ thời nào cũng vậy chúng luôn có những khám phá tìm tòi thậm chí cả những phát hiện mới mẻ. Bản năng của tuổi trẻ thường rất nhạy cảm trước những gì mà bản thân chúng nuôi khát khao vươn tới trên con đường học vấn. Vì thế nên trong học tập khi chưa hiểu bài có khi chỉ là bài toán bài văn hay đơn thuần chỉ là phát hiện thấy một vấn đề gì đó mà sự giải thích chưa thỏa đáng là chúng sẽ hỏi đến tận cùng ngóc ngách. Trường hợp Tuệ Tâm cũng thế. Nên xem đó là niềm vui về sự thông minh hiếu động của con...Miệng thì trả lời vợ như thế nhưng trong lòng ông lại thấy lo lo. Không phải tự nhiên mà con bé lại đưa ra những lập luận nghe có vẻ giọng lưỡi của phía...bên kia! Cách mạng người ta nhìn nhận sự kiện Nguyễn Ánh và Quang Trung hoàn toàn trái ngược với trong này. Người ta coi Gia Long - Nguyễn Ánh là ông vua "cõng rắn cắn gà nhà" là kẻ phản bội Tổ quốc phản bội nhân dân. Còn Quang Trung là vị vua "áo vải" có công đánh đuổi thù trong giặc ngoài dựng xây non sông gấm vóc mưu cầu hạnh phúc chúng sinh. Người ta ví ông Diệm ông Nhu bây giờ chẳng khác gì ông Nguyễn Ánh ngày xưa. Chẳng biết vô tình hay hữu ý mà con gái ông mới tý tuổi đầu đã...May mà nó chỉ nói chuyện với trong nhà chứ ra bên ngoài mà cứ bô bô như thế là coi chừng mang họa vào thân. Cảnh sát đặc vụ nhan nhản khắp nơi. Họ chỉ cần nghe được thì dẫu bé cũng xé thành to đủ để khép cho cái tội tuyên truyền nói xấu quốc gia. Ngày nào mà không có những cuộc hành quân ruồng bố của lực lượng bảo an dân vệ...Rồi những vụ khám xét bắt bớ những người có tư tưởng chống đối. Rồi đặc vụ chỉ điểm an ninh...cài cắm đến tận từng xóm ấp. Chẳng nói đâu xa ngay tỉnh này mới hôm rồi cũng có vụ cảnh sát bắt được một nhóm người rải truyền đơn trong đó có những cô gái tuổi đời còn rất trẻ. Nhật trình đưa tin gọi họ là những nữ Việt cộng hoạt động trong lòng thành phố. Thời buổi bây giờ phức tạp lắm! Không cẩn thận là không được. Ông to nhỏ với Tuệ Tâm nó cười cười đáp lại thì con nói đúng sự thật chớ có nói xấu gì ai. Ông mắng nó mày coi chừng cái miệng mày. Đã qua tuổi vị thành niên rồi nhà chức trách họ không cho mày là trẻ con nữa đâu đấy. Mà đã đủ tuổi là khó thoát vòng tù tội không chừng còn liên lụy đến mẹ cha và những người thân khác.

         Tuệ Tâm càng lớn lên càng đẹp. Năm mười tám tuổi khi đang học năm cuối trường Cao Bá Quát sắc đẹp của cô đã nổi tiếng trong vùng. Với một thân thể mảnh mai một khuôn mặt trái xoan và một mái tóc đen dài xõa kín hai bờ vai chảy xuống phủ tràn tấm lưng thon thả đã đủ đẹp rồi. Vậy mà trên khuôn mặt trắng hồng mịn màng ấy tạo hóa còn phú cho Tuệ Tâm một đôi mắt đẹp đến ngơ ngẩn. Bạn bè đã từng ví đôi mắt của Tuệ Tâm với đôi mắt của Nam Phương hoàng hậu. Một đôi mắt vừa trong sáng thẳm sâu vừa dịu dàng đằm thắm. Một đôi mắt vừa long lanh như những vì sao lại vừa rừng rực như có ánh lửa. Đôi mắt ấy có sức cuốn hút lạ lùng từng làm lay động xao xuyến biết bao tâm hồn những chàng trai. Trên khuôn mặt ấy còn đẹp ở đôi môi phơn phớt một màu hồng cánh sen và hàm răng trắng đều tựa như bông nhài đang kỳ mãn khai. Hình như có bao nhiêu những nét đẹp ở người con gái tạo hóa đều ban phát cả cho cô. Với một vẻ đẹp như thế Tuệ Tâm đôi khi cũng cảm thấy ái ngại hơn là hãnh diện cho mình. Có quá nhiều người để ý có quá nhiều người ngợi khen bản thân cô không những không thấy vui mà trái lại còn cảm thấy phiền lòng. Có lần nghe bà Tú khen: "Con gái mẹ đẹp quá đẹp như công chúa vậy!". Tuệ Tâm đã nói với mẹ tại mẹ sinh ra con ra như vậy chớ thực lòng con không muốn con như vậy. Con chỉ muốn con có một ngoại hình vừa phải đừng đẹp quá mà cũng đừng xấu quá cứ bình thường như mọi người xung quanh có lẽ sẽ tốt cho con hơn. Phụ nữ mà nhan sắc quá thì thường trắc trở về đường tình duyên. Có người chỉ vì sắc đẹp của bản thân mà phải bất hạnh khổ đau cho đến hết cuộc đời. Trong cả trăm người xây dựng gia đình thì có tới chín mươi chín người không hạnh phúc. Nếu không thế thì cũng chứng này tật nọ. Chả thế mà ngay từ ngày xửa ngày xưa nhân gian đã có câu "hồng nhan bạc phận" để đúc kết điều này.

         Vì xinh đẹp nên ngay cả khi Tuệ Tâm đang học cũng đã có mấy đám nhòm ngó. Phần đông trong số này là con nhà có máu mặt quyền thế và giàu có. Họ có nhiều cách để tiếp cận để làm quen và cuối cùng để đưa ra ý kiến của mình. Đeo bám Tuệ Tâm dai dẳng nhất phải kể đến anh chàng Thái con trai thứ của ông trung tá tỉnh trưởng...
(Còn nữa)
N.N.C

More...

GIỌT NƯỚC MẮT MUỘN MÀNG - NNC

By NGUYỄN NGỌC CHIẾN

 


NGUYỄN NGỌC CHIẾN

Giọt nước mắt muộn màng

TRUYỆN NGẮN

        
        Tôi vốn là đứa trẻ ham chơi nghịch ngợm nhất làng. "Chọc trời khuấy nước mặc dầu. Dọc ngang nào biết trên đầu có ai". Nói như ai đó thì hai câu thơ trên nếu đem ví với tôi thì có tới chín phần tôi lãnh đủ. Lại lười học học dốt nên lẹt đẹt mãi tôi mới có được tấm bằng tốt nghiệp phổ thông. Thấy người ta thi đại học tôi cũng thi. Nhưng kết quả thì đến cái xét tuyển đợt ba tôi cũng bị loại. Bố tôi - một cựu binh Trường Sơn - thấy thế bàn với mẹ tôi cho tôi được đăng ký nghĩa vụ quân sự. Bởi theo như phân tích của bố tôi thì chỉ có môi trường quân đội dù chỉ hai năm nghĩa vụ nhưng với kỷ luật thép may ra mới có thể thuần hóa được những người cứng đầu cứng cổ như tôi. Và thế là tôi nhập ngũ.

         Kết thúc khóa huấn luyện tôi được bổ sung về đơn vị mới. Đó là một đơn vị cơ động đóng quân ngay trong thị xã. Thú thật là tôi đã suýt nhảy cỡn lên khi nghe anh sỹ quan quân lực đọc đến tên tôi được biên chế về đơn vị này. Là người lính mới nhập ngũ không phải lên rừng xuống biển được đóng quân ngay ở thành phố thị xã thật không có gì vui sướng cho bằng. Cái thị xã tỉnh lỵ nằm ngay ngã ba sông chỉ be bé như bàn tay thôi nhưng rất đẹp và thơ mộng. Ở đây còn có cả quốc lộ 1A chạy ngang qua và một trục đường lớn nối thị xã với một thị trấn ở biên giới. Từ đây muốn qua Lào Thái Lan và mấy nước nữa ven sông Mêkông cũng đi theo con đường này. Còn dòng sông thì quanh năm nước trong xanh thăm thẳm đứng từ trên một ngôi nhà cao tầng nhìn xuống sẽ thấy dòng sông uốn lượn bao quanh thị xã tựa như một dải lụa hững hờ vắt qua. Thị xã tuy nhỏ nhưng nhờ mấy năm nay liên tục được nâng cấp xây mới nên giờ cũng đã khá sầm uất. Những đường phố ngang dọc xe cộ suốt ngày ngược xuôi; những dãy nhà cao tầng công viên khách sạn rạp hát; những đêm đèn điện rực sáng; những buổi chiếu phim biểu diễn nghệ thuật; những cuộc ăn chơi nhậu nhẹt karaoke chát chít...Rồi cả những chàng trai cô gái thị thành ăn mặc sành điệu má phấn môi son...Tất cả luôn là sự hấp dẫn đối với tôi một chàng trai nhà quê lần đầu được biết thế nào phố phường phồn hoa đô hội.

         Thời gian đầu khi mới về đơn vị tôi chấp hành điều lệnh khá nghiêm túc. Đi đâu cũng thể hiện đúng lễ tiết tác phong của một người quân nhân. Mọi công tác của tiểu đội trung đội giao tôi đều hoàn thành xuất sắc. Trong đơn vị từ anh cán bộ đến người chiến sĩ chẳng ai chê trách được tôi điều gì. Ngược lại qua mỗi dịp tổng kết tôi luôn luôn là người được biểu dương khen ngợi. Ấy vậy mà chỉ sau đó không lâu cái thị xã nhỏ ấy đã bắt đầu cuốn hút tôi. Ban đầu tôi chỉ ra phố vào những ngày nghỉ những lúc có việc thật cần thiết. Hay những lúc mà tiểu đội trung đội phân công đi làm một việc gì đó. Sau do quen dần với không khí vui nhộn bên ngoài nên không cần chờ đến ngày nghỉ không cần chờ đến đơn vị phân công tôi vẫn cứ ra phố. Thú thật cái gì lâu rồi cũng thành thói quen. Nếu như cái tốt đến với con người rất chậm thì thói xấu lại tiêm nhiễm vào con người rất nhanh. Tôi nói thế chả biết có đúng không chứ theo như liên hệ của bản thân tôi thấy điều ấy thật quả không sai. Vì quen mà thành nếp khó bỏ nên mỗi tuần không được dạo qua phố một lượt là tôi lại thấy nhơ nhớ thế nào ấy. Có cảm giác như không được lang thang trên các vỉa hè hay sà vào một cái quán nào đó là tôi cảm thấy ăn không ngon ngủ không yên. Trước đây khi ra khỏi doanh trại tôi còn báo cáo xin phép hẳn hoi. Và chỉ huy có đồng ý tôi mới dám đi. Còn bây giờ nhiều lần tôi cứ lờ đi. Nhìn trước ngó sau lấm la lấm lét như thằng ăn trộm thoắt một cái tôi đã có mặt ngoài phố rồi. Những chuyện đó chẳng một ai biết. Bởi tôi thường trốn đơn vị vào những lúc mà không ai để ý ví như vào buổi trưa lúc mọi người đang ngủ hoặc vào buổi tối khi mà anh em vừa sinh hoạt xong đang túm tụm lại chơi bài "tiến lên". Mà dẫu có ai biết tôi cũng cốc sợ vì tôi biết mình không làm việc gì xấu. Cùng lắm thì chỉ một lời nhắc nhở nhẹ nhàng chứ ai hơi đâu mà để ý với những chuyện vặt vãnh ấy. Tôi nghĩ thế và lấy làm an tâm.

         Anh Hàn trung đội trưởng trung đội tôi một thiếu úy hơn tôi độ chục tuổi là người quê ở Bắc Ninh có giọng hát quan họ rất hay. Anh em trong đơn vị đã từng lịm đi khi nghe anh hát bài "Người ơi người ở đừng về". Một lần anh hát xong cả trung đội vỗ tay đôm đốp tán thưởng. Riêng tôi đợi ngớt tiếng vỗ tay thì đứng phắt lên miệng reo to: "Hoan hô trung đội trưởng! Trung đội trưởng hát hay quá! Giá em là con gái em sẽ yêu trung đội trưởng ngay. Hôm nào trung đội trưởng hát karaoke với em một bài có được không ạ?". Tôi vừa dứt lời thì cả trung đội cười ồ làm tôi ngượng chín mặt. Có người còn cho tôi là bất nhã thiếu lịch thiệp với cấp trên. Còn trung đội trưởng chẳng có ý kiến gì. Anh chỉ hơi mỉm cười. Mãi hôm sau nhân tình cờ gặp tôi anh mới gọi tôi vào nhà nhẹ nhàng bảo: "Này Huy anh để ý thấy em dạo này có phần sa sút đấy! Tối qua khi nghe em nói hát karaoke anh bỗng nhớ ra rằng dạo này em thường ra thị xã hát karaoke có đúng không?". Tôi trả lời trung đội trưởng như đã được chuẩn bị sẵn: "Dạ trung đội trưởng nói đúng đấy em thỉnh thoảng có đi hát karaoke...Nhưng anh Hàn này hát karaoke thì có hại gì mà anh bảo là sa sút ạ? Bên ngoài người ta công khai làm dịch vụ này cơ mà. Nếu có hại chắc đã cấm từ lâu rồi". Trung đội trưởng cười xòa rồi nói với tôi một thôi một hồi. Rằng không ai bảo hát karaoke là có hại là sa sút về đạo đức tác phong. Nhưng hát karaoke trong một chừng mực nào đó cũng ảnh hưởng đến việc học tập công tác. Vì mình là bộ đội không phải lúc nào cũng dư dã thời gian để lãng phí vào những việc đó. Hát karaoke rất dễ tạo cho con người một thói quen khó bỏ. Có khi do say mê quá mà quên đi những việc khác. Và sau cùng hát karaoke ít nhiều cũng tốn kém về mặt  tiền bạc. Người lính mới nhập ngũ phụ cấp mỗi tháng không được bao nhiêu. Đó là số tiền phải được sử dụng vào những việc thiết thực. Không thể cứ vài ba bữa đã ném sạch vào vào những trò chơi vô bổ đó để rồi lại ngửa tay xin tiền của bố mẹ. Trung đội trưởng góp ý với tôi là nên hạn chế để rồi dần dần bỏ hẳn thói quen vô bổ ấy. Mình là quân nhân không nên la cà quán sá làm mất đi vẻ đẹp của người chiến sĩ. Còn nếu như tôi thực sự có khiếu văn nghệ thì nay mai khi trung đoàn thành lập đội tuyên truyền xung kích anh sẽ giới thiệu tôi về đó. Cuối cùng trung đội trưởng chỉ ra những sa sút gần đây của tôi. Đó là những biểu hiện lơ là trong công tác trong chấp hành điều lệnh điều lệ quân đội. Anh dẫn ra những bằng chứng cụ thể như đi chơi không báo cáo lễ tiết tác phong thiếu nghiêm túc ăn mặc lôi thôi tóc còn để dài...Và đặc biệt gần đây thỉnh thoảng tụm năm tụm ba kể cả với người ngoài đơn vị để rượu chè nhậu nhẹt. Trung đội trưởng khuyên tôi nên sớm khắc phục những thiếu sót kể trên khi chưa muộn.

         Thì ra bấy lâu nay tôi làm những gì đi những đâu anh đều biết cả. Cảm thấy tủi thân trước những đánh giá thẳng thắn chính xác của trung đội trưởng tôi chỉ còn biết im lặng ngồi nghe mà không thể chối cãi được một lời. Hai thái dương tôi giật giật mồ hôi rịn ra trên mặt rồi nhỏ giọt lăn dài xuống cổ. Ấy vậy mà ngay sau khi vừa bước chân ra khỏi nhà trung đội trưởng tôi đã lại hai tay đút túi quần vừa đi vừa huýt sáo mồm một cách vô tư bình thản như chưa hề có chuyện gì xảy ra. Có cảm giác như mọi phê bình góp ý của trung đội trưởng chẳng đọng lại được tý gì trong tôi. Chả thế mà vừa thoáng thấy cậu Cần thằng bạn thân nhất của tôi vác cuốc đi ngang qua tôi đã "e hèm" một tiếng thật to rồi ngoắt cậu ta đến gần đứng chống nạnh mà rằng: "Chà chà người anh em tích cực quá nhỉ! Bộ phấn đấu dành cái danh hiệu "chiến sĩ thi đua" hay sao mà giờ này còn tăng gia hả? - Cần chưa kịp nói gì thì tôi đã "bồi" thêm - Này tớ nói cho đằng ấy biết đằng ấy cũng "tướng một sao" như tớ chứ không hơn gì đâu nhé! Đừng có mà ra vẻ ta đây chơi trội đấy!". Cần chống cuốc đứng ngó tôi như ngó một vật lạ đoạn nheo mắt trả lời: "Cậu ăn nói gì lạ thế? Sao lại chơi trội? Mình tranh thủ tăng gia cải thiện chứ làm gì mà chơi trội...". Không đợi Cần nói hết câu tôi đã cắt ngang: "Ôi dào cậu thì lúc nào cũng lo bò trắng răng. Thôi dẹp mẹ nó đi rồi lại gần đây tớ nói nhỏ chuyện này. - Tôi hạ thấp giọng - Tối nay thằng bạn ở quán "Thiên Hương" nhắn tớ và cậu ra quán nó làm một chầu "cầy tơ bảy món" với rượu nếp chính hãng. Xong nó còn đãi chúng mình một chương trình phim truyện đặc sắc của nước ngoài. Cậu biết phim gì không? - Tôi nói gần như thì thầm - Phim "tình tang" đấy! Đây là cơ hội ngàn năm có một. Không được thưởng thức tiếc lắm! Thế nào cậu đi cùng tớ chứ?". Cần vác cuốc lên vai vừa đi vừa trả lời tôi: "Thế cậu không nhớ tối nay sinh hoạt tiểu đội sao? Mà đi chỉ vì những chuyện nhố nhăng ấy mình không thể đi được. Cậu thích thì cứ việc đi một mình. - Nghĩ sao Cần dừng bước quay lại phía tôi - Theo mình cậu không nên đi. Mình là bộ đội cần sống cho đàng hoàng. Mà mình cũng nói thật dạo này cậu khác lắm rồi đấy Huy ạ! Cậu không còn là cậu nữa rồi đấy! Coi chừng hối không kịp đâu!". Tôi ném theo Cần một cái lườm rồi xẵng giọng: "Thôi cậu đừng có dạy đời tôi!".

         Tôi bỏ ngoài tai tất cả mọi lời khuyên ngăn cảnh báo của Cần. Vậy nên tối đó tuy vẫn tham gia sinh hoạt tiểu đội nhưng đầu óc tôi lại để đẩu đâu. Phải ngồi học tập sinh hoạt tôi xem như một sự bắt buộc không thể vắng mặt. Chứ nội dung họp để làm gì tôi nào có quan tâm. Ai thảo luận ai tham gia góp ý tôi không cần biết. Cuộc họp càng kéo dài người tôi càng cảm thấy bứt rứt khó chịu. Chốc chốc tôi lại ngước nhìn cái đồng hồ treo bên tường. Tôi chỉ mong sao cho buổi sinh hoạt sớm kết thúc. Thấy anh em thay nhau phát biểu ý kiến kéo dài thời gian tôi nhìn chòng chọc vào mặt họ tỏ vẻ bực bội. Rồi trong khi mơ mơ màng màng về những cảnh huống trong bộ phim mà tôi tưởng tượng ra người tôi bỗng giật nãy lên khi nghe tiểu đội trưởng đang nói nửa chừng: "...Tôi xin tổng kết những tồn đọng của tiểu đội ta qua ý kiến phát biểu của các đồng chí. Đó là ý thức chấp hành kỷ luật của một số đồng chí còn yếu. Cụ thể là còn nói tục đi chơi về khuya áo bỏ ngoài quần trong giờ hành chính cá biệt có đồng chí còn uống rượu say đọc và xem các loại văn hóa phẩm đồi trụy. Các đồng chí cũng đã liên hệ bản thân. Riêng đồng chí Huy ý kiến của đồng chí thế nào mời đồng chí phát biểu!". Tôi đứng dậy ấp a ấp úng: "Vâng tôi...tôi hoàn toàn nhất trí với...với ý kiến của tất cả các đồng chí. Riêng phần...liên hệ...bản thân tôi thấy tôi cũng...cũng ít nhiều mắc phải những...những khuyết điểm như đã nêu trên. Tôi...tôi xin hứa sẽ khắc phục dần!".

         Cuộc họp kéo dài hơn so với dự kiến. Nhìn đồng hồ tôi thấy đã quá muộn. Cho đến lúc tiếng kẻng vang lên báo giờ đi ngủ thì tôi biết là không còn nước non gì nữa. Nằm trong màn tôi cứ tiếc ngơ tiếc ngẩn cứ hầm hà hậm hực mãi vì đã lỡ để mất một dịp may hiếm có. Nhưng nhẩm tính tôi thấy vẫn còn cơ hội. Bất quá buổi sinh hoạt mới chỉ để mất buổi nhậu. Ăn hay không ăn không cần thiết lắm! Thời gian xem phim coi như được tính từ lúc này trở đi. Giờ này càng đảm bảo "bí mật" càng không ai hay biết gì. Nghĩ thế tôi ngồi dậy tung chăn ra rồi cuộn tròn lại để thật thẳng thớm vào chính giữa giường. Xong tôi chui ra khỏi màn xỏ chân vào đôi giày "cao cổ" buộc dây thật cẩn thận. Nhìn vào trong màn qua ánh trăng nhờn nhợt hắt vào từ cửa sổ tấm chăn cuộn tròn trông giống như một người đang nằm ngủ. Xung quanh tôi khe khẽ đều đều tiếng ngáy của mọi người đã ngon giấc. Ngó trước ngó sau tôi nhẹ nhàng đi ra cửa. Rồi đi qua sân. Rồi đi tắt qua mảnh vườn tăng gia của đơn vị. Rồi sau cùng tôi đu người nhảy tót qua hàng rào kẽm gai. Chỉ mười phút sau tôi đã có mặt tại quán "Thanh Hương". Đường phố vẫn chan hòa ánh điện. Ô tô xe máy vẫn tấp nập ngược xuôi. Trai thanh gái lịch vẫn từng đôi từng đôi khoác tay nhau dạo phố. Chừng hơn một tiếng sau tôi đã lại có mặt tại đơn vị. Nằm trên giường tôi khoan khoái rít từng hơi thuốc dài. Tưởng tưởng lại những cảnh yêu đương lâm ly những cảnh làm tình đủ trò đủ kiểu những cảnh ghen tuông chém giết...trong bộ phim vừa xem tôi như mê muội đi cảm thấy tự bằng lòng với mình. Thật chẳng khác gì một hiệp sĩ! Thoắt một cái đã có mặt ngoài phố. Thoắt một cái đã lại có mặt ở nhà. Rồi tôi ngủ thiếp đi. Sáng ra khi đang hua chân múa tay tập thể dục thì Cần đến bên tôi thì thào. Tôi nghe mà rùng cả mình. Thì ra đêm qua khi gác xong phiên của mình Cần vào gọi tôi gác tiếp. Vì sau cậu ta là tôi. Nhưng khi Cần vào chỉ thấy có cái giường không. Biết là tôi đã "vù" Cần định báo tiểu đội trưởng nhưng nghĩ sao lại thôi đành gác luôn phiên gác của tôi. Thật hú vía! Cần buồn rầu nói với tôi: "Mình làm thế là bao che việc làm sai trái của đồng đội tức là khuyết điểm của mình còn nặng hơn cả cậu. - Rồi Cần nói với tôi như van lơn - Huy ơi từ nay cậu đừng làm thế nữa. Nếu không cậu sẽ tự mình làm hỏng cuộc đời cậu đấy. Bố mẹ cậu mà biết cậu như thế chắc sẽ buồn lắm!". Mủi lòng trước những gì Cần vừa nói tôi chỉ khẽ gật đầu.

         Giá biết nghe lời đồng đội biết dừng lại đúng lúc thì đã không có chuyện gì xảy ra với tôi. Và đời lính tráng của tôi chắc cũng sẽ trôi đi một cách êm đẹp như bao bạn bè đồng đội khác còn có gì để kể thêm. Nhưng như ngựa quen đường cũ tôi vẫn chứng nào tật ấy. Tính vô tổ chức kỷ luật chưa bỏ được. Sau cái đêm bỏ gác trốn đi xem phim được Cần thương tình giấu đi cho tôi vẫn thỉnh thoảng trốn đơn vị ra phố chơi. Khi thì lang thang từ phố này qua phố khác. Khi thì sà vào một quán karaoke nào đó. Khi thì ngồi nhâm nhi ly cafê bên góc đường...Tiền phụ cấp hàng tháng của tôi tiền của mẹ tôi gửi cho được ném cả vào đấy. Có thời gian không một xu dính túi tôi buộc phải mang quân tư trang của mình ra hiệu cầm đồ. Hết đồ mới thì tôi bán đồ cũ. Vì bán vội bán vàng nên giá rất rẻ. Cuối cùng vì vừa bán vừa cầm mà tôi suýt nữa không còn có áo quần để thay đổi. Có lần cả hai bộ duy nhất còn lại đều bị ướt tôi phải mượn áo quần của Cần để mặc tạm. Cần người cao to mà tôi thì nhỏ bé nên khi mặc áo quần của Cần nó cứ rộng thùng thình trông rất buồn cười. Những lúc ấy mấy cậu trong tiểu đội lại nhìn tôi thì thào với nhau: "Trông như người trong tranh hài của họa sỹ Nguyễn Nghiêm ấy chúng mày nhỉ!". Họp tiểu đội trung đội tên tôi luôn được nhắc đến. Đặc biệt gần đây do những sai phạm liên tục trong thời gian vừa qua trung đội đã dành hẳn một buổi để phê bình kiểm điểm tôi. Buổi họp có cả cán bộ đại đội xuống dự. Anh cán bộ đại đội người Nghệ An tính nóng như lửa cứ một mực đòi đưa tôi ra kỷ luật trước đại đội để làm gương nhưng nhờ anh Hàn trung đội trưởng nói đỡ cho. Kết cục tôi bị kỷ luật với hình thức khiển trách trước trung đội. Tuy vậy anh cán bộ đại đội vẫn hậm hực mãi. Hình như anh thấy mức kỷ luật dành cho tôi vẫn còn quá nhẹ chưa đủ sức răn đe. Anh phát biểu giọng nặng trịch. Tôi có cảm tưởng như mỗi lời anh nói ra là một hòn đá nện xuống đầu tôi. Tôi ngồi im không nhúc nhích nghe rõ cả tiếng tim mình đập thình thịch. Cuối cùng anh hạ bớt giọng nhưng nghe vẫn rất nặng như thường thấy ở người xứ Nghệ: "...Chiến sĩ mới mô mà vô tổ chức kỷ luật muốn răng mần rứa. Không trị đến nơi đến chốn coi chừng hư hỏng. Nhưng hôm ni cứ tạm dừng lại đây. Nếu đồng chí Huy không ăn năn sửa chữa đơn vị sẽ có biện pháp kỷ luật nặng hơn...". Nhưng mà tôi đâu có chừa nên vẫn chứng nào tật ấy để rồi chuốc vạ vào thân. Sự việc này xảy ra chỉ sau cuộc họp kiểm điểm tôi có vài ngày. Và tôi cũng không ngờ  hậu quả của việc tôi làm lại nghiêm trọng đến thế. Chuyện là thế này...

         Buổi chiều hôm ấy tại quán "Thanh Hương" khi tôi đang ngồi uống cafê thì một chiếc xe tải từ hướng biên giới chạy đến đỗ lại trước cửa quán. Từ trên xe có hai người đàn ông bước xuống. Họ vào quán tìm một góc yên tĩnh rồi gọi chủ quán dọn đồ nhậu. Vừa uống hai người vừa đá mắt sang phía tôi thì thầm gì đó. Rồi một người đứng dậy đến gần tôi vừa cười vừa nói: "Chào chú em! Nếu quả thật chú em không vội mời chú em sang bên này với chúng tôi cho vui". Ban đầu tôi kiên quyết từ chối nhưng anh ta cứ mời mãi mời mãi đến nỗi chủ quán là người quen của tôi sốt ruột quá cũng phải nói xen vào. Thấy không thể từ chối được tôi đành miễn cưỡng ngồi sang. Tôi cũng định bụng là sẽ uống với anh ta một ly rồi đứng dậy ra về. Không ngờ càng uống càng bốc càng uống càng không thể dứt ra được. Hai người thay nhau vừa rót bia vừa gắp thức ăn cho tôi vừa luôn miệng mời mọc có vẻ rất thân tình: "Dùng đi chú em dùng đi đừng có ngại. Hồi trước tụi anh cũng từng khoác áo lính như em bây giờ. Em cứ dùng thật thoải mái hết bọn anh lại gọi". Thấy thái độ của hai người có vẻ ân cần vui vẻ nên tôi rất tự nhiên. Và cũng bởi tự nhiên mà tôi cứ ăn uống không chút e dè khách sáo. Trong bữa ăn hai người hỏi tôi đủ chuyện. Tôi cũng trả lời họ một cách thẳng thắn thật thà. Biết tôi là người từ bé đến giờ sống ở thôn quê bố mẹ làm nông gia đình khó khăn hai người có vẻ rất thông cảm. Khi đã ăn uống no nê và nhìn ra bên ngoài thấy trời đã trưa tôi mới giật mình đứng dậy vờ móc tay vào túi. Một người thấy vậy bèn vỗ vỗ vào lưng tôi cất giọng khề khà: "Bộ...bộ...em định trả tiền đấy à? Bọn anh có thiếu đâu mà cần tới đồng phụ cấp ít ỏi của em. Mà chú em sao vội về thế? Hôm nay chủ nhật chả lẽ không được nghỉ sao?". Anh ta ôm tôi ấn ngồi xuống ghế tiếp tục rót bia. "Dùng nữa đi chú em bia ấy mà nhạt như nước óc say sưa gì mà lo". Thế là tôi tiếp tục uống tiếp tục ăn. Một người ghé vào tai tôi thì thào: "Lính binh nhì binh nhất như chú em khổ lắm! Lương bổng có là bao mà gia đình bố mẹ ở xa lại nghèo làm sao em có thể thích nghi được với cuộc sống giữa cái cơ chế thị trường khắt khe và bề bộn này. Khi điếu thuốc khi ly cafê biết lấy đâu ra. Rồi thỉnh thoảng cũng phải...tý chút cho đỡ...thèm chứ! Mình cũng là người không lẽ cứ đứng nhìn người ta hưởng thụ sao! Lương bổng của em thế đáp ứng sao nổi. - Rồi anh ta ghé vào tai tôi nói nhỏ - Nói gần nói xa chẳng qua nói thật. Thực tình thấy tình cảnh của em bọn anh cũng thương định giúp em ít tiền và nhờ em chút việc. Việc này chẳng khó khăn nguy hiểm gì chú em chắc làm được. - Anh ta ngửng đầu nhìn quanh rồi lại cúi xuống ghé tai tôi nói tiếp - Từ đây ra quốc lộ 1A chỉ còn hơn cây số mà ở cái ngã ba đằng kia lại có cái trạm kiểm soát liên ngành.  Xe nào đi ra đấy cũng đều phải ghé trạm để họ kiểm tra. Nói thật với em trên xe anh chỉ chở ít củi với mấy thứ hàng lăng nhăng kiếm thêm chút lời nuôi vợ con chứ chẳng hàng lậu hay hàng cấm gì đâu nhưng mà họ biết họ bắt đóng thuế cũng hết lời. Anh nhờ em là nhờ thế này. Em ăn mặc đàng hoàng quân hàm quân hiệu chỉnh tề rồi chỉ việc đứng ở cửa xe anh. Khi qua trạm kiểm soát nếu họ ra hiệu cho xe dừng lại kiểm tra thì em nói với họ xe chở củi cho đơn vị em. Như thế họ sẽ nể bộ đội mà cho xe đi qua không cần kiểm tra. Xong việc bọn anh sẽ biếu em vài triệu để em mua gì thì mua". Tôi nghĩ ừ thì họ cũng đã nói rồi trên xe họ không có gì mình giúp họ một tý thôi cũng chả sao. Mà mình cũng đang cần tiền để chuộc lại mấy bộ áo quần. Mình giúp họ cũng coi như là họ giúp mình chứ có phải mua chuộc hối lộ gì mà sợ. Lúc ấy tôi chỉ biết nghĩ đơn giản như thế nên vui vẻ nhận lời. Một lát sau xe nổ máy chuyển bánh. Tôi ra đứng bên cửa xe phóng mắt nhìn về phía trước nửa lo lắng nửa hồi hộp. Thế rồi xe đến trạm kiểm soát. Tôi thấy một rồi hai anh hải quan từ trong vọng gác đi ra. Họ ra hiệu cho xe dừng lại. Nhớ lời dặn của chủ xe tôi tươi cười đưa cao tay lên vẫy vẫy. Vừa vẫy tôi vừa chỉ tay về phía doanh trại quân đội nơi đơn vị tôi đóng quân. Khi xe tới gần tôi nói to: "Các đồng chí ơi đây là xe chở củi cho bộ đội không có gì đâu!". Nhưng hai người hải quan vẫn nghiêm nét mặt tiếp tục ra hiệu cho xe dừng lại. Nhìn vào trong xe tôi thấy hai người đàn ông mặt biến sắc. Tiếp đó tôi thấy mấy chiến sĩ kiểm soát quân sự xuất hiện. Nhìn họ ai cũng mũ kêpi súng ngắn và đeo băng đỏ ở tay. Tôi run lên không hiểu chuyện gì xảy ra. Xe dừng lại. Một anh hải quan bước đến nói với người lái xe: "Tôi biết xe anh thế nào cũng qua đây mà chứ chả lẽ lại bay qua sông được sao!". Người lái xe mặt tái xanh tái xám như không còn giọt máu. Anh ta ấp úng nói gì đó với người hải quan tôi nghe không rõ.

         Những bó củi trên xe được dở xuống. Tôi giật mình khi thấy dưới những bó củi ấy là những kiện thuốc lá ngoại và rất nhiều những đầu vedio máy tính xách tay điện thoại di động...do nước ngoài sản xuất được đựng trong những thùng gỗ. Đây là những mặt hàng có tên trong danh mục cấm nhập khẩu vào nước ta. Chủ xe và tôi cùng được mời vào trạm kiểm soát để lập biên bản. Riêng tôi còn bị kiểm soát quân sự lập thêm một bản riêng. Toàn bộ số hàng nói trên được tịch thu chờ xử lý. Sau đó kiểm soát quân sự đưa tôi về cơ quan thị đội. Đến đây tôi mới vở lẽ ra rằng chiếc ôtô nói trên là của một xí nghiệp nhà nước đã nhiều lần vận chuyển hàng lậu từ biên giới về nội địa tiêu thụ. Lần này nhờ được quần chúng cung cấp tin tức nên cả chủ và hàng đã sa lưới pháp luật. Tôi là người đã thông đồng tiếp tay cho kẻ buôn lậu tội ấy cũng không phải là nhẹ. Cơ quan thị đội điện về cho trung đoàn tôi và chỉ sau đó không lâu đã thấy hai vệ binh của trung đoàn có mặt. Họ ký giấy nhận người rồi điệu cổ tôi về đơn vị. Tôi tạm thời bị đình chỉ công tác. Quân pháp sư đoàn làm việc với tôi ngay trong chiều hôm đó. Trước cơ quan pháp luật quân đội tôi có sao nói thế không giấu diếm một điều gì. "Thôi thế là hết lần này thì không ai cứu tôi được nữa rồi. Tôi đã phạm một tội tày đình. Không vào trại kỷ luật thì cũng tước quân tịch đuổi về địa phương...". Nhưng mà số tôi cũng còn may. Qua nghiên cứu hồ sơ của hải quan về chủ xe đối chiếu với lời khai thành khẩn của tôi xét thấy hành vi của tôi chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự quân pháp sư đoàn giao tôi cho ban chỉ huy trung đoàn xét kỷ luật nội bộ. Nhân dịp này những sai phạm của tôi từ trước đến nay đều bị phanh phui kể cả những việc chưa ai biết. Trung đoàn đã ký giấy kỷ luật tôi với hình thức cảnh cáo toàn trung đoàn ghi lý lịch quân nhân đồng thời thông báo cho địa phương và gia đình cùng biết. Bị tạm giữ ở trung đoàn chờ đơn vị lên nhận về tôi suốt ngày ngồi bó gối một chỗ cơm chẳng muốn ăn nước chẳng muốn uống. Tôi buồn rầu suy nghĩ về những gì mình đã làm từ trước tới giờ. Giá mà ngày ấy sau mỗi lần vấp ngã được đồng đội nhắc nhở tôi phải biết khắc phục sửa chữa thì đâu có như ngày hôm nay. Tôi đã lừa dối mọi người đã phụ lòng tin của anh em. Và hậu quả đến với tôi như ngày hôm nay là tất yếu. Đó là kỷ niệm đau thương của một thời nông nổi mà sẽ suốt đời tôi không bao giờ quên được. Để rồi trên chặng đường đi tiếp của cuộc đời binh nghiệp dù thời gian phục vụ chỉ còn là một năm hai năm hay lâu dài hơn thì lúc nào tôi cũng phải nhớ và lấy đó làm bài học đắt giá. Vừa xấu hổ vừa ân hận nước mắt tôi bỗng trào ra. Những giọt nước mắt đã quá muộn màng...
N.N.C

More...

BỐ CHỒNG TÔI - NNC

By NGUYỄN NGỌC CHIẾN

 

NGUYỄN NGỌC CHIẾN

Bố chồng tôi

TRUYỆN NGẮN

        
        (Tiếp theo)
       
...Mùa đông đi qua. Rồi mùa xuân đến. Cho đến khi con trai tôi chập chững biết đi rồi bập bẹ tập nói tôi vẫn không nhận được một tý ty tin tức gì về chồng tôi. Riêng cô em chồng thì mới đây nhờ có người làng về phép chúng tôi mới biết là Vui vẫn khỏe và hiện đang cùng đơn vị bám trụ ở một cung đường Trường Sơn đâu đó trong Quảng Bình. Bố tôi vẫn ngày hai buổi làm hợp tác vẫn thức khuya dậy sớm với ao cá của mình. Tôi thì ngày ngày vừa trông con vừa đỡ đần bố việc nhà. Đến khi cháu đủ tuổi vào mẫu giáo tôi mới rảnh rỗi thời gian để tham gia việc hợp tác cùng bố. Trong căn nhà heo hút giữa cánh đồng giờ cũng đã bớt vắng lặng buồn tẻ như trước. Có thêm cu Sơn con trai tôi không khí trong nhà như thay đổi hẳn. Hằng ngày chỉ cần nghe tiếng cháu bi bô thôi là đã thấy vui vui. Rồi mỗi khi cháu khóc cháu cười được nựng cháu dỗ cháu tôi luôn có cảm tưởng như mình đang được sống trong một thế giới khác. Tuy nhiên mỗi lần ngắm nhìn khuôn mặt con tôi lại nghĩ đến chồng tôi. Những lúc ấy ruột gan tôi lại cồn cào nhớ anh. Có những đêm nằm ôm con ngủ đầu óc tôi chỉ toàn nghĩ về anh. Tôi nhớ như in cái ngày cách đây gần bốn năm về trước khi lần đầu tôi gặp anh. Đó là một buổi chiều mùa hè giữa rừng cọ quê tôi. Tôi không thể quên được ánh mắt của anh đã nhìn tôi trong cái buổi chiều rất nên thơ ấy. Để rồi sau này trong những ngày tiếp theo ánh mắt ấy của anh cùng với những gì anh nói với tôi hôm ấy cứ đeo đẳng bám theo tôi. Hình như cái duyên cái số của tôi và anh "ông trời" đã sắp sẵn ngay từ lần đầu gặp gỡ ấy. Chả thế mà khi anh ngỏ lời yêu tôi tôi đã bằng lòng ngay mà không một chút đắn đo suy tính. Rồi khi tình yêu đã chín muồi mỗi lần bên nhau anh vẫn thường nói với tôi lấy chồng bộ đội thời chiến là rất khổ có khi vợ chồng chỉ ở bên nhau được vài ngày rồi biền biệt xa nhau hàng năm thậm chí hàng chục năm trời. Nhưng đó chưa phải là tất cả. Có rất nhiều trường hợp mà người vợ còn phải gánh chịu sự mất mát thương đau gấp cả trăm vạn lần sự xa cách kia. Hồi ấy anh có nói gì tôi cũng chỉ để ngoài tai. Tôi chỉ biết là mình yêu anh và chấp nhận tất cả. Bây giờ đây cũng vậy. Dù mong ngóng chồng từng phút từng giây tôi cũng không nghĩ suy gì khác. Có chăng đó chỉ là sự nhớ thương anh không bao giờ nguôi ngoai được trong lòng tôi mà thôi.

         Bố tôi rất chiều chuộng cu Sơn nên lúc nào cũng xem cháu như cục cưng. Nó cũng mến ông chẳng kém. Mỗi ngày ông vẫn tự mình đưa cháu đến lớp rồi lại tự mình đón cháu về. Chiều chiều ông lại đưa cháu ra bờ ao hóng mát. Ở đó bố tôi dựng lên một túp lều nhỏ bên trong có đặt sẵn một chiếc chõng tre. Mỗi lần nghe ông bảo ra ngoài lều chơi là cu Sơn thích lắm! Dù đang ở bên tôi nó cũng bỏ tôi mà chạy theo ông ngay. Sau này tôi mới biết sở dĩ nó thích vậy là vì ra ngoài ấy ông thường kể chuyện cho nó nghe. Thằng bé mới tý tuổi đầu mà khôn ra phết. Có lần nó hỏi tôi về bố nó vì nó bảo ở lớp nó bạn nào cũng có bố. Bố hay chở bạn nó đến lớp bằng xe đạp. Tại sao nó lại không có bố không được bố cho đi xe đạp. Tôi nhìn con phì cười mà trong lòng thì như có muối xát. Tôi phải nói với nó là bố con đi bộ đội đánh Mỹ mai kia thống nhất bố sẽ về bố sẽ chở cu Sơn bằng xe đạp như các bạn. Từ đó ngày nào nó cũng hỏi tôi bao giờ thì bố nó về. Và ngày nào cũng như ngày nào mỗi lần nghe nó hỏi tôi lại phải nói dối nó rằng chỉ nay mai thôi là bố con sẽ về. Cho đến một ngày nó cũng hỏi tôi như vậy nhưng tôi đã không còn nói dối con được nữa. Bởi chồng tôi đã không bao giờ về nữa! Bố của con tôi đã không bao giờ về nữa!

         Tin chồng tôi hy sinh ban đầu chỉ là lời đồn. Nhưng cả tôi và bố không ai tin. Vì xưa nay trong làng ngoài xã vẫn thường có những tin đồn thất thiệt như thế. Có gia đình đã phải mất ăn mất ngủ khóc sưng cả mắt chỉ vì những tin đồn vô căn cứ đó. Nhưng dẫu sao khi phải nghe những tin dữ như vậy cả tôi và bố đều hết sức lo lắng. Đã thế gần đây đêm nào tôi cũng chiêm bao thấy chồng tôi. Những cơn mơ cứ lặp đi lặp lại khi thực thực hư hư nhưng cũng có khi rất rõ ràng cụ thể. Có đêm tôi thấy chồng tôi y như giữa đời thực. Anh nói gì làm gì khi tỉnh dậy tôi vẫn nhớ như in. Nhưng cũng có khi mơ thấy anh sáng ra tôi không nhớ gì nữa. Sau mỗi lần như thế khi thức dậy người tôi bàng hoàng mồ hôi vả ra như tắm. Có một cái gì đó rất khác thường trong con người tôi mà tôi không sao cắt nghĩa được. Tôi cũng không hiểu những mộng mị mà tôi thường gặp ấy là điềm lành hay dữ? Liệu đó có phải là điều không hay đang xảy ra với gia đình tôi không? Và những giấc chiêm bao đêm đêm đến với tôi có phải là dự báo trước về điều chẳng lành ấy?

         Và rồi cái gì đến cũng đã đến. Một ngày cuối năm chỉ cách đó không lâu tôi nhận được tin chồng tôi hy sinh. Lần này không phải là tin đồn nữa mà là tin từ chính tờ giấy báo tử do đơn vị anh chuyển về tận nhà. Cùng với giấy báo tử là một số tư trang còn lại của anh. Bố con tôi nhận được tin mà ngỡ như nghe tiếng sét bên tai cảm thấy choáng váng vì đau đớn. Cả xóm kéo đến chia sẻ nỗi buồn với gia đình tôi. Tôi bỏ ăn nằm bệt một chỗ liền mấy ngày. Tôi đã khóc không biết bao nhiêu là nước mắt. Đã từ lâu rồi nước mắt tôi hình như đã cô lại đặc quánh lại trong nỗi mỏi mòn đợi trông thì nay như được dịp tan chảy ra vỡ òa ra xối xả. Tôi khóc chồng tôi đến độ sưng húp cả mắt. Tôi khóc ngày khóc đêm. Khóc cả khi đang ngủ. Khóc cả trong giấc mơ. Nước mắt tôi hình như cũng cạn kiệt đi qua mỗi lần tôi khóc vì nỗi đau mất chồng.

         Một tháng trôi qua mà tôi vẫn suy sụp không sao gượng dậy được. Đôi khi tôi cố làm ra vẻ cứng rắn lên để động viên bố nhưng mỗi lần nhớ đến chồng tôi là tôi lại ỉu xìu dúm dó như trái bóng xì hết hơi không thiết tha gì nữa. Chính những lúc như thế bố là người đầu tiên nâng đỡ tôi động viên tôi. Tôi biết bố không khóc không kêu trời gọi đất như tôi khi được tin con trai hy sinh nhưng ẩn sau vẻ mặt già nua khắc khổ ấy là cả một nỗi đau chẳng dễ gì phôi phai được. Có thể bố không khóc nhưng mỗi sợi tóc trên đầu bố qua một đêm lại bạc trắng thêm ra. Cái dáng dấp lanh lợi như cũng không ở lại cùng bố nữa. Và cả nụ cười trìu mến ngày ngày tôi gặp cũng lụi tàn đi nhanh chóng để nhường chỗ cho một vẻ mặt đăm chiêu sầu muộn. Có những lần tôi thấy bố ngồi ủ rủ một mình ngoài bờ ao hàng giờ đồng hồ. Tôi đến sát bên bố vẫn không hay biết. Rồi khi tôi gọi phải lần thứ mấy bố mới giật mình nhận ra. Tôi thấy bố gầy hẳn đi trông xác xơ tiều tụy. Đã thế bố chẳng mấy khi chăm chút cho mình. Ngay cả việc cạo râu là việc bố rất siêng nhưng giờ bố cũng để mặc. Cả tóc bố cũng vậy chẳng mấy khi bố chải cho ngay ngắn như trước đây khi có việc phải ra khỏi nhà. Đau thương đã làm bố già đi rất nhiều. Tôi thương bố thường âm thầm giấu đi những giọt nước mắt không để bố biết. Nhưng khi ở cạnh bố chỉ cần thấy bố không còn vui cười như trước hay trong các bữa ăn mỗi khi bố buông đũa đứng dậy là tim tôi lại nhói đau. Tôi không biết phải làm gì để động viên tôi càng không biết phải làm gì để động viên bố. Nên cứ thế để mặc cho nỗi đau trôi theo thời gian.

         Những lúc buồn tôi thỉnh thoảng lại lục dở tư trang của chồng tôi mà đồng đội anh mang từ chiến trường về. Từ chiếc ba lô cũ kỹ đến đôi giày vải rồi chiếc mũ tai bèo...tất thảy mọi thứ đều làm tôi rưng rưng khi được nâng niu chúng trong tay. Cuốn sổ nhật ký của anh tôi đọc đọc lại đến thuộc lòng. Trong gần hai trăm trang anh ghi lại những sự kiện đáng nhớ kể từ ngày nhập ngũ cho đến lúc anh hy sinh thì có tới mấy trăm lần anh nhắc đến tên tôi. Anh dành rất nhiều trang nhật ký để viết về tình yêu của chúng tôi kể từ buổi đầu gặp gỡ. Rồi những ngày ở chiến trường. Hầu như không lúc nào là anh không nghĩ đến tôi. Anh dành trọn vẹn niềm thương nỗi nhớ cho tôi. Anh khao khát sớm được trở về cùng tôi. Trong trang nhật ký đề ngày 17 tháng 3 năm 1968 chỉ hai ngày trước khi hy sinh anh đã viết cho tôi như một bức thư: "Lan ơi! Chỉ còn ít ngày nữa thôi đơn vị anh sẽ bước vào cuộc chiến đấu mới sẽ tấn công lên cao điểm Làng Vây - Khe Sanh. Đây là trận đánh hợp đồng binh chủng lớn nhất từ trước đến nay mà anh được tham gia. Đêm nay bên bờ sông Xêpôn nằm đợi giờ xuất kích trong cái không khí lành lạnh của sương đêm trong cái âm u tĩnh mịch của núi rừng Trường Sơn...anh bỗng thấy nhớ em vô bờ vô bến. Giờ này em còn thức hay là em đã ngủ? Em có biết rằng lúc này đây trước khi vào trận đánh anh đang nghĩ gì không? Vậy là vừa tròn ba năm vợ chồng mình xa nhau rồi Lan nhỉ? Chắc em đã sinh con? Con của chúng ta là gái hay trai hả em? Anh hỏi em thế thôi chứ gái hay trai anh đều vui. Anh ước mình có được đôi cánh thần tiên để ngay từ bây giờ bay về với em và con. Anh chỉ cần được ở bên em và con một lát một lát thôi như thế cũng mãn nguyện lắm rồi. Lan ơi anh yêu em và nhớ em nhiều lắm! Có những lúc anh nhớ em mà cảm thấy ruột gan cồn cào đau đớn. Anh tự trách mình đã không làm gì để em được hạnh phúc. Thôi thì mai này nước nhà thống nhất anh sẽ trở về bù đắp lại tất cả cho em em nhé! Còn bây giờ anh xin dừng lại đây. Anh hôn em và con!".

         Chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ ngày càng mở rộng ra miền Bắc. Con đường cạnh nhà tôi vốn yên ả thanh bình nay cũng trở thành mục tiêu đánh phá của các loại máy bay. Thì ra kẻ địch đã đánh hơi được vị trí chiến lược của con đường này. Ban đầu chúng chỉ ném bom vào các vị trí cầu cống hoặc đánh vào các mục tiêu mà chúng phát hiện. Sau mật độ đánh phá ngày một dày đặc hơn. Chúng đánh ngày đánh đêm đánh vào bất cứ thời tiết nào. Bầu trời lúc nào cũng ong ong tiếng tàu bay và ầm ầm tiếng nổ của các loại bom đạn mà kẻ địch trút xuống. Làng tôi ở cạnh con đường ấy nên cũng nằm trong tầm đạn bom của địch. Thế là cả làng lại phải đào hầm trú ẩn. Lực lượng thanh niên phụ nữ được biên chế vào các đơn vị dân quân trực chiến bắn máy bay Mỹ. Một đơn vị bộ đội pháo cao xạ cũng được điều về đây để bảo vệ con đường. Tôi xin bố ra nhập lực lượng dân quân. Bố tôi đưa cu Sơn năm ấy học vỡ lòng sơ tán đến một xã khác cùng với người già và trẻ em trong làng. Mỗi tuần bố và tôi lại thay nhau lên thăm cháu một lần. Ở dưới này tôi vừa tham gia sản xuất vừa trực chiến cùng bộ đội và dân quân. Tôi khuyên bố lên ở với cháu nhưng bố không nghe. Bố bảo bố đã già cả gì cho lắm mà phải đi sơ tán. Ở huyện bên còn có cả một trung đội dân quân là các cụ phụ lão vẫn ngày ngày bám trụ chiến hào bắn cháy máy bay Mỹ thì sao.

         Đã gần bốn năm kể từ ngày chồng tôi hy sinh tôi thấy bố chưa một lần than vãn điều gì. Bố chỉ buồn và nỗi buồn cũng chỉ âm thầm lặng lẽ trong lòng chứ chưa một lần bố thốt ra thành lời. Nhiều lần tôi để ý thấy bố muốn nói với tôi một điều gì đó nhưng rồi lại thôi. Tôi nghĩ chắc là bố chưa tiện nói ra. Mãi gần đây trong một lần khi hai bố con đang ở nhà tự nhiên bố gọi tôi lại và bảo: "Lan à con đã về đây sống với bố được mấy năm nay. Ngọt bùi chưa thấy đâu mà đắng cay thì đã muôn phần con chịu. Tình cảm bố dành cho con thế nào con cũng biết. Nay chồng con vì đất nước mà hy sinh để con phải dang dở giữa chừng. Nếu con vẫn thuận lòng ở lại đây cùng bố thì từ nay bố xin được xem con như là con gái của bố. Con có điều gì cần chia sẻ thì cũng đừng ngại khi phải giải bày với bố nghe con. - Tôi chưa kịp trả lời thì bố đã lại nói -  Nhưng bố cũng không muốn con phải phí hoài tuổi xuân của mình chỉ vì những chuyện đã qua. Bởi tất cả những chuyện đó đã vĩnh viễn mất đi rồi đã không bao giờ còn lấy lại được nữa rồi. Con còn trẻ tương lai của con còn rất dài. Con hãy dành cho mình cái quyền được làm lại hạnh phúc từ đầu. Bố sẵn sàng ủng hộ con và lúc nào bố cũng mong con hạnh phúc...". Tôi đọc được trong câu nói của bố là cả một tấm lòng. Có lẽ là vì bố thương tôi không muốn tôi phải chịu cảnh góa bụa không muốn tôi phải giam hãm đời mình trong cảnh đơn côi. Bố muốn tôi đi bước nữa. Bố muốn tôi tìm cho mình một người đàn ông khác để trao thân gửi phận xây đắp hạnh phúc mới. Chắc hẳn bố phải cân nhắc kỹ lắm suy đi nghĩ lại nhiều lắm bố mới có thể nói với tôi như vậy.

         Từ ngày chồng tôi hy sinh cho đến nay dù nỗi đau đã phần nào nguôi ngoai nhưng chưa bao giờ tôi có ý nghĩ là tôi sẽ tìm cho mình một người đàn ông khác. Tôi biết tôi vẫn trẻ. Và theo như đánh giá của cánh đàn ông mà tôi tình cờ nghe được thì về mặt hình thức tôi vẫn còn mặn mà duyên dáng lắm! Có người còn cho tôi là trẻ đẹp không thua kém gì các cô gái mười tám đôi mươi. Chả thế mà có không ít người đàn ông đã theo đuổi tôi chết mê chết mệt vì tôi. Tán tỉnh tôi nồng nàn và tha thiết hơn cả là anh Lường sỹ quan đơn vị pháo cao xạ. Anh Lường gặp và làm quen tôi trong những lần tôi cùng dân quân đi tham gia trực chiến với đơn vị anh. Phải thừa nhận anh Lường rất đẹp trai. Tính tình anh lại vui vẻ nên lần đầu khi gặp anh mới chỉ tiếp xúc sơ sơ không những tôi mà các chị các cô ai cũng mến. Ban đầu tôi cũng chỉ nghĩ đơn giản tôi và anh quen nhau cùng lắm thì cũng chỉ là tình anh em tình quân dân chứ có gì mà phải giữ kẻ. Không ngờ anh đã tìm hiểu về tôi khá kỹ từ hồi nào. Càng về sau tôi càng để ý thấy anh muốn tìm cách gần gũi để được trò chuyện với tôi. Biết anh là người đàng hoàng vui tính nên tôi chẳng nề hà gì. Trái lại có lúc tôi còn tỏ ra quý mến anh hơn hẳn những người khác trong đơn vị. Thế rồi trong một lần tiễn tôi về nhà anh đã bất ngờ tỏ tình với tôi. Tôi một hai từ chối anh thẳng băng không xót xa lưu luyến. Nhưng anh đã không tỏ ra giận dỗi hay thất vọng. Mà trái lại mọi cử chỉ lời nói của anh càng hết sức từ tốn. Anh nói vì quá thương tôi yêu tôi nên anh mạnh dạn tỏ tình với tôi. Kể ra như thế có hơi bất ngờ thậm chí trong một chừng mực nào đó còn có phần suồng sả nhưng anh không thể không nói ra nỗi lòng mình. Anh sợ từ nay về sau sẽ không có một cơ hội nào tốt hơn nữa để anh giãi bày cùng tôi. Anh cũng biết là khi nói ra điều hệ trọng này chắc chắn tôi sẽ từ chối. Nhưng anh mong tôi hãy tha thứ và đừng giận anh về sự tỏ tình đường đột này. Dù sau này tôi có bằng lòng hay không bằng lòng yêu anh thì anh cũng không bao giờ trách cứ hay giận dỗi gì tôi cả. Sau lần ấy anh Lường còn chủ động gặp tôi mấy lần nữa. Những lần sau này tôi không thẳng băng như lần trước nhưng cũng không hẳn đã nhận lời anh. Tôi thấy tôi như một kẻ đang đứng trước ngã ba đường mà chưa biết phải rẽ về lối nào.

         Chuyện giữa tôi và anh mới chỉ đến đó mà đã có khối người biết. Mấy chị cùng làng cứ nằng nặc khuyên tôi là nên đến với anh Lường ngay đi đừng để tuột mất cơ hội...ngàn vàng này. Qua cách nhìn nhận đánh giá của các chị thì anh Lường đúng là mẫu đàn ông lý tưởng mà không phải người phụ nữ nào cũng có cơ may với được. Có chị còn bướm ong hoa lá rằng mày dại lắm Lan ơi ôm khư khư gì nỗi đau quá khứ cho thiệt thân hãy tỉnh ngộ lại đi mà đón chào một ngày mới tươi đẹp với rất nhiều hoa thơm và nắng hồng ở phía trước! Mỗi người một cách nhưng xem ra ai cũng chân thành. Tôi biết trái tim tôi chưa đến nỗi chai lỳ nên không phải không rung động trước những tình cảm tốt đẹp mà anh Lường đã dành cho tôi. Từ nơi sâu thẳm của lòng mình tôi biết tôi đã dành một góc nho nhỏ cho riêng anh. Mỗi lần nghĩ đến anh thì chính từ nơi đã từng rớm máu ấy của lòng tôi lại dấy lên một tình cảm vừa âm thầm vừa mãnh liệt. Nhưng không hiểu sao tôi vẫn chưa đủ tự tin để cởi mở lòng mình. Có lẽ qua người này người kia bố tôi cũng đã ít nhiều biết được chuyện này. Thì đúng vậy thật. Bố không những biết mà còn rất quan tâm đến việc anh Lường và tôi. Tôi nghe anh Lường kể là đã có lần bố tôi ra tận trận địa pháo để gặp anh. Bố gọi anh ra một góc hỏi han anh đủ thứ. Rồi bố nói với anh đại để con Lan nó là con dâu tôi nhưng cũng là con gái tôi vì thế tôi cần phải biết anh là người thế nào. Sau bố đổi cách xưng hô nhẹ nhàng nói với anh nếu cháu thực lòng thương yêu con Lan nhà bác và sau này nhất định mang lại hạnh phúc cho nó thì bác sẽ hết lòng vun vén cho hai đứa. Có lẽ bây giờ nó còn ngập ngừng chưa dứt khoát với cháu lý do gì chắc cháu cũng biết...Nhưng rồi bác tin là nó sẽ đồng ý. Cháu hãy kiên trì và chờ đợi. Thảo nào có lần bố nói với tôi rất vui vẻ: "Chuyện giữa con với anh bộ đội bố đã nghe qua. Bố rất mừng. Thôi thì con hãy bằng lòng với người ta đi. Cái anh bộ đội tên Lường ấy bố thấy được lắm! Bố nhìn người bố biết. Anh ấy thực lòng thương yêu con đấy con hãy cho anh ấy một cơ hội. Với lại con cũng đừng quá nặng lòng với chồng con nữa. Hãy vui lên mà đón lấy hạnh phúc đang đến với con. Chồng con dưới suối vàng chắc cũng mong  con như vậy. Nếu như nó biết nó hy sinh thì bố tin lời trăng trối cuối cùng của nó dành cho con là thấy con được hạnh phúc chứ không phải thấy con sống mãi như thế trong khổ đau...". Tôi rơm rớm nước mắt nói với bố: "Nhưng con không muốn xa bố. Bố đã mất nhà con rồi bây giờ lại mất thêm con nữa bố sẽ sống ra sao. Con chỉ muốn cả đời này được ở cạnh bố được đói no bố con bên nhau thôi". Bố gạt đi: "Đi lấy chồng chứ mất cái gì mà mất! Thôi nghe lời bố đi! Chiều nay thằng Lường nó sẽ đến chơi liều liệu mà tiếp nó đừng để nó ra về mặt mày ủ rà ủ rủ bố thấy tội lắm!".

         Một năm sau tôi và anh Lường tổ chức lễ thành hôn. Nói thì to tát thế chứ lễ cưới của chúng tôi chỉ gọn ghẽ có mấy mâm cơm còn chủ yếu là bánh kẹo cau trầu...cốt để "hợp thức hóa" cái danh nghĩa vợ chồng và gặp gỡ đôi bên gia đình cô dâu chú rể. Thật buồn cười khi anh chính trị viên đơn vị giới thiệu sự hiện diện của hai gia đình. Tưởng có ai lại hóa ra chỉ có bố tôi vợ chồng em Vui là đại diện cho nhà gái và mấy anh bộ đội thay mặt đơn vị đại diện cho nhà trai. Khách đến dự chỉ toàn bộ đội và dân quân. Do điều kiện chiến tranh nên trước đó cả tôi và anh Lường cùng bàn với nhau là không nên mời bố mẹ đẻ hay bất kỳ ai ruột thịt vào dự lễ cưới. Sau này mọi việc xong xuôi sẽ chỉ báo tin vui. Anh Lường cũng nhất trí với tôi là chỉ tổ chức đơn giản vì dẫu sao tôi cũng đã một lần đò. Còn anh là trai tân chưa vợ lẽ ra cũng nên làm...to to một tý nhưng chiều tôi anh bằng lòng và còn nói vui thêm chuyện đó to nhỏ anh không cần anh chỉ cần có tôi và hai đứa sống với nhau hạnh phúc là đủ.

         Sau lễ cưới không lâu thì Mỹ tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc. Anh Lường theo đơn vị hành quân vào phía trong. Rồi cứ thế anh đi một mạch cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng mới trở về. Lúc ấy bé gái của chúng tôi đã gần hai tuổi. Và cu Sơn đã bước vào lớp bốn. Anh Lường chuyển về công tác ở bộ tư lệnh quân khu với quân hàm trung tá. Hàng tuần cứ vào ngày chủ nhật anh lại về nhà. Anh nói với bố là sau này khi nghỉ hưu anh cũng sẽ ở lại đây. Anh sẽ coi nơi đây là quê hương thứ hai của anh. Mấy năm sau nữa theo nguyện vọng của bố vợ chồng tôi làm một chuyến hành hương vào chiến trường Quảng Trị tìm và cất bốc hài cốt anh Mừng đưa về quê nhà.

         Bố tôi năm ấy tròn tám mươi tuổi nhưng vẫn còn khỏe và minh mẫn lắm! Mấy năm nay bố chỉ quẩn quanh ở nhà trông cháu hoặc đến chơi với mấy ông bạn già trong xóm. Những khi nhớ việc buồn bã chân tay bố thường ra bờ ao cho cá ăn. Hoặc cũng có khi bố ra tận ngoài đồng xem lúa má một lúc rồi về. Năm ấy anh Lường được nghỉ phép vợ chồng tôi xin phép bố đưa các cháu về thăm quê một chuyến. Nhưng vừa ra đến quê chưa được mấy ngày thì tôi nhận được tin bố tôi đang ốm rất nặng khả năng không qua khỏi. Chúng tôi ù chạy ra bến xe. Và mãi hơn một ngày sau khi chúng tôi về đến nhà thì bố đã trong tình trạng hôn mê. Tôi lao vào ôm lấy bố lay gọi. Thật kỳ lạ đã mấy ngày bất tỉnh vậy mà khi tôi cất tiếng gọi thì bố tôi từ từ mở mắt ra nhìn tôi. Lúc ấy ai cũng bảo là bố chỉ chờ tôi về gặp cho được tôi rồi bố mới đi. Bàn tay bố lần nắm tay tôi. Đôi môi bố mấp máy như còn muốn dặn dò tôi điều gì. Tôi không biết bố nói gì nhưng cũng cứ gật đầu lia lịa với bố như là mình đã nghe rõ. Tôi thấy trên mắt bố hai giọt lệ lăn ra. Rồi chỉ lát sau bố tắt thở. Tôi choàng tay ôm lấy bố gục đầu trên ngực bố cả người tôi rung lên theo những tiếng nức nở...
(Hết)
N.N.C
Những truyện ngắn sẽ được giới thiệu trong thời gian tới:
Giọt nước mắt muộn màng Đêm - miền biên ải Hoa hậu làng Blogs Người đàn bà xa xứ Mùa bông điên điển Ông Tám Râu Người hát khúc dân ca...và một số truyện ngắn khác.

More...

BỐ CHỒNG TÔI - NNC

By NGUYỄN NGỌC CHIẾN

 

NGUYỄN NGỌC CHIẾN

Bố chồng tôi

TRUYỆN NGẮN

       
      
Quê tôi ở một tỉnh trung du phía bắc nơi có những rừng cọ đồi chè từng một thời đi vào thơ ca nhạc họa. Để đến bây giờ sau mấy chục năm "cất bước theo chồng về xứ lạ" chỉ cần nghe ai đó nhắc đến câu thơ này thôi là trong lòng tôi đã lại trào dâng một nỗi nhớ thương da diết về mảnh đất nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Thời con gái tôi yêu anh Mừng là bộ đội xe tăng đóng quân ở làng tôi. Anh Mừng năm ấy gần ba mươi tuổi và đã là một sỹ quan trưởng xe. Tuy hơn tôi gần chục tuổi nhưng trông anh vẫn rất trẻ. Anh lại có một thân thể khỏe mạnh và cường tráng đúng với mẫu đàn ông mà tôi hằng ao ước về người bạn đời của mình. Đám cưới của hai chúng tôi do gia đình tôi và đơn vị anh đứng ra tổ chức. Nhà trai do điều kiện thời chiến lại xa xôi nên không ai có mặt. Tuy vậy nhưng đám cưới vẫn rất vui. Đặc biệt là tôi và anh Mừng rất yêu nhau nên khi thành vợ chồng thì chúng tôi sống với nhau rất hạnh phúc. Sau đám cưới trong một đêm nằm bên nhau chồng tôi có bàn với tôi là sau này sẽ đưa tôi về sống cùng với gia đình anh ở một tỉnh miền Trung. Tôi chưa một lần đến quê anh nhưng nghe anh kể thì tôi biết quê anh cũng là vùng nông thôn nghèo khó như quê tôi vậy. Chỉ có điều là xa rất xa. Thuyền theo lái gái theo chồng tôi nghĩ vậy nên đồng ý ngay. Tuy nhiên đó mới chỉ là lời bàn còn đi hay không và bao giờ đi thì chúng tôi vẫn chưa ấn định được thời gian cụ thể. Thế rồi chỉ sau đó không lâu đơn vị chồng tôi có lệnh hành quân gấp vào chiến trường. Lệnh đến từ chiều hôm trước thì đến tối hôm sau đã lên đường. Dù bất ngờ nhưng anh cũng kịp sắp xếp để đưa tôi cùng về quê với anh. Vậy là tranh thủ luôn được chuyến xe. Thủ trưởng đơn vị anh đồng ý cho tôi cùng đi vì đằng nào khi vào chiến trường xe cũng ngang qua đấy. Với lại có vợ đi cùng chồng tôi còn được đơn vị cho nghỉ thêm hai ngày để đưa tôi về tận quê. Thế là dù phải gấp gáp ra đi nhưng chúng tôi vẫn có những giây phút mặn mà bên nhau. Và anh điều may mắn hơn cả là được gặp lại quê hương người thân một lần cuối trước khi vào chiến trường.

         Hôm về đến nhà mới đầu ngõ tôi thấy có mấy người ra đón. Anh dắt tay tôi đến trước mặt một người. "Đây là bố em chào bố đi!". Tôi lễ phép cúi đầu: "Con chào bố ạ!". Bố chồng tôi nhìn tôi rất trìu mến. Nhưng bố chưa kịp nói gì thì chồng tôi đã nhanh nhảu: "Thưa bố đây là Lan vợ con. Con đưa vợ con về đây sống cùng bố và em". Một thoáng ngỡ ngàng trên khuôn mặt già nua khắc khổ của bố. Rồi như chợt hiểu ra bố lại nhìn tôi: "Ừ bố rất vui! Các con vào nhà đi! Vào đi! Nào con - bố nói với tôi - con đưa túi đây bố xách cho". Hai tay bố đỡ lấy chiếc túi xách từ tay tôi và dẫn chúng tôi vào nhà. Trước đây khi mới yêu nhau tôi cũng đã được chồng tôi cho biết là gia đình anh hiện nay ở quê chỉ có bố anh và cô em gái. Mẹ anh mất cách đây đã lâu. Anh chỉ có hai anh em. Hồi anh đi bộ đội thì Vui em gái anh đang học cấp ba. Nay chúng tôi về Vui đã là một thiếu nữ xinh xắn vừa tròn tuổi hai mươi. Trong bữa cơm thân mật vừa để giới thiệu tôi với họ hàng vừa để chia tay chồng tôi vào chiến trường bố tôi ngậm ngùi nói: "Nghe đài bố biết tình hình trong ấy bây giờ đang có những chuyển biến lớn có lợi cho ta. Quân địch ngày càng lâm vào thế bị động và bị ta tấn công khắp nơi. - Bố tôi nhìn chồng tôi - Con cứ an tâm mà ra đi không phải lo nghĩ gì mọi việc ở nhà đã có bố lo liệu. - Rồi nhìn sang tôi bố tôi nói - Đầu năm nghe các con tổ chức lễ cưới bố mừng lắm mà không biết làm sao để có mặt trong ngày vui của các con được. Bố thật có lỗi với con và ông bà ngoài ấy quá! Bây giờ thì bố rất vui vì con đã về đây sống cùng bố. Tuy nhiên bố cũng rất hiểu và thông cảm cho hoàn cảnh của con hiện tại...Nhưng rồi chiến tranh sẽ kết thúc chồng con sẽ trở về vợ chồng lại đoàn tụ cùng nhau con ạ! Con hãy cố gắng lên. Còn bây giờ thì hãy sống vui vẻ cùng bố và em. Từ nay cha con ta sẽ dựa vào nhau...".

         Đêm ấy nằm với chồng tôi trong buồng tôi thấy bố cứ thỉnh thoảng lại ngồi dậy mở cửa đi ra ngoài sân. Một lúc lại thấy bố đi vào ngồi lặng lẽ một mình trong đêm tối. Rồi lại thấy bố đi đến bên bàn thờ nơi đặt di ảnh của mẹ chồng tôi. Tôi thấy bố thắp hương thì thầm khấn vái rất lâu. Tôi đoán chắc là bố đang rất buồn vì chỉ sáng mai thôi là chồng tôi đã ra đi. Bố muốn nói gì đó với mẹ về chồng tôi về tôi và cả về những gì đang âm thầm day dứt trong lòng bố. Theo như lời chồng tôi thì gần hai năm nay rồi bố con anh mới gặp lại nhau. Hai năm xa cách chỉ gặp lại nhau có hai ngày để rồi lại phải xa nhau. Tôi để ý từ hôm qua đến nay hầu như lúc nào bố cũng ở cạnh anh khi ngoài bờ ao lúc bên bàn nước hai cha con luôn nhỏ to trò chuyện. Tôi hỏi thì chồng tôi bảo là bố chỉ dặn dò động viên anh. Nhưng anh cũng cho biết là bố rất buồn và rất lo cho chồng tôi khi anh phải ra trước đường tên mũi đạn. Bố sợ nếu chẳng may anh có mệnh hệ gì thì làm sao bố sống được. Rồi còn cả tôi nữa tôi sẽ sống ra sao nếu vắng anh? Ngay như lúc này đây khi chồng tôi ra đi tôi có vui vẻ có an tâm mà sống ở đây cùng bố không? Bởi theo bố bây giờ dẫu sao cũng còn có em Vui ở nhà tôi sẽ có chị có em mọi chuyện vui buồn chị em có thể thủ thỉ thù thì tâm sự cùng nhau nhưng chỉ nay mai Vui cũng sẽ đi bố biết xoay xở thế nào. Không phải là bố ngại khó ngại khổ. Vì tôi bố có thể làm bất cứ điều gì để tôi được sống vui vẻ. Nhưng còn biết bao những chuyện không tên khác. Thà ở vị trí bố là một người mẹ chồng mọi việc sẽ đơn giản hơn rất nhiều. Bố rất vui khi biết tôi đã mang thai. Bố an ủi chồng tôi sẽ chăm sóc tôi lo cho tôi được mẹ tròn con vuông.

         Đêm ấy vợ chồng tôi cũng không ai ngủ được. Chỉ còn đêm nay nữa thôi sáng sớm mai đã là lúc anh ra đi đã là lúc anh và tôi chia tay nhau mà chưa biết bao giờ gặp lại. Có thể nơi chồng tôi đến sẽ là mặt trận nóng bỏng và ác liệt nhất. Có thể một mai chiến tranh sẽ vĩnh viễn cướp đi người chồng thân yêu của tôi để tôi phải đơn độc một mình trên cõi đời này. Suốt đêm tôi cứ trằn trọc thao thức bởi những suy nghĩ vớ vẩn ấy. Càng nghĩ tôi càng thấy thương anh và lo cho hạnh phúc của mình. Không ai lại không lo lắng khi nghĩ đến điều đó. Huống hồ tôi một phụ nữ mới chỉ đầu gối tay ấp cùng chồng chưa được bao lâu. Tôi nằm bên anh vùi đầu vào ngực anh. Anh cũng quàng tay ôm chặt lấy tôi thủ thỉ tâm sự cùng tôi rất nhiều. Anh thương tôi phải vào đây vất vả mà anh thì không được ở bên cạnh để chăm sóc giúp đỡ tôi hàng ngày. Đã thế từ nay khi vắng anh mọi việc ở nhà chỉ còn biết trông cậy cả vào tôi. Anh nhờ tôi chăm sóc bố thay anh. Và cả chờ anh ngày chiến thắng trở về. Nước mắt tôi thấm đẫm trên vai anh trên ngực anh nhòa nhuện trên gương mặt mỗi người. Sáng hôm sau chồng tôi ra đi rất sớm. Cả nhà tôi tiễn anh ra tận con đường đầu làng. Trước lúc bước lên chiếc xe quân sự anh nắm tay tôi ấp cả hai bàn tay tôi lên ngực anh. Rồi như không ngăn được cảm xúc của mình anh ôm chặt lấy tôi nhìn âu yếm vào mắt tôi. Giọng anh nghẹn ngào: "Lan hãy chờ anh! Nhất định anh sẽ trở về!". Tôi không nói được câu nào chỉ khẽ áp mặt vào ngực anh. Tiếng xe xích gầm lên. Anh vội vã hôn một cái lên môi tôi rồi từ từ buông tay tôi ra. Tôi đứng lặng nhìn theo đoàn xe cho đến khi khuất hẳn mới trở về nhà. Nằm một mình trong buồng tôi nhớ anh da diết. Tự dưng nước mắt tôi lại trào ra.

         Tôi về nhà chồng được khoảng ba tháng thì Vui em chồng tôi có giấy báo đi thanh niên xung phong. Thực ra nó không nằm trong diện phải đi trong đợt này nhưng thấy bạn bè hết lượt này đến lượt khác nô nức lên đường ra tiền tuyến nên nó cũng đâm đơn xin đi cho kỳ được. Từ hôm nó đi nhà cửa trở nên quạnh quẽ buồn không sao tả được. Đã thế nhà tôi lại ở một mình thoi loi giữa đồng ít người lui tới nên càng thêm trống trải. Bố tôi bảo xưa kia nhà tôi ở cùng một xóm với người ta trong kia nhưng từ hơn chục năm nay do đam mê với nghề nuôi cá nên bố tôi đã xin chuyển hẳn ra ở ngoài này cho tiện việc nuôi giữ. Vậy nên cùng một làng một xã mà nhà tôi như tách hẳn ra thành một cõi riêng biệt. Tuy vắng vẻ nhưng ở đây quanh năm lúc nào cũng mát mẻ nhất là về mùa hè gió cứ lồng lộng suốt từ sáng đến tối. Lại được cái ngay từ hồi mới ra ở bố tôi đã trồng rất nhiều các loại cây lưu niên quanh nhà. Nên giờ nhìn bốn phía nơi nào cũng rợp bóng cây xanh trông rất hiền hòa và thơ mộng. Ở ngoài này bố tôi vừa tham gia tổ cày của đội sản xuất vừa nuôi cá rồi còn kiêm luôn cả việc làm nhân viên bảo vệ cho hợp tác xã. Lúc nào tôi cũng thấy bố luôn chân luôn tay chả mấy khi được nghỉ ngơi. Từ sáng sớm tinh mơ cho đến khi hoàng hôn buông xuống lúc nào bố cũng cùi cụi ngoài đồng. Từ hôm em chồng tôi ra đi mọi việc đều dồn cả lên vai bố. Tôi thỉnh thoảng vẫn giúp bố việc nhà nhưng bố đều gạt đi. Bố bảo con cứ tạm thời nghỉ ngơi tĩnh dưỡng khi nào sinh nở xong rồi hẵng làm gì thì làm chứ bây giờ con làm thế nhỡ ra có chuyện gì  sau này bố biết ăn nói thế nào với chồng con. Bố rất lo cho sức khỏe của tôi nên không để tôi phải nhúng tay vào bất cứ việc gì. Tôi để ý từ khi bước chân về nhà chồng không gặp bố thì thôi chứ đã gặp bao giờ tôi cũng thấy bố cười một nụ cười vừa ấm áp vừa trìu mến khiến tôi quên dần đi những lo toan bỡ ngỡ ban đầu. Trong những bữa ăn bố thường tự tay gắp thức ăn bỏ vào bát tôi. Bố bảo con hãy ăn nhiều thật nhiều để giữ gìn sức khỏe. Thái độ của bố đối với tôi thật ân cần tựa như người mẹ chồng chăm chút cho nàng dâu.

         Chồng tôi ra đi hơn nửa năm vẫn không một chút tin tức gửi về. Cả em chồng tôi cũng vậy. Trong khi đó thì đài báo ngày ngày vẫn đưa tin về chiến sự ở miền Nam. Chiều nào tôi cũng lững thững một mình ra đứng trước nhà nhìn về phương nam mà lòng đầy thấp thỏm lo âu. Con đường phía bên kia cánh đồng cách nhà tôi không xa lắm ngày ngày vẫn tấp nập hối hả những đoàn người đoàn xe hướng ra tiền tuyến. Những đám bụi mù mịt bốc cao. Tiếng xe gầm rú tiếng hò hát của bộ đội của thanh niên xung phong nghe rộn rã cả một quãng đường. Những lúc ấy tôi cảm thấy mình vui hẳn lên. Tôi chỉ muốn chạy đuổi theo đoàn quân ấy níu áo các anh các chị gửi lời thăm hỏi chồng tôi. Và đã một lần tôi đã định đuổi theo. Tôi đem chuyện ấy kể với bố tôi. Nghe xong bố tôi cười bảo con làm cứ như ai ra mặt trận cũng đều được gặp nhau không bằng. Chiến trường rộng lớn lắm làm sao người ta lại có thể gặp được thằng Mừng mà con gửi lời hỏi thăm nó được. Thấy tôi buồn bố lại an ủi động viên tôi nhưng mà Lan à biết đâu sẽ có người vào trong ấy rồi gặp được chồng con cũng nên. Quả đất xoay tròn mà. Để hôm nào bố ra ngoài ấy gặp các anh bộ đội chuyển lời của con cho nó. Tôi để ý thấy bố nói chuyện với tôi thì có vẻ rất vô tư nhưng trong lòng bố thế nào tôi biết cả. Hơn cả tôi bố cũng mong tin chồng tôi và em chồng tôi từng ngày một. Mỗi buổi chiều đi làm về tôi thường thấy bố ra đứng ở bờ ao với vẻ mặt đầy tư lự. Hoặc trong những bữa cơm tự dưng bố buông đũa rồi ngồi ngẩn ra. Lại có những đêm bố liên tục ngồi dậy vấn thuốc hút. Rồi cả những tiếng thở dài mà tôi vốn quen thấy ở bố từ ngày chồng và em chồng tôi ra đi. Dù chưa một lần bố than thở với tôi điều gì nhưng tôi cũng hiểu được những âu lo quặn xé trong lòng bố. Bằng cảm giác của một người vợ có chồng ra trận tôi hiểu bố đang lo nghĩ rất nhiều cho các con mình. Trong khi đó thì chỉ riêng ở một cái làng quê nhỏ bé này thôi thỉnh thoảng lại có giấy báo tử từ chiến trường gửi về. Những vòng khăn tang lại trắng xóa trên những mái đầu của biết bao những người vợ người mẹ người con...vừa mất đi người thân của mình. Và trên con đường được gọi là "con đường chiến lược" cách nhà tôi không xa ấy lẫn trong những đoàn xe ra trận vẫn có những chiếc xe chạy ngược chiều. Đó là những chiếc xe chở những người lính bị thương những người không còn khả năng chiến đấu trở về hậu phương.

         Cái thai trong bụng tôi mỗi ngày một to dần lên. Tôi tính từng ngày một và biết rằng mình đã mang thai đến tháng thứ tám. Tôi đi đứng nặng nề   chậm chạp lạch bà lạch bạch chẳng khác gì chú vịt xiêm. Bố mua về một ít vải loại vải màu trắng đục mỏng như màn mà nghe đâu phải khéo nói lắm người ta mới bán cho bảo tôi cắt may lấy ít tã lót. Còn bố bố cũng chặt tre đan sẵn một cái nôi thật đẹp để đấy. Biết tôi gần đến ngày sinh nở bố chăm lắm! Bố lo cho tôi từ bữa ăn đến căn dặn tôi từng ly từng tý một. Tôi không ngờ một người đàn ông già cả như bố mà lại biết rất nhiều những việc mà người phụ nữ trước khi sinh nở phải làm. Vì quá quan tâm đến tôi mà bố đã làm cả những việc mà lẽ ra bố không nên làm. Có một lần áo quần tôi thay ra ngâm ở chậu chưa kịp giặt đã thấy bố giặt và phơi ở dây rồi. Tôi ái ngại quá nói với bố thì bố bảo cái thềm giếng rất trơn bố sợ tôi ra đó rồi ngã. Bố dặn tôi khi nào cần tắm táp hay giặt giũ gì thì con đừng có ra ngoài giếng nữa mà hãy vào hẳn trong nhà tắm. Từ hôm đó chiều nào bố cũng múc nước để sẵn trong nhà tắm cho tôi. Rồi bố còn dặn tôi khi nào con thấy trong người có hiện tượng gì khác thì hãy nói ngay cho bố biết để bố còn kịp gọi nhân viên y tế. Thời gian này bố ít đi làm xa. Có đi đâu bố cũng chỉ nhoáng một lát rồi nhanh nhanh về cùng tôi. Bố đứng ngoài cửa buồng nhìn vào và khi đã chắc chắn tôi vẫn bình thường bố mới lại ra vườn quẩn quanh làm gì đấy. Những lúc như thế tôi vừa thấy buồn cười vừa thương bố không để đâu cho hết.

         Mùa đông năm ấy đến sớm hơn thường lệ. Mới chỉ tháng mười ta mà đã có những đợt rét đậm đầu mùa. Trời lại suốt ngày mưa. Mưa dầm dề tê tái. Mưa dai dẳng kéo từ ngày này qua ngày khác như không bao giờ dứt. Cây sầu đông trước cửa nhà tôi mới ngày nào đó còn sum suê cành lá mà nay đã trơ trụi dần. Tôi nhẩm tính ngón tay và biết rằng ngày sinh nở của tôi đã rất gần. Chắc cũng chỉ còn trên dưới nửa tháng nữa là nhiều. Người ta bảo người mẹ mang thai đủ chín tháng mười ngày mới sinh nhưng trong thực tế mấy ai được đúng rắp như thế. Có người còn đẻ non cả tháng trời nữa cơ mà. Tôi sinh con so nên chả có tý chút kinh nghiệm gì về bản thân. Thôi thì cứ phó thác cả cho tạo hóa.

         Một đêm đã rất khuya có lẽ phải quá nửa đêm trời lại đang giữa lúc gió mưa tầm tã tự nhiên tôi thấy đau râm rẩm ở bụng. Tôi nghĩ chắc là đau bụng gió như mọi khi nên vội ngồi dậy xoa tý dầu cao. Không ngờ cơn đau cứ càng lúc càng tăng. Rồi đau dữ dội. Đau chưa từng đau như thế bao giờ. Người tôi mồ hôi vả ra. Tôi rên lên và bấu chặt vào tấm chăn. Đến lúc này thì tôi biết chắc chắn là tôi đã trở dạ. Nhưng sao lại có thể sớm hơn so với thời gian mà tôi đã tính toán từ trước. Đúng ra phải là gần cuối tháng này mới đến ngày tôi sinh nở. Vậy là tôi thiếu ngày. Nói chính xác là thiếu tới hơn một chục ngày. Bây giờ phải làm sao đây giữa đêm hôm khuya khoắt gió mưa này? Chẳng có nhà ai ở quanh đây cả. Đã thế trạm xá xã lại ở tít tận trong xóm. Liệu bố tôi có kịp đi gọi người làng đến đưa tôi ra trạm không? Từ gian ngoài nghe tiếng tôi bố tôi lật đật chạy vào. Bố vặn to ngọn đèn rồi ngồi xuống cạnh tôi hai tay bố cứ lóng nga lóng ngóng mà không biết phải làm gì. Phải một lúc bố mới thốt được nên lời: "Chắc là con chuyển dạ rồi đấy con ạ!". "Bố ơi con đau lắm! Đau không thể chịu nổi! Con chết mất bố ơi! - Tôi cắn chặt mép chăn cố nói với bố - Bố...bố đi gọi hộ lý cho con đi bố...". "Không kịp nữa đâu...Từ đây ra trạm xá gần nửa cây số...không kịp đâu...Để...để bố đưa con đi...". Bố nói rồi chạy ra gian ngoài mang vào một tấm nilon. Bố đỡ tôi ngồi dậy quàng nilon lên người tôi. Bố còn cẩn thận khoác thêm một tấm nilon khác ra bên ngoài cho thật kín rồi mới nói với tôi: "Bây giờ con chịu khó để bố đưa con ra ngoài trạm xá. Nào nhanh đi con!". Vừa nói bố vừa bế bổng tôi lên. Một tay bố đỡ hai chân tôi. Một tay bố đỡ lấy lưng tôi. Bố bảo tôi quàng tay ôm lấy cổ bố. Rồi cứ thế bố lao ra giữa trời mưa. Dọc đường bố vừa đi vừa chạy. Mưa vẫn ràn rạt quất vào nilon lộp bộp lộp bộp từng hồi không dứt. Rồi gió. Gió thong thóc như muốn xô đổ hai bố con tôi. Tôi lúc ấy tuy rất đau vẫn mường tượng được điều gì đang diễn ra. Tôi biết bố đang rất mệt khi phải gắng gượng làm một việc quá sức. Có lúc tôi thấy bố loạng choạng khi bước những bước nặng nhọc trên con đường đất lầy lội trơn như đổ mỡ. Lại có lúc tôi thấy cả người bố chao đảo như không thể bước được nữa. Trong khi đó thì trời lại tối đen như mực và gió mưa vẫn từng hồi trút xuống. Cả người bố từ đầu đến chân chắc đã ướt hết. Bởi nhà chỉ có hai tấm nilon mà bố đã quàng cả cho tôi. Tôi có cảm tưởng bố tôi như đang run lên trong gió mưa lạnh lẽo. Và có thể bố sẽ cạn kiệt sức lực mà ngã khuỵu xuống bất cứ lúc nào. Nhưng không! Bố vẫn cứ đi. Hình như có một sức lực nào đó tiếp thêm cho bố giúp bố kịp đưa tôi ra đến nơi. Tôi đã sinh ngay khi vừa đến trạm xá. Một bé trai xinh xắn bụ bẫm. Tuy bé tý mà nó đã giống chồng tôi lạ lùng. Hôm từ trạm xá về nhà mặc dù đang bị cảm lạnh chưa khỏi hẳn bố vẫn ra tận đầu ngõ đón mẹ con chúng tôi. Có một cái gì đó bất chợt dâng lên trong lòng ngực khiến tôi nghẹn ngào khi vừa nhìn thấy bố. Tôi phải cố nén để nước mắt đừng trào ra. Nhưng đến khi vào nhà trao cháu nội cho bố bế tôi không thể nào nhịn được nữa. Tôi quàng tay ôm lấy bố ôm lấy con rồi gục đầu vào vai bố òa khóc nức nở...
(Còn nữa)
N.N.C

More...

CHUYỆN TÌNH CỦA LÍNH - NNC

By NGUYỄN NGỌC CHIẾN

 

NGUYỄN NGỌC CHIẾN

Chuyện tình của lính

TRUYỆN NGẮN

         
          Tốt nghiệp ra trường Thường về nhận công tác tại một đơn vị quân đội  đang đóng quân ở một thành phố miền Trung. Theo dư luận thì Thường thuộc vào hàng sỹ quan có tuổi đời trẻ nhất được đào tạo bài bản chính quy nhất ngoài ra anh còn có thêm đôi chút "râu ria" đi kèm là khỏe mạnh thông minh và khá bảnh trai. Con đường phía trước của anh - cũng theo dư luận - còn rất dài và còn rất nhiều tương lai. Nghĩa là ở anh đã quy tụ được tương đối đầy đủ những phẩm chất cần thiết cho một sỹ quan quân đội trong tình hình hiện nay.
         
Thường không mấy quan tâm đến những tán tụng bình phẩm có ý "thêm thắt" rất chi là lính của anh em trong đơn vị. Anh chỉ thấy mình là người may mắn. Và cuộc đời dẫu không thiên vị cũng luôn mang đến cho anh  những niềm vui bất ngờ. Thường vốn sinh ra và lớn lên trong một gia đình mà cả bố lẫn mẹ trước đây cũng từng là lính lại là lính chiến hẳn hoi. Bố Thường hồi còn công tác đã từng đeo quân hàm thượng tá làm đến chức chủ nhiệm hậu cần sư đoàn. Đồng đội ông hồi đó phần lớn lăn lộn trưởng thành trong chiến đấu có người đang tại ngũ trở thành những tướng lĩnh và hiện đang nắm giữ những chức vụ quan trọng trong các quân binh chủng. Ngay lớp chiến sỹ của ba Thường ngày ấy giờ có người đã là chính ủy trung đoàn trưởng thậm chí có người đã là chỉ huy trưởng bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Ngay từ khi đang học phổ thông Thường đã có ước mơ sau này được trở thành sỹ quan phục vụ lâu dài trong quân đội. Vì thế anh đã miệt mài học tập và đã thi đỗ vào một trường đào tạo sỹ quan. Rồi khi ra trường Thường lại được điều động về công tác ngay chính tại đơn vị ngày trước của bố anh. Và người chỉ huy trực tiếp của anh bây giờ không ai khác mà là một trung tá còn rất trẻ từng là chiến sĩ của bố anh trước đây.
         
Hồi còn ở nhà Thường cũng đã yêu. Nhưng tình yêu hồi ấy nói như  văn thơ sách vở thì đó chỉ là thứ tình yêu "hoa lá bướm cành" cho vui. Nghĩa là chỉ yêu theo cảm tính yêu mà chưa xác định một tý ty gì cho tương lai. Mẹ anh động viên: "Chuyện ấy con hãy học hành cho đến nơi đến chốn rồi hẵng tính sau. Con trai bây giờ phải tuổi hâm thậm chí hơn thế xây dựng gia đình vẫn chưa muộn". Còn bố Thường thì bao giờ cũng khề khà cười bảo: "Tao với mẹ mày ngày trước ở chiến trường có biết tuổi tác là cái gì. Lúc mười tám đôi mươi thì bám trụ ở các chiến hào đạn dưới bom trên cái sống cái chết không có phân định ranh giới. Được cái lúc nào cũng lạc quan yêu đời coi thường cái chết và xem đó là sự hy sinh vì mục đích và lý tưởng của cuộc đời. Đến khi tình hình có vẻ yên tĩnh được lui về tuyến sau nghỉ ngơi ui dào nói là nghỉ ngơi chứ nào có được nghỉ ngơi cái mẹ gì chỉ khác với tuyến trong một chút là đỡ ác liệt hơn chứ cũng phải ngày ngày đối mặt với đạn bom. Rồi đến khi mẹ mày và tao gặp nhau thì cả hai đã ngoài ba mươi. Đấy là tao mới chỉ nói là gặp và yêu nhau thôi chứ để thành vợ thành chồng có được anh em chúng mày thì phải đợi đến khi miền Nam giải phóng. Nghĩa là lúc ấy mẹ mày và tao cũng đã băm mấy tuổi rồi". Theo như bố mẹ kể lại thì tình yêu của bố mẹ hồi ấy tuy điều kiện chiến tranh bom đạn nhưng cũng tình cảm và đẹp lắm! Mẹ là nữ lái xe Trường Sơn đã gặp và yêu bố trong những lần vận chuyển lương thực vào chiến trường. Tình yêu của hai người ròng rã năm này qua năm khác chủ yếu qua những lá thư viết vội gửi cho nhau. Còn gặp nhau thì mỗi năm họa hoằn lắm mới có một lần. Có lần để gặp được mẹ bố đã phải băng rừng vượt suối đi bộ gần nửa ngày đường trong điều kiện máy bay địch oanh tạc dữ dội mới đến được chỗ mẹ giao hàng. Nửa ngày cho một chuyến đi nhưng chỉ được ở cạnh người yêu có vài tiếng đồng hồ để rồi phải chia tay trở về đơn vị ngay trong đêm cho kịp ngày mai làm nhiệm vụ. Kỷ luật chiến trường hồi ấy rất nghiêm khắc. Và cũng không ai dám trái lệnh chỉ huy. Lại có thời kỳ do tin đồn thất thiệt rằng người này hy sinh người kia hy sinh mà rồi bố mẹ vẫn vững dạ chờ nhau cho đến ngày đất nước thống nhất. Tình yêu thời chiến tranh có thể nói đẹp hơn bất cứ lúc nào. Và đẹp nhất vẫn là những chuyện tình của lính.
         
Thường gặp và yêu Hiền trong một trường hợp hết sức tình cờ. Ngày mới ra trường về đơn vị công tác Thường được ban chỉ huy "linh động" giải quyết cho nghỉ mấy ngày phép về thăm nhà. Hôm trở lại đơn vị trên chuyến tàu tốc hành khi đang ngồi gần cửa sổ ngắm nhìn phong cảnh bên ngoài thì có tiếng ai đó gọi anh: "Anh bộ đội ơi cho em cùng ngồi đây với!". Thường nhìn lên và nhận ra một cô gái trẻ. Anh nhanh nhẹn ngồi sát vào thành tàu. Cô gái đặt chiếc túi xách xuống khoảng trống rồi ngồi xuống cạnh anh. Thường chưa kịp nói gì thì cô đã lại nói tiếp như muốn phân bua với anh: "Anh biết không đằng kia có một tốp đàn ông vừa uống rượu vừa nói năng rất tục tỉu. Em sợ quá nên phải chạy đến đây đấy. - Rồi cô hỏi - Anh xuống ga nào?". "Tôi xuống Đã Nẵng! - Thường đáp và hỏi lại - Còn cô?". Đáp lại người sỹ quan trẻ là một nụ cười rạng rỡ. Rồi cô gái nói to gần như reo lên: "Vậy ư? Em cũng xuống ga ấy. Chắc tàu vào đến nơi cũng tối rồi anh nhỉ? Nhưng mà có anh cùng xuống là em yên tâm rồi. Nghe nói ga ấy bây giờ cũng lộn xộn lắm! Thế xuống Đà Nẵng rồi anh còn đi đâu? Thế ư? Anh ở đơn vị ấy à? Ba em cũng...". Tàu băng qua một cây cầu dài. Tiếng cô gái chìm đi trong tiếng lăn ầm ầm của bánh sắt trên đường ray khiến cho câu chuyện cứ phải thỉnh thoảng bị đứt quãng. Hai bên thân tàu là hai phía của dòng sông. Thường không biết đây là sông gì nhưng cảnh vật ở đây xem ra cũng rất đẹp bởi đất đai trù phú màu mỡ.
         
Câu chuyện chuyển sang một hướng khác. Vừa chuyện trò Thường vừa thận trọng ngắm nhìn cô gái. Quả là một cô gái đẹp rất đẹp nữa là đằng khác. Mặt trái xoan nước da trắng mịn màng. Tóc rất đen và dày. Miệng thì lúc nào cũng chúm chím cười trông rất dễ thương. Giọng cô dịu dàng nghe như trộn lẫn giữa hai thứ giọng của người miền Bắc và miền Trung. Khi câu chuyện đã trở nên sôi nổi cô tự giới thiệu với Thường tên cô là Hiền đang sống cùng gia đình ở thành phố Đà Nẵng. Cô cũng cho biết là cô vừa tốt nghiệp đại học đang chuẩn bị theo học hai năm nữa tại thành phố Hồ Chí Minh. Vì thời gian rảnh rỗi cô tranh thủ ra Bắc thăm bà ngoại và bây giờ đang trên đường về nhà. Thường cũng giới thiệu tên mình và kể qua về bản thân cho Hiền nghe. Câu chuyện của hai người trở nên thân mật từ khi nào chẳng biết. Họ cứ tự nhiên kể cho nhau nghe đủ chuyện về quê hương gia đình...cứ như họ đã là bạn bè thân thiết của nhau từ lâu rồi. Thường để ý thấy Hiền mấy lần nhắc đến ba mình nhưng cứ lấp lửng lấp lửng thành ra anh chỉ hiểu mang máng là ba Hiền đang bận công tác gì đó ở xa. Câu chuyện càng lúc càng say. Tàu đã qua mấy ga mà cả hai dường như không hề hay biết. Bóng chiều bắt đầu buông xuống. Cảnh vật hai bên chuyển dần sang màu vàng nhạt. Rồi vàng thẫm. Để rồi cuối cùng đen đặc lại trong một màn đêm bao phủ. Cả Thường và Hiền như không ai biết đến điều đó. Họ cũng không biết là họ đã ở bên nhau bao nhiêu lâu đã nói với nhau kể với nhau những chuyện gì. Tiếng Hiền nhẹ nhàng êm ái. Và cả hương thơm ngọt ngào từ mái tóc Hiền tỏa ra càng khiến cho Thường cảm thấy nôn nao trong một tình cảm rưng rưng rất khó tả. Để rồi sau đó có một cái gì đó thúc bách xui khiến làm bừng dậy trong con người anh một nỗi khát khao và một tia hy vọng dù còn rất mông mênh. Trong ký ức Thường ngay từ khi chập chững vào đời đã luôn khát khát và hy vọng về một tình yêu đích thực cho cuộc đời mình. Cả sau này cũng vậy lúc nào anh cũng ngóng trông chờ đợi. Anh hình dung tình yêu như là một thứ gì đó rất cụ thể rất rạch ròi và công bằng sẽ lần lượt ban phát cho tất cả mọi người. Có ai đó đã từng nói với anh rằng nếu cuộc sống là một bông hoa thì tình yêu chính là mật là nhụy là hương của bông hoa đó. Con người ai cũng có tình yêu. Và tình yêu có thể đến nhanh với người này nhưng lại đến chậm với người kia. Nó được nảy nở hình thành trong bất cứ hoàn cảnh nào giữa người con trai và người con gái. Một cuộc gặp gỡ tình cờ trong một lần dạo phố. Một buổi tối đi xem phim. Một chuyến xe cùng hành trình...Với hoàn cảnh hiện tại giữa Thường và Hiền lúc đó chưa có gì để gọi là tình yêu. Nhưng không hiểu sao cả hai người tự nhiên cùng cảm thấy thân thiết gần gũi nhau lạ lùng. Phải chăng trong mỗi con người ở cả Thường và Hiền lúc này như đang có chung nhịp đập của một con tim? Dù không nói ra nhưng hai người đều thầm mong ước con đường phía trước hãy dài thêm ra thời gian hãy dài thêm ra. Họ như cùng sợ cái giây phút phải chia tay phải xa nhau. Qua ánh mắt họ như cùng nhận ra điều đó trên mỗi gương mặt của nhau.
         
Rồi thì tàu cũng đến ga. Thường xách thêm cái túi của Hiền và chìa tay cho cô khi bước xuống bậc cửa tàu. Bàn tay mềm mại ấm nóng của Hiền chỉ một lát một lát thôi trong tay Thường nhưng làm anh bổi hồi bồi hồi. Anh ước giá mà được nắm bàn tay ấy thật lâu thật lâu hơn nữa...Thường đưa Hiền ra tận taxi ngoài cổng ga còn cẩn thận nói thêm: "Nếu em cảm thấy chưa an tâm anh sẽ đưa em về tận nhà". "Thế này được rồi anh ạ! - Hiền trả lời giọng lạc đi - Anh tranh thủ về đơn vị kẻo muộn. Nhớ địa chỉ của em chưa? Đúng ngày ấy em sẽ chẳng đi đâu mà chỉ ở nhà đợi anh thôi đấy. Anh không đến là em giận anh cho mà xem!". Thường âu yếm nhìn Hiền nghiêm trang đáp: "Hiền yên tâm đúng ngày ấy anh sẽ đến chắc chắn anh sẽ đến". Thường đứng lặng nhìn theo cho đến khi chiếc taxi khuất hẳn vào bóng đêm. Những ngày sau đó lúc nào Thường cũng nghĩ đến Hiền. Anh cảm thấy nhớ và mong sao sớm được gặp lại cô.
         
Đến hẹn và cũng trùng vào ngày nghỉ cuối tuần Thường một mình tìm đến nhà Hiền. Đúng số nhà anh đứng một lúc ngoài cổng nhìn vào. Quả là một ngôi nhà cao rộng được thiết kế khang trang đẹp đẽ lại nằm ngay trung tâm thành phố. Xung quanh nhà là những khoảnh đất trống được trồng đủ các loại cây ăn quả. Cái cổng đá được xây theo kiểu hình vòm và được trang điểm bằng hai cây tùng rất cân đối ở hai bên. Thường bấm chuông và cảm thấy trống ngực mình bắt đầu đập loạn lên. Một người đàn bà trạc gần sáu mươi tuổi da dẻ hồng hào từ trong nhà đi ra. Thấy Thường bà nở một nụ cười rất tươi: "Kìa! Chào chú bộ đội!". "Dạ! Cháu chào bác! Thưa bác...đây có phải là nhà của Hiền không ạ?". Thường vừa dứt lời thì người đàn bà đã đon đả: "Đúng! Đúng rồi! Đây là nhà của Hiền đây! Còn bác bác là mẹ của Hiền. Em nó vừa nói với bác hôm nay nó có khách có anh bộ đội đến chơi. Nhưng nó lại vừa chạy ù ra phố có tý việc. Nó vừa đi thì cháu đến đấy! Chà quý quá! Cháu vào nhà đi vào đi có bác trai đang ở trong nhà ấy. Cháu vào rồi hai bác cháu nói chuyện với nhau. Em nó về bây giờ đấy!". Thấy bà mẹ Hiền vui vẻ mời chào Thường bớt hồi hộp và có phần tự nhiên hơn. Anh dắt chiếc xe máy vào sân rồi đi thẳng vào nhà. Thường bước lên mấy bậc tam cấp rồi đi về phía cửa chính đang rộng mở. Nhưng mà...Thường bỗng đứng khựng lại như trời trồng. Mặt anh biến sắc. Một luồng điện vừa chạy dọc sống lưng anh. Tim anh đập rộn lên như trống khải hoàn. Mồ hôi cũng túa ra đầy mặt. Trước mặt anh phía bên phải ngay sát với cửa sổ chính cách anh chừng mấy bước một vị cán bộ cao cấp quân đội đang ngồi làm việc bên bàn. Mặt ông hồng hào phương phi trông rất oai phong. Ông đang cắm cúi ghi chép gì đó và một cuốn sổ. Thường kịp nhìn thấy trên ve áo ông đôi quân hàm trung tướng. Và anh cũng kịp nhận ra ông chính là vị tư lệnh quân khu mà có lần anh đã nhìn thấy ông cùng đoàn cán bộ quân khu đến thăm và nói chuyện với đơn vị anh cách đây không lâu.
         
Thường đứng lặng như chôn chân ở ngưỡng cửa không bước thêm được một bước. Miệng bất động không nói được câu nào. Quả thật lúc ấy người anh như mụ đi run lên cả vì ngại ngùng lẫn sợ hãi. Trong khi ấy thì trung tướng thấy có người đi vào liền dừng bút gỡ kính nhìn ra. Cái động tác khoan thai của ông càng làm cho Thường thêm mất hết bình tĩnh. Không chần chừ gì nữa anh quay gót một trăm tám mươi độ bước thẳng ra sân. Từ trong nhà bà mẹ chạy vội ra níu tay anh lại: "Kìa cháu sao cháu lại về? Đợi một lát là em nó về ngay bây giờ ấy mà. Bác trai đang ở trong nhà...Ông ơi nhà ta có khách này...". "Thưa bác cháu xin lỗi...cháu nhầm nhà!". - Thường đáp rồi cứ thế dắt xe đi vội ra cổng. Bà mẹ vẫn lẽo đẽo chạy theo. "Sao lại nhầm nhà? Đúng là nhà của Hiền đây mà...". Thường như không nghe thấy gì nữa. Anh nhảy phóc lên xe nổ máy phóng đi mặc cho người đàn bà tốt bụng vẫn đứng gọi với theo mà không hiểu chuyện gì đã xảy ra.
         
Một tuần trôi qua nhanh chóng. Nhưng đối với Thường thì thật nặng nề. Anh đinh ninh thế là mọi chuyện giữa anh và Hiền như đã khép lại. Mặc dù trong lòng anh không lúc nào là không nghĩ đến cô. Anh quên sao được cuộc gặp gỡ lần đầu tiên cùng với lời hẹn giữa hai người. Quên sao được bàn tay mềm mại nóng ấm của Hiền trong tay anh. Rồi Thường tự trách mình sao còn quá trẻ con. Lẽ ra hôm ấy anh không được bỏ về. Anh phải vào nhà gặp và nói chuyện với ba  Hiền. Anh phải tự hào phải phấn khởi vì được gặp nói chuyện cùng ông. Mà cũng tại Hiền một phần. Cô đã giấu anh không cho anh biết trước. Thành ra gặp ông bất ngờ và đột ngột quá cũng khiến anh phải e ngại. Phải chi ông ở một địa vị khác thâm thấp một chút. Đằng này ông lại là vị tư lệnh quân khu tiếng tăm lừng lẫy một thời. Ở địa vị một sỹ quan cấp úy như anh gặp một vị tướng vì công việc chung đã cảm thấy thiếu tự tin huống hồ đây lại là việc riêng. Nhưng thôi mọi chuyện cũng đã qua. Nếu có trách thì mình phải trách mình trước. Thường định sẽ tìm gặp Hiền bằng cách nào đó cũng phải gặp cho được Hiền để thanh minh với cô về sự "ấm đầu" của mình. Và quan trọng hơn đấy còn là tình bạn giữa hai người. Không thể vì một lý do cỏn con như thế mà đành xa nhau.
         
"Anh Thường anh lên ngay ban chỉ huy có việc gấp!". - Một chiều chủ nhật khi Thường đang đọc sách thì sỹ quan trực ban nói với anh.  Thường ăn mặc chỉnh tề rồi đi ngay. Đến nơi vừa bước vào cửa anh đã thấy trung tướng tư lệnh đang ngồi một mình ở đấy. Tại sao ba Hiền lại đến đây vào ngày nghỉ? Chuyện này có liên quan gì đến mình không? Mà tại sao lại chỉ có một mình ông? Thường cảm thấy lo lo khi vừa nhìn thấy trung tướng. Không biết lành hay dữ đây? Anh cố giữ bình tĩnh đứng nghiêm và dõng dạc: " Báo cáo đồng chí tư lệnh tôi thiếu úy Trần Văn Thường xin có mặt!". Trung tướng nhìn Thường miệng mỉm cười chỉ vào  chiếc ghế đối diện. "Cậu ngồi đi ta nói chuyện một lát". Thường để ý thấy hôm nay trung tướng không mặc quân phục không đeo quân hàm như mọi bữa. Nếu có một chút nhà binh thì đó chỉ là chiếc mũ mềm có gắn ngôi sao trên đầu ông. "Nào ta nói chuyện nhé! - Trung tướng vui vẻ nói - Đồng chí là Thường đúng Thường chứ? - Rồi ông đổi cách xưng hô nói với anh như tâm sự - Thế nào bố mẹ cháu ở nhà có khỏe không? Mà này bác với bố cháu hồi trước là bạn chiến đấu cùng đơn vị đấy. Hồi bố mẹ cháu làm đám cưới chính bác là người cắt chim bồ câu trang trí cho hôn trường. Hai người ở với nhau vào sống ra chết nên nhiều kỷ niệm lắm! Chuyện này rồi cháu tìm hiểu bố mẹ cháu sau. Bây giờ ta nói qua chuyện khác vui hơn. Lúc nãy bác đã nghe các đồng chí trong ban chỉ huy trung đoàn nói về cháu. Bác rất vui khi thấy cháu rất tích cực trong công tác năm nay được bầu là chiến sỹ thi đua của đơn vị. Như thế là rất tốt! Nhưng cần phải phấn đấu nhiều hơn nữa. Đừng thấy mọi người khen mà phỏng mũi lên là không được đâu. - Trung tướng dừng lại một lát rồi nhìn thẳng vào mặt Thường giọng trở nên thân tình hơn -  Mà tại sao hôm trước cháu vừa đến nhà bác lại bỏ về? Lúc bác chạy ra thì cháu đã lên xe máy vù đi rồi. Này cháu có biết là bây giờ con gái bác nó đang bắt đền bác không. Nó bảo bạn con đến chơi tại ba nên bạn con bỏ về. - Rồi trung tướng cười to thành tiếng - Tôi đến chịu với các cô các cậu bây giờ...". Nghe trung tướng nói Thường thẹn đỏ cả mặt. Rất may là không có ai. Chứ nếu có chắc anh đến chui xuống lỗ mất. Nhưng Thường lại rất cảm động và phấn khởi trước những gì trung tướng vừa nói. Anh không ngờ một vị trung tướng giữa trăm công nghìn việc lại dành thời gian quan tâm đến những việc rất nhỏ nhặt rất riêng tư của con gái mình như thế. Thường không biết phải nói gì chỉ im lặng ngồi nghe. Tự nhiên anh thấy trung tướng gần gũi thân thiết chả khác gì mẹ cha anh. Một sự gần gũi thân thiết xóa nhòa đi cái khoảng cách mà chỉ mới hôm nào còn đè nặng trong lòng anh.
         
Không phải đợi lâu ngay ngày hôm sau Thường quyết định đến nhà Hiền. Hiền reo lên khi chợt nhìn thấy Thường. Cô tiếp anh trong niềm vui khôn xiết. Cả buổi sáng hôm ấy hai người ngồi bên nhau. Việc đầu tiên là Hiền vui vẻ...thuật lại cho Thường nghe những gì đã xảy ra sau khi Thường bỏ về. Cô vừa kể vừa cười xen một chút nũng nịu giận hờn. Thì ra khi biết Thường đã đến đây rồi lằng lặng bỏ đi Hiền đã òa khóc...bắt đền cha mẹ. Trung tướng là người rất thương con chiều con. Nhất là đối Hiền cô con gái út ít của ông thì ông lại càng cưng chiều không để đâu cho hết. Ông vuốt tóc con gái: "Thì ba đã gặp đồng chí bộ đội ấy đâu sao con lại cho là tại ba. - Rồi như hiểu hết tấm lòng của con trung tướng hỏi con gái - Thế đồng chí bộ đội ấy tên gì ở đơn vị nào? Con với đồng chí bộ đội ấy là thế nào với nhau? Con có thể cho ba biết được không? Nào con nói đi rồi ba sẽ bắt đền cho con...". Sau lần gặp ấy tình cảm giữa Thường và Hiền đã không còn đơn thuần chỉ là tình bạn nữa. Họ đã yêu nhau. Một tình yêu say đắm và tha thiết. Rồi Hiền có giấy báo nhập học. Ban chỉ huy cho Thường nghỉ hẳn một ngày để tiễn người yêu lên tàu vào Nam. Cũng con tàu hôm nào hai người lần đầu gặp nhau quen nhau. Nhưng sao hôm nay cả hai cùng cảm thấy bâng khuâng xao xuyến quá! Một tình yêu đẹp sẽ làm cho tâm hồn người ta đẹp thêm lên. Với Thường thì tình yêu giữa anh và Hiền cũng vậy. Tình yêu sẽ nâng bước chân anh sẽ tiếp thêm sức mạnh cho anh trên những chặng đường công tác.
N.N.C

        

More...

GHEN - NNC

By NGUYỄN NGỌC CHIẾN

 

NGUYỄN NGỌC CHIẾN

GHEN

Truyện ngắn

        
          "Có lẽ tôi sẽ bỏ làm thơ thôi anh Thành ạ!" - Phương Thảo nói và ngước cặp mắt đen lay láy nhìn về phía biển. Bấy giờ đang là buổi chiều của một ngày giữa hè. Một ngày biển lặng như chưa từng có bao giờ. Mặt biển trải dài mênh mông bát ngát. Gió nhè nhẹ tạo nên những đợt sóng lăn tăn vô hồi trên mặt nước xanh thẫm. Càng ra xa biển càng trở nên hiền hòa phẳng lặng. Tôi nhìn Phương Thảo và có cảm giác sau câu nói chị cố nén một tiếng thở dài. Thực ra đây không phải là lần đầu tiên tôi nghe Phương Thảo thổ lộ với tôi điều này. Mà đã lâu rồi có lẽ từ cách đây vài ba năm về trước Phương Thảo cũng đã mấy lần nói với tôi về điều ấy. Lần đầu khi nghe Phương Thảo nói tôi cứ ngỡ là chị đùa. Ai thì tôi còn tin chứ với chị một người đam mê văn chương lại có tài sao nỡ lòng dứt bỏ một cách dễ dàng thế được. Nhưng rồi khi biết đó là nỗi lòng rất thật của chị tôi lại nghĩ chắc là bởi chị bận công tác bận việc gia đình nên muốn đoạn tuyệt cho đỡ nhọc lòng. Bẵng đi một thời gian không thấy chị nhắc tới điều này. Lại thấy gần đây chị vẫn làm thơ rất đều thơ in trên các báo rất đều nên tôi đã phần nào an tâm cho là chị đã sắp xếp được thời gian để theo đuổi niềm đam mê của mình. Nào ngờ hôm nay gặp Phương Thảo trong một trại viết tôi rất ngạc nhiên khi nghe chị lại thốt ra điều này. Tôi chưa kịp phản ứng gì thì Phương Thảo đã lại tiếp: "Có lẽ đây là lần cuối cùng tôi tham gia trại viết...Tôi...tôi không còn có cơ hội để...để...tiếp tục nữa anh à...". Câu sau cùng Phương Thảo nói trong chứa chan nước mắt. Người chị khẽ run lên. Là người quen biết Phương Thảo từ nhiều năm nay tuy rất ít khi gặp nhau nhưng chúng tôi vẫn thường đọc tác phẩm của nhau động viên chia sẻ cùng nhau mọi niềm vui nỗi buồn qua từng trang viết. Bây giờ nghe Phương Thảo nói vậy tôi thực sự bàng hoàng cảm thấy buồn bã tiếc nuối như bản thân vừa đánh mất một cái gì đó hết sức quý giá. "Nhưng tại làm sao? Tại làm sao chị phải làm thế?". - Tôi hỏi gần như quát mà quên đi rằng trước mặt tôi là một người phụ nữ một người chẳng họ hàng ruột thịt gì. Phương Thảo không nói gì thêm cùng tôi quay trở lại khách sạn nơi đang diễn ra trại viết. Mãi tới chiều hôm sau khi lễ bế mạc kết thúc để ngày mai chia tay Phương Thảo mới rủ tôi ra một quán caphê dốc bầu tâm sự. Có lẽ phải quý tôi và tin tưởng tôi lắm chị mới bọc bạch hết tất cả mọi nỗi niềm riêng tư thầm kín bấy lâu ngủ yên trong lòng mình...
         
Cũng như tôi Phương Thảo là một người làm thơ là hội viên văn học của một tỉnh. Nói là "hội viên của một tỉnh" nghe có vẻ "thấp bé nhẹ cân" chứ thơ chị công bằng mà nói nếu đem so sánh chắc không thua kém thậm chí ngang ngửa với thơ của nhiều nhà thơ chuyên nghiệp. Đó không chỉ là nhận xét của riêng cá nhân tôi mà còn của nhiều người khác. Tôi gặp và quen Phương Thảo cách đây hơn chục năm trong một lần cả hai cùng được mời tham dự một trại sáng tác văn học ở Tây Nguyên. Hồi đó Phương Thảo mới chỉ ngoài hai mươi tuổi chưa chồng con chưa vướng bận gì với gánh nặng gia đình. Hồi đó chị mới chỉ là một sinh viên mới ra trường đang chuẩn bị học tiếp hai năm nữa để lấy bằng thạc sỹ văn chương. Và hồi đó trông chị hồn nhiên vô tư cười nói suốt ngày. Hơn chục ngày ở trại viết được đi thực tế ở các buôn làng của đồng bào Bana Êđê...được đắm mình trong khung cảnh hùng vĩ của núi rừng Tây Nguyên với những dòng sông con thác giữa tiếng còng chiêng giữa ánh lửa những đêm lễ hội...Phương Thảo đã làm được mấy bài thơ rất hay về vùng đất này. Chính ông nhà thơ phụ trách trại viết đã hết lời ngợi khen thơ Phương Thảo và cũng chính ông đã đích thân gửi đăng những bài thơ ấy của chị trên một tạp chí văn nghệ có uy tính ở Hà Nội.
         
Sau kết thúc trại viết ở Tây Nguyên phải sáu bảy năm tôi không gặp lại Phương Thảo một lần nào nữa. Nhưng đọc báo tôi vẫn thường thấy thơ chị. Và  qua bạn bè tôi được biết chị đã lấy chồng đã có con đang sống với nhau rất hạnh phúc. Gần đây tôi tình cờ gặp lại Phương Thảo mấy lần nữa cũng trong những lần đi dự trại viết. Phải nói rằng trong mắt tôi dù thời gian đã trôi qua con người ai cũng già đi thay đổi đi ít nhiều nhưng với Phương Thảo chị vẫn là một phụ nữ trẻ trung xinh đẹp và đầy quyến rũ. Hình như tuổi tác thanh xuân vẫn ở lại cùng chị chưa chịu chia tay. Chị đẹp ở khuôn mặt trái xoan ở làn da trắng ở mái tóc dài. Đặc biệt là cái mũi dọc dừa thanh tú của chị thì ai cũng phải mê. Và đặc biệt hơn nữa là đôi mắt chị một đôi mắt đen lay láy một đôi mắt hình lá răm một đôi mắt lúc nào cũng long lanh như đang có những vì sao lấp lánh trong đó. Những lần gặp gỡ sau này tôi có dịp tìm hiểu kỹ hơn về Phương Thảo. Bởi tôi đang có ý định viết về thơ chị. Tôi đang muốn giới thiệu một chân dung văn học mà ít nhiều đã làm tôi ngưỡng mộ. Vẫn biết rằng trước tôi đã có nhiều người viết về thơ chị.
         
Phải công nhận Phương Thảo là người có duyên với văn chương. Đường thơ của chị không mấy khúc khuỷu gập ghềnh tưởng như đã đặt chân lên đã bước đi là đến. Tôi lại nghĩ đến có rất nhiều những người làm thơ viết văn mà cứ phải trầy trật mãi ba chìm bảy nổi mãi mới có được chút thành công. Có người bỗng nhiên tỏa sáng như những vì sao được một thời gian rồi cũng bỗng nhiên vụt tắt chìm nghỉm giữa lớp lớp mây đen. Có người lận đận với thơ như là duyên nợ nhưng vẫn không sao gặp được chút may mắn đành coi đó như là một sự đã rồi và cứ vậy đeo đẳng cho đến hết đời. Con đường thơ của Phương Thảo không thế dù chưa nhiều hoa thơm quả ngọt nhưng lúc nào cũng phẳng lặng êm ả. Phương Thảo yêu thơ và làm thơ từ rất sớm nghe đâu lúc mới chỉ mười bốn mười lăm tuổi chị đã có thơ in báo và cho đến nay khi đã xấp xỉ tuổi bốn mươi chị đã có cả một gia tài thơ đáng nể. Chị đã xuất bản mấy tập thơ. Tập nào cũng được giới phê bình văn học và bạn bè yêu thơ ngợi khen. Thơ Phương Thảo cộng tác với nhiều tờ báo tạp chí văn nghệ ở cả trung ương lẫn địa phương trong cả nước. Chị cũng đã mấy lần đoạt giải thưởng trong các cuộc thi thơ. Thơ Phương Thảo mềm mại đắm đuối giàu nữ tính và có một phong cách riêng không thể lẫn với ai. Nhiều nhà thơ và nhất là những người yêu thơ trong cả nước đã biết đến chị và thơ chị. Tuy nhiên dù có mặn mà với thơ đến đâu tài năng với thơ đến đâu thì thơ đối với chị vẫn mãi mãi chỉ là nghề tay trái vẫn mãi mãi chỉ là niềm đam mê cháy bỏng mà thôi. Nghề chính của Phương Thảo là dạy học. Hơn mười năm nay chị là giảng viên của một trường đại học. Vừa là nhà giáo vừa là nhà thơ vừa là người vợ đảm người mẹ hiền như chị có lẽ không phải là hiện tượng "độc nhất vô nhị" trong xã hội hiện nay. Và nếu như chỉ có thế thôi thì cuộc đời chị và cả thơ chị nữa đã có thể trôi đi một cách yên ả còn có gì để mà tôi phải kể ra đây. Nhưng tại sao một phụ nữ yêu thơ như Phương Thảo lại đang có ý định bỏ thơ?
         
Hồi ấy khi nghe Phương Thảo nói xa nói gần về điều này rằng chị sẽ vĩnh viễn từ bỏ con đường văn chương rằng chị sẽ không bao giờ làm thơ nữa...Quả thật lúc đó tôi không mấy tin điều chị nói. Nhưng bây giờ thì tôi đã dần dần hiểu ra. Mỗi cây mỗi hoa mỗi nhà mỗi cảnh câu nói ấy giờ tôi mới nghiệm ra thật ý nghĩa với hoàn cảnh của chị lúc này. Khác với Phương Thảo Trần Thái chồng chị là một doanh nhân thành đạt. Anh xuất thân từ một người làm thuê trải nhiều vất vả cơ cực. Do chịu thương chịu khó ham học hỏi đặc biệt là ý chí và khát vọng làm giàu đã giúp anh táo bạo mở một cơ sở xây dựng nhỏ tự túc làm ăn. Chỉ sau khoảng hơn chục năm từ chỗ gần như không tên tuổi cơ sở của Trần Thái đã "phất" lên như diều gặp gió trở thành một công ty xây dựng tiếng tăm thuộc vào hàng "ăn nên làm ra" trong tỉnh. Đến khi xây dựng gia đình với Phương Thảo thì anh đã là một "ông chủ" một người giàu có thuộc vào hàng mà cánh ăn chơi thường nói vui là "tiêu tiền không cần đếm". Công ty của anh hiện có tài sản vốn liếng lên đến cả trăm tỷ đồng. Không chỉ biết cách "hái ra tiền" anh còn là người hết lòng với vợ con. Đối với Phương Thảo thì anh chiều chuộng không để đâu cho hết. Vì chiều vợ mà mỗi lần Phương Thảo cần sắm sửa gì là anh chìa cho cả cục tiền có khi vài chục triệu là chuyện thường. "Đấy em cứ cầm cả mà sắm gì tùy thích nhưng nhớ là nên chọn mua những loại áo quần có chất liệu vải hợp với sở thích của anh đấy!". Cũng có lúc anh còn tự tay mua cho chị những bộ váy áo đắt tiền thậm chí anh còn mua cả cho chị những cái coocsê xilip có màu sắc mà anh thích hay cả các loại bông băng vệ sinh. Anh cũng thường đưa Phương Thảo đi chơi đây đó "để cả hai vợ chồng cùng được tiêu tiền cho sướng" anh vẫn nói vui vậy. Có thể nói anh rất chiều vợ và biết vun vén xây đắp cuộc sống gia đình. Chỉ có điều anh là người rất hay ghen và không thích văn thơ những thứ mà anh cho là phù phiếm những thứ mà anh cho là chả mang lại lợi ích gì lắm. "Báu gì mấy đồng nhuận bút mà em phải vò đầu bứt tai cho khổ thân. Em có làm thơ cả đời nuôi sống được em không? Còn đam mê sự nghiệp ư? Thơ bây giờ đầy ra đấy ở đâu chả có thơ ở đâu chả có người làm thơ. Đấy em xem các làng quê các khu phố khóm phố nơi nào cũng đầy rẫy các câu lạc bộ thơ!". Trần Thái thường nói với Phương Thảo với một giọng mỉa mai như vậy. Vì hay ghen mà ngay cả chuyện ăn mặc của vợ anh cũng "can thiệp" vào. Anh làm cứ như cách ăn mặc của vợ cũng ảnh hưởng đến hạnh phúc của vợ chồng anh không bằng. Ví như khi Phương Thảo đi ra ngoài anh thường bảo chị mặc những loại áo quần vải càng dày càng tốt và anh gọi đó là để "đối ngoại". Còn những lúc Phương Thảo ở nhà bên anh thì anh lại khuyên chị mặc những loại áo quần vải thật mỏng càng mỏng càng tốt và anh cũng nói vui với chị mặc như thế là để "đối nội". Lại do không thích văn thơ nghệ thuật nên anh cấm tiệt vợ anh không được làm thơ không được giao du gặp gỡ với những người làm thơ viết văn ngay từ ngày anh và chị mới cưới nhau.
         
Thực ra Trần Thái không thích Phương Thảo làm thơ không hẳn là vì thơ không mang lại lợi ích thiết thực như anh nói mà cái chính là vì tính hay ghen của anh. Phụ nữ chồng con rồi mà không ý tứ gì cả không tâm lý gì cả. Ai đời làm thơ chỉ làm toàn thơ tình mà nào có đả động gì tới chồng con. Nghe cứ như là làm thơ cho bồ bịch không bằng. Đã thế bài nào cũng ướt át cũng sướt mướt. Lại còn "anh anh em em" "chàng chàng nàng nàng" ngọt xớt nữa mới chết chứ! Như thế đâu đã hết. Có khi còn thề non hẹn biển với "thằng cha" nào đó như là muốn bỏ ngay chồng bỏ ngay con mà đi. Thơ như thế thì thằng đàn ông nào đọc mà nó chẳng chết mê chết mệt chẳng lăn đùng lăn quay ra! Thơ như thế thì thằng chồng nào mà nó chịu cho được thằng chồng nào mà nó chẳng "ba máu sáu cơn" nổi cơn "tam bành" nổi máu "Hoạn Thư"! Đã thế lại còn ra vẻ ta đây "đi thực tế" mở trại viết này mở trại viết kia kéo nhau ra tận Nhật Lệ Cửa Lò vào tận Hội An Tam Kỳ...có khi cả nửa tháng trời. Về nhà thì chúi mũi vào mà viết nhăn mặt lại mà viết nhiều lúc nhìn bộ dạng cứ như người từ trên trời sa xuống. Lại có đêm đang ngủ thì ngồi bật ngay dậy hỏi thì bảo em vừa phát hiện ra tứ thơ phải ghi lại không quên mất. Rồi thì tụ tập nhau lại "sinh hoạt" đọc thơ của nhau bá vai bá cổ nhau cười cười nói nói cứ như là vớ được vàng. Nhất là có lần một "thằng cha" nhà thơ tóc thì bạc trắng như cước răng thì rụng mấy cái rồi mà mồm cứ ngoen ngoẻn ngọt xớt với mấy cô chỉ đáng tuổi con tuổi cháu. Nhiều lúc nhìn mà ngứa cả mắt! Đã có lần Trần Thái xa xôi bóng gió ý nghĩ của mình với vợ. Trong thâm tâm anh không muốn vợ mình phải chia sẻ với bất cứ ai nhất là cánh mày râu một tý ty tình cảm nào dù chỉ là trong ý nghĩ. Anh chỉ muốn Phương Thảo người vợ xinh đẹp vô vàn yêu quý của anh ngoài thời gian dạy học thì về nhà chăm con lo cho anh bữa cơm và tối đến sau một ngày anh vất vả kiếm tiền thì chị bao giờ cũng phải là chiếc gối bông mềm mại thơm tho để anh gối đầu thiếp đi trong giấc ngủ ngon lành!
         
Một phụ nữ yêu thơ và có tài làm thơ lẽ dĩ nhiên là ban đầu khi bị chồng ngăn cản cấm đoán dù biết đó là một sự ngăn cản cấm đoán vô lý Phương Thảo cũng đã rất buồn. Và dù không muốn tranh cải đôi co với chồng chị cũng kiên quyết đấu tranh để bảo vệ lẽ phải. Bằng một thái độ bình tĩnh có vẻ rất tự tin chị phân trần giảng giải với chồng như lúc chị đang đứng trên bục giảng. Rằng thơ là nỗi niềm đam mê của tất cả mọi người thơ làm cho người ta cảm thấy mình trẻ ra vui vẻ hơn thư thái hơn sau mỗi ngày làm việc căng thẳng. Rằng chị làm thơ mục đích không phải để kiếm tiền mà đó chỉ là nỗi niềm đam mê của chị. Rằng chưa bao giờ chị làm thơ mà có ý định thế này thế kia để ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình...Trần Thái không những không chấp nhận mà còn để ngoài tai tất cả những tâm tư giải bày của Phương Thảo. Đã thế thì Phương Thảo càng được dịp lấn tới. Chị gân cổ lên mà cải lại chồng để rồi cuối cùng không kiềm chế được đã buông một câu "em cứ làm thơ đấy anh muốn làm gì thì làm". Chưa bao giờ kể từ ngày lấy nhau hai người lại lời qua tiếng lại nặng nề như thế. Trần Thái giận lắm! Vốn tính điềm đạm rất ít khi nổi nóng đặc biệt là chưa bao giờ anh nặng lời với vợ vậy mà hôm ấy chẳng biết "ma xui quỷ khiến" thế nào anh đã chồm tới đập vỡ tan tành cái máy tính xách tay của Phương Thảo. Và cũng để rồi đêm hôm ấy đã rất khuya cả hai người vẫn thao thức trằn trọc không sao ngủ được. Nước mắt Phương Thảo hình như đã thấm ướt cả gối. Còn Trần Thái thì cứ phải đốt hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác. Cuối cùng thì họ cũng đã làm lành với nhau trên cái giường "chuông vuông" mỗi bề hai mét ấy bằng thái độ ăn năn của người chồng và lời hứa từ nay sẽ thôi không làm thơ của người vợ. Có lẽ Phương Thảo quá yêu chồng thương con quá khát khao một cuộc sống hạnh phúc gia đình không muốn xảy ra những va chạm dù rất nhỏ có thể làm tổn thương đến tình cảm của vợ chồng chị chăng?
         
Mới chỉ hứa với chồng thế thôi mà Phương Thảo cảm thấy buồn kinh khủng. Mấy ngày liền mặt chị cứ thần ra như người mất hồn. Nếu mai này thực sự bỏ hẳn thơ như đã hứa thì mình sẽ sao đây? Con người ta mỗi khi đã đam mê điều gì đó thì khó lòng mà dứt ra được. Huống hồ chị người đã từng coi thơ là duyên nợ là người bạn tri âm tri kỷ từ thuở ấu thơ nguyện một đời sống chết với thơ sao chị lại có thể dễ dàng vứt bỏ như thế được? Chị hứa với chồng bỏ thơ nhưng liệu chị có thực hiện được không? Chị có thể sống mà thiếu thơ thiếu đi niềm đam mê đã từng ngấm sâu vào từng tế bào trên cơ thể chị không? Thơ từ lâu đã là một phần máu thịt của chị một phần cuộc đời chị. Mỗi niềm vui nỗi buồn trong cuộc sống hàng ngày nếu thiếu thơ chị sẽ lấy ai đây tâm sự giải bày? Không! Chị sẽ không bỏ thơ không bao giờ chị bỏ thơ! Và cũng không ai kể cả chồng chị lại có thể dành cho mình cái quyền được tước đi một phần máu thịt ấy của chị!
         
Nhưng làm thế nào đây để vừa giữ được hạnh phúc gia đình lại vừa làm được thơ? Không còn cách nào hơn Phương Thảo buộc phải thay đổi bút danh. Phải thay đổi một bút danh quen thuộc một bút danh đã từng được bạn đọc ngưỡng mộ và yêu mến qua từng bài thơ qua bao năm tháng là điều không phải dễ dàng gì. Nhưng với chị thì đó là cách duy nhất. Từ đây thơ Phương Thảo xuất hiện đều trên các báo tạp chí. Độc giả khi đọc thơ chị dưới một bút danh khác không hiếm người cứ ngờ ngợ khi bắt gặp một giọng thơ một phong cách thơ quen quen như đã từng được đọc rất nhiều ở đâu đó rồi. Còn các nhà phê bình các nhà thơ thuộc hàng "cây đa cây đề" vốn quan tâm đến lớp trẻ bấy nay để ý theo dõi từng bước đi của thơ Phương Thảo thì bỗng nhiên cảm thấy hụt hững buồn phiền vì đã lâu rồi không thấy chị xuất hiện. Nay được đọc một giọng thơ đắm đuối trữ tình có sức hấp dẫn cuốn hút lạ lùng của một cái tên lạ hoắc thì ai cũng phải nhăn trán suy nghĩ đến một điều gì đó.
         
Thấy Phương Thảo bỏ thơ Trần Thái mừng lắm! Anh yên tâm thế là từ nay vợ anh không phải nhọc lòng với những chuyện vớ vẩn. Anh cũng không còn phải canh cánh nỗi lo vợ mình san sẻ tình cảm cho ai nữa. Bỏ được thơ vợ anh sẽ có điều kiện chăm chút thêm cho chồng con và cũng chăm chút thêm cho bản thân. Phương Thảo sẽ mãi mãi trẻ trung mãi mãi xinh đẹp như ngày nào. Anh chiều chuộng chăm bẵm vợ từng ly từng tý chả khác gì ngày mới cưới. Anh đâu ngờ được rằng vợ anh vẫn làm thơ đều đều. Và những tờ báo tạp chí khắp nơi vẫn thường in thơ chị vẫn thường gửi báo biếu cho chị qua địa chỉ ở trường đại học. Phương Thảo vẫn mang những ấn phẩm ấy về nhà và chồng chị vẫn thỉnh thoảng mở ra đọc để kiểm tra nhưng anh không phát hiện thấy gì. Các trại sáng tác hay các cuộc hội họp có liên quan đến văn học nghệ thuật người ta mời chị thì một là chị biện lý do rồi không đi và hai là nếu có đi thì bao giờ chị cũng nhìn trước ngó sau rồi nhanh nhanh đến đó một lát rồi cũng nhanh nhanh ra về ngay. Gần đây Phương Thảo đã xuất bản thêm hai tập thơ nữa. Đó là những sáng tác miệt mài của chị trong nhiều năm qua mà chị muốn tập hợp lại vừa là để không bị thất lạc vừa là để có điều kiện gửi tặng bạn bè văn chương. Cả hai tập thơ lần này cũng như hai tập thơ lần trước ngay từ khi mới ra mắt đã đón nhận được niềm hân hoan chào đón của đông đảo bạn đọc. Người ta viết bài phê bình khen chê ở nhiều góc độ khác nhau càng khiến cho thơ chị như được chắp thêm cánh bay cao bay xa hơn.
         
Nhưng Phương Thảo thì lại buồn rất buồn! Bởi chị nghĩ rằng trong khi niềm vui của chị thì ai ai cũng chia vui với chị mừng cho chị vậy mà với người thân yêu nhất của đời mình thì chị lại phải dối lừa phải giấu diếm. Càng buồn Phương Thảo lại càng lo. Lo là sau này nếu như Trần Thái phát hiện ra rằng bao nhiêu năm qua chung sống với anh chị đã lừa dối anh thì liệu lúc ấy anh sẽ đối xử với chị thế nào? Và nhất là những bài thơ về tình yêu say đắm cuồng nhiệt hút hồn người đọc một mảng thơ mà chị thành công nhất trong sáng tác có làm anh hiểu sai như đã từng hiểu sai về chị không? Đến lúc ấy hạnh phúc của đời chị sẽ ra sao? Liệu có được còn nguyên vẹn như bây giờ không? Rồi cả niềm khát khao ước vọng cháy bỏng được đi đến tận cùng với thơ được suốt đời chung thủy với thơ sẽ thế nào đây? Phương Thảo nghĩ mà buồn và lo cho mình lắm...
         
Chẳng biết sau lần tâm sự với tôi khi trở về nhà Phương Thảo đã xử sự ra sao với tình cảnh của mình. Chỉ biết rằng sau ngày chia tay ở trại viết không lâu trong những lần đọc báo tôi lại thấy xuất hiện cái tên Phương Thảo bên cạnh những bài thơ. Tôi gần như reo lên vì sung sướng. Đúng là Phương Thảo và thơ chị thật rồi. Một giọng thơ đắm đuối trữ tình không thể lẫn với ai. Tôi mừng cho chị đã trở lại với tên thật của mình trở lại với chỗ đứng của mình trong lòng người yêu thơ. Chưa hết mừng thì liền đó vào một buổi chiều tôi nhận được tin nhắn của Phương Thảo chỉ có một câu gọn lỏn "Chồng em không ghen nữa". Tôi vừa buồn cười vừa ngạc nhiên. Không rõ cô nhà thơ này đã thuyết phục chồng bằng cách nào nhưng xem ra rất nhanh chóng và hiệu quả. Nhưng rồi tôi lại nghĩ có những việc còn phức tạp hơn nhiều khó khăn hơn nhiều mà người ta còn giải quyết ổn thỏa huống hồ chỉ là cái việc bé tẹo teo như ngón tay kia. Người chồng của Phương Thảo ngày ấy chắc là chưa hiểu được vợ và niềm đam mê của vợ. Chứ khi đã hiểu nhất định anh ta sẽ không thế. Như bất cứ người đàn ông nào rồi anh ta cũng sẽ cảm thông cho vợ thậm chí anh ta còn là chỗ dựa là niềm an ủi động viên trên mỗi bước đường thơ của người bạn đời. Buổi chiều hôm đó bên bãi biển khi nghe Phương Thảo tâm sự chuyện buồn tôi cũng đã khẳng định với chị như thế.
Tháng 7.2010
N.N.C

More...

BỘ CỜ NGÀ VOI - NNC

By NGUYỄN NGỌC CHIẾN


 

 

VÀI LỜI GIỚI THIỆU:

          Truyện ngắn "Bộ Cờ Ngà Voi" đã được in đi in lại trên nhiều tạp chí Văn nghệ như: Xứ Thanh Non Nước Nhật Lệ Văn nghệ Bến Tre Văn nghệ Bình Dương Văn nghệ Bình Thuận Nhà Văn Cửa Việt Văn Việt...; nhiều trang web blog của tập thể cá nhân cũng đã giới thiệu truyện ngắn này. "Bộ Cờ Ngà Voi" cũng là một trong gần mười truyện ngắn của tôi đã được phát trong Chương trình "Đọc Chuyện Đêm Khuya" của Đài Tiếng nói Việt Nam những năm qua. Nhân đầu Xuân Canh Dần tôi xin giới thiệu truyện ngắn này và cũng muốn "khoe" với các bạn một chút là trong năm nay tôi sẽ xuất bản tập truyện ngắn thứ tư của mình mà "BỘ CỜ NGÀ VOI" sẽ là truyện ngắn được chọn đặt tên chung cho tập truyện.
         
Mời các bạn vào địa chỉ dưới đây thưởng thức truyện ngắn "Bộ Cờ Ngà Voi" của Nguyễn Ngọc Chiến qua giọng đọc của Phát thanh viên - Nghệ sỹ Ưu tú Việt Hùng trong một Chương trình "Đọc Truyện Đêm Khuya" của Đài Tiếng nói Việt Nam.
         
http://vovnews.vn/Media/Play.aspx?itemid=1703





NGUYỄN NGỌC CHIẾN

Bộ Cờ Ngà Voi

TRUYỆN NGẮN

        
          (Phần cuối)
         
...Thế là gã đi quyết ra đi. Dù trời rét buốt đến thấu xương gã vẫn phóng xe đến tìm ông Lãm. Lòng gã đầy tự tin đầy kiêu hãnh. Gã lôi ra một chai rượu mà gã phải bỏ ra hơn một trăm ngàn đồng để mua rồi xin phép ông Lãm tự tay xuống bếp nổi lửa làm gà. Bếp lửa đỏ rực xua đi cái lạnh buốt giá làm ấm cả gian nhà. Hai người trải chiếu ngay bên cạnh bếp lửa vừa nhâm nhi vừa trò chuyện. Ông Lãm lên tiếng: "Chà! Rượu ngon quá! Lại còn cả gà nữa? Cậu bày vẽ ra làm gì cho tốn kém. Loại này tôi dùng thường xuyên ấy mà!". Gã nhã nhặn đáp lại: "Có gì đâu chú! Chú cháu mình lâu ngày gặp nhau cháu muốn mời chú uống với cháu một chén. Tiện thể hôm nay đến đây cháu muốn hầu chú vài ván may ra học được ở chú ít nước...". "Chơi thì chơi cho vui thôi chứ cậu có học cả đời cũng làm sao học được cờ tôi. Mà dẫu có học được cậu cũng làm sao địch nổi tôi!". "Dạ! Chú là người cao cờ vô địch thiên hạ cháu nào dám!". Xáng làm bộ khúm núm nhưng trong lòng gã thì như đang có một ngọn lửa bùng lên. Gã không ngờ ông Lãm cũng là một người hiếu thắng coi chiến thắng là trên hết chẳng khác gì gã. Ông khoe với gã rằng ông đã biết chơi cờ hơn bốn mươi năm nay. Kể từ ngày ấy với hàng ngàn cuộc so tài ông luôn luôn là người chiến thắng. Ông còn nói thêm rằng từ bây giờ trở đi ông vẫn sẽ là người chiến thắng không một địch thủ nào có thể đè bẹp được ý chí ấy ở ông. "Cho nên - Ông nói thẳng vào mặt Xáng - cậu đừng bao giờ nuôi ảo tưởng là có thể đến đây làm gì được tôi".

 

         

          Khi chai rượu đã lưng lưng Xáng mới đả động đến bộ cờ ngà voi và một mực nài nỉ ông Lãm cho được tận mắt nhìn thấy nó. Gã nói rất tha thiết rằng gã rất yêu cờ mê cờ rằng gã có thể đánh đổi tất cả những gì đang có để được suốt đời sống chết với cờ. Vì yêu cờ coi cờ là sự nghiệp của bản thân nên gã rất muốn được thưởng thức những bộ cờ độc đáo. Và nếu như một lần chỉ một lần thôi được hầu cờ với chủ nhân bằng bộ cờ ngà voi ấy gã sẽ xem đó như một vinh hạnh của cuộc đời. Gã nói và bỗng dưng nước mắt gã ứa ra. Ông Lãm hình như cũng động lòng trước những giọt nước mắt và những lời lẽ chân thành như mật rót vào tai ấy của gã nên đã đồng ý. Nhưng ông không vội đưa ngay bộ cờ ấy ra mà cứ thủng thẳng túc tắc kể cho gx nghe về nguồn gốc xuất xứ của nó trước đã. Đây là việc ông vẫn thường làm đối với bất cứ ai trước khi người đó được sờ tay vào bộ cờ ngà voi của ông. Và ông rất lấy lam kiêu hãnh về điều này.
         
Ông Lãm kể rằng bộ cờ ngà voi của ông đã có từ cách đât hơn một trăm hai chục năm. Nó nguyên là của một vị vua triều Nguyễn nổi tiếng tài cao đức rộng đam mê cờ tướng. Ông nội của ông Lãm xưa kia là một người chuyên đi làm thuê kiếm sống. Nhưng ông là một người thông minh ham học. Nhờ nghe lỏm bài giảng của người gia sư dạy học cho con chủ nhà mà ông trở nên sáng dạ được chủ nhà thương yêu nhận làm con nuôi cho ăn học tử tế. Và cũng  nhờ tư chất thông minh mà ông học một biết mười mỗi năm hai lớp. Rồi khi đi thi ông đỗ trạng nguyên được vua giữ lại trong cung dạy học cho con vua và các quan đại thần. Ông còn là một người chơi cờ tướng rất giỏi không ai địch nổi. Nhân một lần nhà vua tổ chức thi đấu cờ ông đã hạ gục tất cả các đối thủ giành ngôi vô địch. Mến mộ đức tài của ông vua đã ban tặng ông bộ cờ ngà voi của ngài. Bộ cờ ấy sau này được ông truyền lại cho con ông tức cha ông Lãm. Cha ông nối nghiệp ông nội ông được cả đức lẫn tài và cũng là một tay cờ nức danh cả tổng cả huyện không ai là không biết. Rồi khi cha ông mất bộ cờ ngà voi ấy cùng với bí quyết chơi cờ "trăm trận trăm thắng" của tổ tiên được ông thừa hưởng và kế nghiệp. Ông không làm được trò trống gì nhưng tay cờ của ông thì càng ngày càng cao càng ngày càng lan xa toả rộng.

 

         

          Ông Lãm cất giữ bộ cờ ngà voi ấy rất kỹ coi như báu vật. Chẳng mấy khi ông chơi cờ bằng bộ cờ đặc biệt ấy. Rủi khi có khách tới chơi nhà ngỏ ý muốn hầu ông đôi ván ông cũng chỉ đem ra những bộ cờ thông thường. Trong nhà ông có tới hai mươi bộ cờ khác nhau. Mỗi bộ cờ là một sự tích oanh liệt trong đời cờ của ông. Tùy mặt khách mà ông biết chọn bộ cờ nào. Những người có may mắn được ông cho chơi cờ ngà voi phải là những người ông đặc biệt mến mộ hoặc nể trọng nhưng cũng không nhiều lắm. Và trước khi chơi một việc đầu tiên ông phải làm đó là mở tủ sắt lấy bộ cờ ấy ra trân trọng đặt lên bàn thờ thắp hương vái cầu xin tổ tiên trước đã. Đối với Xáng ông nói sở dĩ ông cho gã được hưởng đặc ân này không phải ông mến mộ hay nể trọng gì gã mà là vì ông thương tình gã.
         
Ông Lãm nói đến đâu Xáng dạ dạ vâng vâng đến đó. Lúc này đây ruột gan gã như đang có lửa đốt và gã chỉ mong sao ông Lãm mang ngay cái bộ cờ ấy ra. Gã nhìn xoáy vào mặt ông Lãm nhủ thầm: rồi ông sẽ thấy hôm nay bằng bộ cờ ngà voi của ông tôi sẽ chơi với ông thế nào; tôi sẽ cho ông biết nỗi đau thua cờ nó xót xa nhục nhã thế nào...Trong khi đó thì ông Lãm đã đi vào nhà. Chắc ông đang làm cái việc trang trọng ấy trước tổ tiên ông như ông vẫn từng làm. Một lúc ông đi ra ông mang theo một chiếc hộp gỗ và một cái bàn cờ gỗ. Ông đặt chúng trước mặt Xáng. Rồi ông ngồi xuống từ tốn mở cái hộp ra. Rồi ông thông thả nhặt ra từng quân cờ. Đôi mắt Xáng như bị hút vào đó. Gã gần như nhảy cẫng lên kêu to lên vì sung sướng và cả vì ước muốn của gã đã toại nguyện. Quả là một bộ cờ đẹp đến mê hồn. Gã nhặt lên từng quân lật bên này lật bên kia ngắm nghía như muốn cho no tròn con mắt và thỏa nỗi thèm khát của gã. Đúng là những quân cờ được làm bằng ngà voi thật rồi! Trong chúng thật nõn nà tròn trịa và trắng muốt như những viên đá hoa cương. Mỗi quân cờ đều được chế tác cắt gọt trau chuốt hết sức công phu. Trên mặt cờ mọi họa tiết từ màu sắc đường tròn các chữ tên của quân cờ...đều được chạm khắc tinh xảo sắc nét. Cái bàn cờ cũng không chê vào đâu được. Nó được làm bằng gỗ mun mặt đen bóng phản chiếu như pha lê có thể soi mình vào trong đó. Quả đúng là bộ cờ độc đáo hoàn hảo và tuyệt mỹ như một tác phẩm nghệ thuật.

 

 

          "Thế nào đã bắt đầu chưa? Ông Lãm lên tiếng và nói thêm - Thắng thua chỉ một ván thôi đấy không có ván thứ hai đâu!". Xáng "Vâng" một tiếng rồi lanh lẹ xếp cờ. Gã bên cờ chữ xanh. Ông Lãm bên cờ chữ đỏ. Nhìn bàn tay phủ đầy lông của Xáng cứ thoăn thoắt thoăn thoắt trên từng quân cờ tim ông Lãm như thắt lại. "Ấy...ấy cậu hãy từ từ và nhẹ tay cho một tý. Cờ này không thể vội vàng và hấp tấp thế được. Nhân đây tôi cũng cần nhắc cậu một điều ấy là khi chơi cờ này tuyệt đối không được "bốp chát" như cờ kia đâu đấy nhé! Phải nhẹ nhàng thật nhẹ nhàng! Thế này này...thật nhẹ nhàng!". "Vâng!". Mặt Xáng tươi như bình minh vừa hé rạng. Lúc xếp xong cờ bỗng gã ngẩng lên nhìn ông Lãm đổi cách xưng hô không "chú chú cháu cháu" nữa mà "ông ông tôi tôi" và dõng dạc tuyên bố: "Hôm nay bằng bộ cờ ngà voi này tôi sẽ thắng ông!". Ông Lãm trố mắt nhìn Xáng như nhìn một con vật lạ rồi ông bỗng cười khẩy và cũng đổi cách xưng hô: "Chú mày mà thắng được ta ta xin từ bỏ cờ không bao giờ chơi nữa. Nào ta nhường chú mày đi trước!". Mặt Xáng vênh lên: "Hãy khoan hôm nay chơi với ông tôi còn muốn chấp ông một con xe và một con pháo". Trong lúc ông Lãm chưa có phản ứng gì thì gã đã đưa tay nhón luôn hai quân cờ bên phần cờ của gã. Nhưng gã không đặt hai quân cờ đó xuống bên bàn cờ như người ta vẫn thường làm mà cứ nắm nó khư khư trong tay như không bao giờ chịu buông ra. Vẻ mặt ông Lãm đang dương dương tự đắc bỗng ỉu xìu biến sắc khi ông nhìn vào tay Xáng. Bàn tay Xáng trông mới cồ cạp gân guốc làm sao! Ông có cảm tưởng như bàn tay dữ dằn gớm ghiếc đang nắm chặt kia của gã có thể sẽ làm xây xát hoặc cũng có thể vung lên giáng một cái xuống nền nhà đập nát hai quân cờ của ông. Chao ôi nếu đúng như thế thật thì bộ cờ ngà voi của ông sẽ không còn nguyên vẹn nữa. Nó sẽ trở nên què quặt thui dột không còn cân đối nữa. Nó sẽ không còn có ý nghĩa giá trị gì nữa hết. Rồi ông sẽ biết ăn nói thế nào với tổ tiên dòng họ mỗi khi thắp hương đứng trước bàn thờ? Mới chỉ nghĩ thế thôi ông Lãm đã thấy sởn cả tóc gáy héo hắt cả ruột gan. Ông vội vàng nói với Xáng: "Thôi thôi hôm này chú mày thắng ta nhất định thắng ta. Chú mày cứ bỏ hai quân cờ đó xuống ta chơi đều cờ thắng thua không thành vấn đề. Mà ngộ nhỡ chú mày có thua ta thì ngày mai ta cũng sẽ tuyên bố khắp thiên hạ là ta thua chú mày...ta thua chú mày được chưa?". Mặt Xáng vẫn trơ lỳ như đá và tay gã vẫn bóp chặt hai quân cờ. "Hay là chú mày cần cái cơ ngơi nhà cửa này của ta ta cũng cho chú mày tất. Chỉ cần chú mày bỏ hai quân cờ đó xuống.  Nào! Cậu Xáng nghe tôi bỏ hai quân cờ đó xuống rồi chơi!". "Không! Tôi không cần gì cả tôi chỉ cần đánh bại ông!".

 

 

          Tiếng Xáng rít lên và tay Xáng dang ra liệng thẳng cả hai quân cờ vào bếp lửa. Ông Lãm kêu lên một tiếng thất thanh rồi nhảy bổ tới bê chậu nước hắt vào bếp. Nhưng muộn quá rồi! Không còn kịp nữa rồi! Khi ngọn lửa được dập tắt thì cả hai quân cờ đã hoàn toàn biến dạng trở nên méo mó quăn queo. Ông Lãm vục tay vào bếp mò mẫm một lúc mới moi được hai quân cờ dị hình dị dạng ấy ra. Mặt ông bê bết tro than trông thật thiểu não thật đáng thương. Bằng một cử chỉ trân trọng ông nâng hai quân cờ mà giờ đây chỉ là hai cục than trên hai bàn tay mình. Cả người ông run lẩy bẩy và miệng ông méo xệch lại như mếu. Rồi ông bỗng ngửng lên nhìn về phía Xáng. Hai con mắt già nua long lên sòng sọc và vằn lên những tia máu như muốn ăn tươi nuốt sống ngay kẻ đã phá hại cổ vật của ông. Như một con hổ vồ mồi ông chồm tới một tay túm tóc Xáng một tay vớ thanh củi vung lên...Nhưng nghĩ sao ông buông Xáng ra lùi lại hầm hầm chỉ tay vào mặt Xáng quát to: "Đồ súc sinh đồ tiểu nhân bỉ ổi! Tao sẽ tính chuyện này sau còn bây giờ...tao phải chơi với mày...chơi với mày để mày biết ai là người chiến...thắng". Người trong xóm đổ xô tới vây lấy hai người. Và cuộc cờ có một không hai bắt đầu diễn ra. Dù có lợi thế hơn hẳn Xáng hai quân cờ chủ lực là xe và pháo nhưng ở ván cờ này do phải suy nghĩ quá nhiều về bộ cờ ngà voi đã vĩnh viễn mất đi hai con ông Lãm đã không thể nào còn đủ minh mẫn để làm chủ thế trận. Và ông đã thua Xáng. Đó là trận thua đầu tiên trong đời cờ của ông. Đó cũng là trận thắng oanh liệt nhất trong đời cờ của Xáng.

 

 

          Ôi một trận cờ! Một trận cờ mà lần đầu tiên Xáng được thoả thích chiêm ngưỡng thoả thích sờ mó những quân cờ độc nhất vô nhị; một trận cờ mà gã cho là trong đời cờ của mình gã chưa bao giờ được tận hưởng niềm chiến thắng ngọt ngào hân hoan đến thế. Mặc dù chỉ ngay sau khi kết thúc cuộc đấu gã đã phải đánh đổi bằng một trận đòn nhừ tử từ những người nhà ông Lãm và phải cắp đít bỏ chạy đến bán sống bán chết. Còn ông Lãm người mà trước trận đấu hãy còn là một tay cờ uy danh tiếng tăm lừng lẫy giờ phải bó gối ngồi đó ủ rũ bên bàn cờ. Rồi cả cái phong thái ung dung đĩnh đạc nơi con người ông ta trong những lần ông ta "điều binh khiển tướng" trước đây cũng như biến mất để thay vào đó là một vẻ mặt âu sầu và một tinh thần rệu rã. Hẳn ông Lãm đang rất khổ tâm. Không biết ông đang khổ tâm về chuyện gì? Vì phải mắc lừa Xáng để đến nỗi thất bại thảm hại trước tay cờ của gã chăng? Hay vì bộ cờ ngà voi kỷ vật tổ tiên để lại mà ông coi như báu vật nay không còn nguyên vẹn nữa? Cũng có thể do ông nghĩ cao xa hơn rằng ông đã tự mình làm tổn thương đến bản sắc truyền thống tốt đẹp vốn có của gia đình dòng họ? Càng nghĩ ông càng thấy xót xa ân hận. Giá mà ông biết kìm nén lòng huênh hoang tự ái vớ vẩn của bản thân biết nhường nhịn kẻ yếu biết xem thường chuyện hơn thua trong các cuộc chơi...thì mọi chuyện chắc đã rất khác...rất khác.
                                                                                                                                           N.N.C

 

 

More...

BỘ CỜ NGÀ VOI - NNC

By NGUYỄN NGỌC CHIẾN


 


Minh họa của Tạp chí Văn nghệ Bình Dương

 

Minh họa của Tạp chí Văn Việt

 

Minh họa của Tạp chí Nhà Văn

 

Minh họa của Tạp chí Xứ Thanh

 

 

NGUYỄN NGỌC CHIẾN

Bộ Cờ Ngà Voi

TRUYỆN NGẮN


          @Truyện ngắn "Bộ Cờ Ngà Voi" đã được in đi in lại trên nhiều tạp chí Văn nghệ như: Xứ Thanh Non Nước Nhật Lệ Văn nghệ Bến Tre Văn nghệ Bình Dương Văn nghệ Bình Thuận Nhà Văn Cửa Việt Văn Việt...; nhiều trang web blog của tập thể cá nhân cũng đã giới thiệu truyện ngắn này. "Bộ Cờ Ngà Voi" cũng là một trong gần mười truyện ngắn của tôi đã được phát trong Chương trình "Đọc Chuyện Đêm Khuya" của Đài Tiếng nói Việt Nam những năm qua. Nhân đầu Xuân Canh Dần tôi xin giới thiệu truyện ngắn này và cũng muốn "khoe" với các bạn một chút là trong năm nay tôi sẽ xuất bản tập truyện ngắn thứ tư của mình mà "BỘ CỜ NGÀ VOI" sẽ là truyện ngắn được đặt tên  chung cho tập truyện.
         
Mời các bạn bấm chuột vào địa chỉ dưới đây thưởng thức truyện ngắn "Bộ Cờ Ngà Voi" của Nguyễn Ngọc Chiến qua giọng đọc của Phát Thanh viên - Nghệ sỹ Ưu tú Việt Hùng trong một chương trình "Đọc Chuyện Đêm Khuya" của Đài Tiếng nói Việt Nam.
          
http://vovnews.vn/Media/Play.aspx?itemid=1703 
          
                                                                                                               NGUYỄN NGỌC CHIẾN

         
         
Đây là lần thứ hai Xáng gặp ông Lãm được đấu trí với ông Lãm trên bàn cờ. Chỉ có khác là lần này cuộc chơi không diễn ra nơi hội hè đông đúc như trước mà diễn ra ngay tại ngôi nhà hai tầng của ông Lãm diễn ra trên một chiếc chiếu hoa Trung Quốc được trải ngay ngắn giữa nhà cũng trên một nền gạch hoa Trung Quốc nhẵn bóng. Cuộc chơi chỉ có hai mgười nên cũng không ồn ào mất trật tự như trước. Gã còn nhớ ở cái lần đầu tiên gặp ông Lãm ấy gã là một trong những tay cờ được ban tổ chức chọn vào trận chung kết sau khi gã đã thắng liên tiếp các tay cờ khác ở vòng loại. Gã trở thành đối thủ của ông Lãm và bị ông hạ "nốc ao" luôn cả ba ván đành chấp nhận đoạt giải nhì xếp sau ông ta. Gã thua nhưng lòng gã vẫn lâng lâng. Bởi hôm ấy gã một mực cho rằng gã không thua ông Lãm tay cờ của gã không thể thấp hơn ông Lãm. Sở dĩ gã phải xếp ở vị trí thứ hai là do hôm ấy tinh thần gã không ổn định khiến gã không thể dồn hết tâm trí cho cuộc chơi. Thứ nữa ở một nơi đông vui nhộn nhịp như hội cờ cũng có lắm yếu tố tác động đến tâm lý thi đấu của gã làm gã mất bình tĩnh sinh ra bại trận. Xưa nay gã chưa từng thua cờ ai. Ở bất cứ trận đấu nào gặp bất cứ đối thủ nào gã luôn luôn là người chiến thắng. Và thế là gã quyết tìm cho được ông Lãm quyết thi đấu với ông ta một trận để chứng minh với ông ta rằng gã không thua ông ta.

 

 

          Trước khi phóng xe vượt chặng đường gần ba mươi cây số đến đây Xáng đã tìm hiểu sơ qua về con người này. Gã nghe người ta nói rằng ông Lãm không chỉ là một tay cờ cự phách mà dòng dõi ông ta từ hai ba đời nay đều là những tay cờ khét tiếng. Nghe đâu ngoài chơi cờ giỏi ông Lãm còn là chủ nhân của một bộ cờ tướng có một không hai. Đó là bộ cờ mà tất cả các quân cờ đều được làm bằng ngà voi. Thế nên ngoài việc chứng minh cho ông Lãm thấy tài chơi cờ thật sự của mình gã còn rất muốn được chiêm ngưỡng bộ cờ quý giá ấy. Và nếu cần thiết gã có thể xin ông Lãm để được ông ta mang bộ cờ ấy ra chơi với gã. Gã rất muốn được một lần sờ tay lên các quân cờ đó. Gã rất muốn thử cái cảm giác chơi cờ ngà voi nó lạ lùng sung sướng ra sao. Nào ngờ khi đến nơi ông Lãm chỉ chấp nhận đáp ứng một trong hai nguyện vọng của gã. Đó là chơi cờ. Còn nguyện vọng kia ông chối phắt. Nghĩa là gã không những không được chơi cờ ngà voi mà ngay cả việc được nhìn thấy nó gã cũng không thực hiện được. Tuy vậy gã vẫn tỏ ra vui vẻ. Vì gã cho rằng bất cứ ai trong trường hợp này kể cả gã cũng đều xử sự như thế. Trước khi bước vào cuộc chơi gã cũng kịp đảo mắt nhìn ngắm qua quýt cơ ngơi của chủ nhân. Quả là một ngôi nhà bề thế khang trang mà đến cả nằm mơ gã cũng không bao giờ có được. Chắc hẳn ông Lãm là một người giàu rất giàu là đằng khác. Thì cứ nhìn vào ông ta từ cách ăn mặc chải chuốt cho đến cái da mặt đỏ như thịt gà chọi cũng đủ biết ông ta đang sống một cuộc sống giàu sang sung sướng đến thế nào. Nhưng thôi kệ ông ta mình phải tập trung vào chơi cờ phải hạ gục ông ta trong lần gặp này. Xáng thầm nghĩ và bắt đầu ngồi xuống nhìn chăm chăm vào cái bàn cờ trước mặt. Cái bàn cờ gỗ cũ kỹ những quân cờ gỗ cũng cũ kỹ xem ra nó đã được ông Lãm sử dụng từ rất lâu. Dẫu sao được chơi cờ trên cái bàn cờ gỗ cũ kỹ này gã vẫn thú hơn nhiều so với chơi trên bàn cờ giấy hoặc bàn cờ nhựa. Chơi trên bàn cờ gỗ gã khoái nhất là lúc bắt quân được cầm quân cờ của mình mà đập đến "chát" một cái lên quân cờ của đối phương nếu là các quân chủ lực như xe pháo thì cái cảm giác khoan khoái càng tăng lên bội phần.

 

 

          Nửa giờ trôi qua. Rồi một giờ trôi qua. Nắng thu vàng óng đã bắt đầu rót những tia nắng xuống hiên nhà. Những tia nắng chênh chếch xuyên qua giàn thiên lý trước sân đậu trên ngưởng cửa rồi nhích dần nhích dần về tấm chiếu hoa nơi ông Lãm và Xáng đang ngồi. Cuộc cờ giữa hai kỳ thủ đã kết thúc ván thứ nhất. Đánh thêm một ván Xáng thôi không đánh nữa. Bởi đã ván thứ hai rồi mà gã vẫn thua mà lại thua nhanh chóng hơn ván trước. Nếu tiếp tục đánh ván thứ ba chắc chắn gã sẽ lại thua nốt. Rút cục cả hai lần gặp ông Lãm gã đã không thắng nổi ông ta một ván nào. Bây giờ thì gã phải thừa nhận là gã thua chứ không thể đổ lỗi cho bất kỳ lý do nào được nữa. Đúng là lời đồn về tài chơi cờ của ông Lãm quả không sai tý nào. Ông ta thật cao cờ thật mưu lược tựa như một vị tướng cầm quân bách chiến bách thắng. Những nước đi của ông ta như làm chủ thế trận như nhìn thấy ruột gan óc não đối phương. Từ xuất xe vào pháo nhảy mã giục tốt lên tượng...rồi các đường tiến hồi qua phải qua trái cắm chọc nhử vây kẹp chặn bắt...của ông ta thật là thiên biến vạn hoá không sao lường được. Ông ta có cách chơi dồn đối phương vào thế bí chặn cứng các ngả khiến quân cờ của gã tiến không xong mà thoái chẳng được. Cờ của ông ta thì tung hoành ngang dọc quân này giữ quân kia bắt được một quân của ông ta phải đổi vài ba mạng. Cứ thế ông ta bao vây tứ phía hạ dần xe pháo của gã để rồi cuối cùng đánh tan sĩ tượng giáng một đòn chí mạng khiến gã phải bó tay. Ở ván thứ nhất vài ba nước đầu gã còn có vẻ tự tin một chút hy vọng một chút nhưng đến những nước sau thì càng đánh gã càng lâm vào thế bí. Mồ hôi gã bắt đầu túa ra nhỏ tong tong xuống bàn cờ. Gã vò đầu bứt tai tìm đủ cách chống đỡ nhưng vẫn không sao đảo ngược được tình thế. Đến ván thứ hai thì ở ngay nước đi thứ mười bốn gã đã hoàn toàn không làm chủ được thế cờ nên gần như phó mặc cho ông ta chi phối. Càng đánh Xáng càng khám phá ra những nước cờ mà gã cho là vừa độc đáo vừa độc địa của ông ta. Đó là những nước cờ chớp nhoáng xuất quỷ nhập thần đầy ma lực đầy sức mạnh. Những nước cờ như đánh vào tâm trí gã buộc gã phải suy nghĩ đến đau cả óc để tìm cách gỡ rối. Nhưng nước cờ như kim châm vào huyết mạch gã khiến gã phải tối tăm cả mặt mày mụ mị cả đầu óc để rồi cuối cùng không còn biết xoay xở ra làm sao. Trong khi đó thì ông Lãm cứ tỉnh bơ coi như chẳng có chuyện gì xảy ra. Cũng như các quân cờ đầy khí thế chiến thắng của ông trông ông thật ung dung đỉnh đạc. Một sự ung dung đỉnh đạc của người chiến thắng. Sau mỗi nước đi thấy đối phương gãi đầu gãi tai nhấc lên đặt xuống quân cờ trong tay mà chưa biết phải đặt vào vị trí nào thì ông khẽ nhếch mép một cái lấy chai rượu "Ông già chống gậy" đặt sẵn bên cạnh rót ra ly tự thưởng cho mình nột hớp. Xong ông "khà" một tiếng vuốt vội một cái lên mép rồi mới lại chăm chú nhìn xuống bàn cờ. Ông Lãm cũng rót cho Xáng một ly những lúc gỡ được thế bí gã cũng nâng ly rượu lên hớp một hớp. Nhưng sao gã thấy rượu hôm nay đắng ngăn ngắt dù gã biết rằng rượu của ông Lãm không phải là rượu xoàng.

 

 

          Xong ván thứ hai thấy gã cứ ngồi đực ra không chịu xếp cờ ông Lãm phải lên tiếng: "Thôi à?". "Vâng thôi!". "Tay cờ của cậu còn non lắm làm sao bì được với tay cờ của tôi". "Vâng!". Rồi chẳng nói chẳng rằng gã chào ông Lãm ra về. Gã phóng xe trên con đường đất bụi mù mịt. Lòng gã uất ức tắc nghẹn. Về đến nhà gã nằm dài ra giường thở dốc lên. Chưa bao giờ gã thấy nhục nhã như hôm nay bực bội như hôm nay. Gã căm giận gã căm giận ông Lãm căm giận với tất cả. Tại sao chứ! Tại sao gã lại có thể thua cờ ông Lãm một người đâu phải là kẻ có máu mặt trong chốn cờ bạc như gã. Đã bao giờ gã thua ai mà lại thua  một cách đau đớn như thua ông Lãm lần này. Không! Gã chưa bao giờ thua ai cả chưa bao giừo thua ai lấy một bàn một trận lại càng không. Trong vùng từ những tay chơi cờ có tiếng cho đến những người mới võ vẽ tập cờ ai ai cũng nể phục tài chơi cờ của gã. Người ta coi gã như một con ma cờ nể trọng gã như bậc đàn anh đàn chị. Thế mà nay gã phải thua cái ông Lãm chó chết ấy tới hai trận hai trận mà không gỡ lấy được một ván. Ừ! Ở trận đầu hồi hội cờ gã còn đổ cho lý do này lý do kia chứ trận này gã đã dốc toàn tâm toàn ý có bao nhiêu mưu ma chước quỷ gã đều đã tung cả ra mà cái ông Lãm ấy vẫn dễ dàng dồn gã đến chân tường hạ gục gã. Cứ nghĩ đến cái lúc ông ta nhếch mép nâng ly rượu lên hớp một hớp rồi "khà" một cái là gã lại thấy sôi cả ruột lên. Đúng là cái cử chỉ ngạo mạn ta đây coi người khác không ra gì. Thôi thế là từ nay cái danh hiệu "vô địch cờ" đã không còn là của gã nữa. Cái danh hiệu ấy đã bị ông Lãm cướp mất rồi. Gã đau đớn đén mất ăn mất ngủ người gã gầy rộc đi. Vợ con gã phải thay nhau động viên gã mới hồi phục trở lại. Nhưng nỗi ám ảnh về trận cờ thua ông Lãm thì cứ đeo bám gã. Rồi gã tính đến chuyện phục thù. Gã phải gặp ông Lãm một lần nữa và quyết đấu với ông ta một trận nữa. Gã phải danh lại cho bằng được niềm vinh quang của gã. Gã phải chứng minh cho ông Lãm biết rằng: Ở cái đất cờ này thằng Xáng này chưa bao giờ chịu thua cờ ai. Suy nghĩ và gã sực nhớ tới bộ cờ ngà voi của ông Lãm. Bộ cờ đã từng mang đến niềm tự hào tột đỉnh cho gia đình ông ta. Giá mà ở lần chạm trán thứ ba này chịu chơi với gã bằng bộ cờ ngà voi ấy...(Còn nữa)

N.N.C

 

 

Minh họa của Tạp chí Văn nghệ Bến Tre

Minh hoạ của Tạp chí Văn nghệ Bình Thuận

Minh họa của Tạp chí Nhật Lệ

More...

ĐÊM BIÊN CƯƠNG - NNC

By NGUYỄN NGỌC CHIẾN

NGUYỄN NGỌC CHIẾN

ĐêmBiênCương

TRUYỆN NGẮN

 

        
         

          Tiệc rượi kéo dài tới mười một giờ khuya vẫn chưa kết thúc. Hai Tuấn ngồi ở mũi thuyền ngắm nhìn những khuôn mặt xung quanh qua ánh sáng nhợt nhạt hắt ra từ một ngọn nến lớn. Sông Hậu về đêm nơi tiếp giáp với đất bạn Campuchia phong cảnh thật thanh bình yên ả. Có lẽ chỉ có tiếng gió lao xao trên ngọn cây ven bờ và tiếng sóng dập dìu eo óc dưới mạn thuyền lúc này là những thứ âm thanh nghe rõ hơn tất cả.
         
Một phần vì phải ngồi ôtô trên một chặng đường ngót nghét cả nghìn cây số để vào đây một phần vì chất men đã bắt đầu ngấm sâu vào lục phủ ngũ tạng nên Hai Tuấn đã cảm thấy rất mệt. Nhưng chả nhẽ chỉ vì thế mà đánh bài chuồn bỏ dở một cuộc vui mà người ta tổ chức ra chỉ là vì mừng cho mình một cựu chiến binh vào thăm lại chiến trường xưa. Thôi thì hãy cố gắng ngồi lại một lúc nữa với những con người tốt bụng để vừa nhâm nhi vừa trò chuyện. Hai Tuấn tự đặt ra cho mình một điều kiện là phải uống vừa phải nói vừa phải để luôn luôn giữ cho mình một tâm trí tỉnh táo một phong độ chững chạc.


         

          Một người nữa vừa bước xuống thuyền.
         
Đó là một người đàn ông trạc độ năm mươi tuổi. Ông ta chào chung tất cả mọi người một câu rồi ngồi xuống khoang thuyền hai chân xếp bằng lại mặt hướng về Hai Tuấn. Thái độ của ông ta có vẻ rất tự tin. Sau khi đã uống cạn ly rượu từ tay chủ nhà trao ông ta mới nhìn chằm chằm vào mặt Hai Tuấn lên tiếng: "Tui có nghe nói anh vừa ở quê vô nhưng vì bận công việc không tới được. Chà trông anh chẳng khác xưa là mấy. Ta uống với nhau một ly nhé!". Nói rồi người đàn ông nâng ly rượu lên hướng về phía Hai Tuấn. Hai Tuấn cũng không ngần ngại nâng ly rượu lên hướng về phía ông ta. Mọi cặp mắt đổ dồn về phía anh. Hai người chạm ly. Chạm xong người đàn ông ngửa cổ uống ực một cái. Còn Hai Tuấn anh vẫn giữ nguyên ly rượu trong tay. Sở dĩ anh chưa uống vì anh chưa nhớ ra người đàn ông này là ai. Thật lạ! Trong số những người có mặt hôm nay dù thời gian đã lùi lại phía sau khá xa; dù tuổi tác nét mặt của mỗi người đã thay đổi đi ít nhiều ấy thế mà khi gặp lại họ anh đều nhận ra tất cả. Còn riêng với người này sao nghĩ mãi Hai Tuấn vẫn không thể nhớ ra. Hay ông ta đã nhầm anh với một người nào đó?
         
"Tui là Đảm Ba Đảm đây! - Người đàn ông lại lên tiếng. - Còn anh anh là Hai Tuấn đúng không? Anh còn nhớ cách đây mấy mươi năm trước  tại bờ sông Bình Di...". Người đàn ông nói đến đó thì dừng lại không nói nữa. Còn Hai Tuấn chỉ trong một tích tắc sau khi người đàn ông tự giới thiệu tên mình anh cũng đã nhớ ra ông ta là ai và đã gặp ông ta trong hoàn cảnh nào. "Anh thấy nơi này giờ khác xưa nhiều không?". Người có tên là Đảm lại lên tiếng. Hai Tuấn không trả lời anh ta mà chỉ khẽ gật đầu. Cái gật đầu như muốn nói rằng tất cả đã thay đổi cả anh cũng thay đổi cả tôi cũng thay đổi. Thay đổi rất nhiều so với ngày ấy.


         

          Tiệc rượu  càng về khuya càng trở nên rôm rả. Đã lâu lắm rồi Hai Tuấn mới được sống lại cái không khí ồn ào náo nhiệt nơi vùng biên cương sông nước này cùng cái tư chất phóng khoáng chơi hết mình của người dân Nam Bộ mà anh từng một thời nếm trải. Chỉ có khác là hồi đó những người có mặt hôm nay từ chú Tư Cang anh Năm Bủng đến Ba Đảm...và cả anh nữa đều còn đang rất trẻ. Nay ai cũng lù xù đầu hai thứ tóc. Mặt mũi thì chân chim chân gà chồng chéo ngang dọc. Chả trách cả chủ lẫn khách gặp nhau mà chả nhận ra nhau. Được cái tửu lượng thì ai cũng dồi dào hăng hái còn hơn cả thời trai trẻ. Hết ly này tới ly khác hết chai này tới chai khác mà cuộc vui vẫn chưa chịu tàn.
          Hai Tuấn đã thực sự thấm mệt nên cũng chỉ nâng lên hạ xuống cái ly cho phải phép. Anh nhâm nhi lát xoài tươi vằm nhỏ dầm nước mắm ngồi nghe Năm Bủng ca vọng cổ đợi giải tán rồi lăn ra khoang thuyền ngủ lúc nào không hay. Tỉnh lại mới biết là mọi người đã ra về từ lúc nào. Chỉ còn lại anh và gia đình người chủ thuyền. Họ móc mùng lót gối đắp mền cho anh lúc nào anh cũng chả biết. Thế mới biết ngấm rượu là ngủ say như chết ngủ như không còn biết trời đất là gì. Nhưng tỉnh rượu mới là điều lạ lùng. Tỉnh vô cùng tỉnh không thể nào ngủ lại được nữa. Chả biết người khác có vậy không chớ Hai Tuấn thì chịu. Cả lúc này cũng vậy dù đầu óc vẫn quay cuồng nôn nao dù con thuyền đang tròng trành lắc lư êm ái anh vẫn không sao ngủ lại được nữa. Thiệt giống hệt cái đêm cách đây mấy mươi năm trước. Hai Tuấn bỗng nhớ tới Ba Đảm và câu nói nửa chừng của anh ta. Anh biết Hai Đảm nhắc lại chuyện ấy không phải chỉ để Hai Tuấn nhận ra anh ta mà cái chính là muốn Hai Tuấn nhớ tới một chuyện đã xãy ra giữa hai người . Mà chuyện ấy thì có lẽ cả anh và Ba Đảm không ai là không nhớ.


         

          Đó là những ngày gần cuối năm bảy lăm lúc miền Nam vừa mới giải phóng và biên giới Việt Nam - Campuchia đang thực sự trở nên nóng bỏng bởi cuộc chiến tranh do bè lũ Pônpốt gây ra.
          Trong một đêm giữa cái lán dã chiến sau một ngày cùng đồng đội chống trả quyết liệt với các đợt tấn công của địch đã rất khuya mà Hai Tuấn vẫn không sao ngủ được. Anh cứ trằn trọc thao thức hết trở mình bên này lại lật mình bên kia bởi một câu hỏi cứ lặp đi lặp lại trong đầu. Đó là vì sao những quả đạn pháo của bọn Pônpốt từ tít tận bên kia biên giới bắn sang lại rơi rất chính xác vào trận địa chốt của bộ đội ta? Bọn này dù có tài cán gì cũng không thể bắn trúng mục tiêu một cách tuyệt đối như vậy được. Phải chăng có ai đó sống trong khu vực biên phòng này đã làm gián điệp điều chỉnh pháo cho chúng? Sau một hồi suy nghĩ Hai Tuấn cho rằng đây không còn là một câu hỏi hay đơn thuần chỉ là một mối nghi ngờ nữa mà là một vấn đề đã có đủ cơ sở để khẳng định. Chắc chắn có ai đó đã làm việc này! Nhưng kẻ đó là ai ở đâu thì tất cả vẫn chỉ là bóng đêm bao phủ trước mắt anh. Hai Tuấn cố vắt óc ra để suy nghĩ tìm tòi. Vậy rồi anh nghĩ tới một người. Đó là người đàn ông vừa vượt biên từ Campuchia trở về Việt Nam cách đây không lâu. Các chiến sỹ biên phòng đã bắt được anh ta trong một đêm tuần tra biên giới. Anh ta trạc độ ba mươi tuổi mặt mày phờ phạc hóc hác; áo quần thì rách nát bẩn thỉu. Người đàn ông tự khai tên là Đảm Việt kiều ở Campuchia. Anh ta nói rằng anh ta theo gia đình sang bên ấy sinh sống từ trước năm bảy lăm. Nay ở Campuchia bọn Pônpốt đang thi hành chính sách diệt chủng tàn sát đẫm máu đồng bào Khơme và Việt kiều ta. Anh ta sợ quá nên tìm cách trốn về nước. Hai Tuấn tự hỏi: liệu Đảm trở về Việt Nam có đúng như anh ta khai không hay nhằm mục đích gì khác? Có thể những điều anh ta nói chỉ là dối trá nhằm che đậy con người thật của anh ta chăng? Cả đêm ấy Hai Tuấn đã gần như thức trắng cho đến sáng. Lúc nào trước mắt anh cũng hiện lên hình bóng Đảm với khuôn mặt phờ phạc và bộ quần áo rách nát.


         

          "Ai chớ ông Ba Đảm thì tụi tui có lạ chi! Anh muốn biết về ảnh hả? Được thôi!". Năm Bủng một người dân cùng ấp với Đảm nói với Hai Tuấn rồi kể về Đảm cho anh nghe. Ba Đảm tên thật là Xixănđon. Cha anh ta là người Khơme mẹ là người Việt Nam. Hồi chế độ cũ Ba Đảm rất nổi tiếng với nghề đâm thuê chém mướn kiếm tiền. Cha Đảm trong một lần rượu chè quá chén đã lỡ tay đánh chết vợ. Đảm thù cha rồi từ cha cắt đứt tình máu mủ. Anh ta thương mẹ nên đặt tên mình theo tiếng Việt và lấy họ mẹ. Trước bảy lăm không lâu anh ta rời Việt Nam sang Campuchia sinh sống.
         
Trong kháng chiến kiều bào ta đã đoàn kết với nhân dân Campuchia chống lại kẻ thù chung thì Đảm trái lại có cảm tình với địch. Cứ dăm bữa nửa tháng anh ta lại đi Nôngpênh Xoàiriêng Xiêmriệp hay Côngpôngxưpư...một chuyến. Mục đích của những chuyến đi không ai rõ chỉ biết rằng sau mỗi lần trở về Đảm lại sống rất xa hoa tiêu xài xả láng có vẻ như rất sẵn tiền. Thường xuyên lui tới nhà Đảm là những người xa lạ chẳng ai biết ở đâu làm gì. Tình cảm giữa kiều bào ta với Đảm phai nhạt dần không còn qua lại đùm bọc giúp đỡ nhau như trước nữa. Năm bảy lăm Pônpốt lên cầm quyền thẳng tay tàn sát đồng bào Campuchia đàn áp xua đuổi Việt kiều ta về nước và gây ra cuộc chiến tranh biên giới giữa hai nước. Riêng Đảm bị chúng bắt đưa đi đâu một thời gian rồi thả về. Hai Tuấn tự hỏi phải chăng Đảm đã bị bọn phản động dụ dỗ mua chuộc và bây giờ chúng cho Đảm về nước để thực hiện những âm mưu đen tối của chúng?(Còn nữa)
                                                                                                                                           N.N.C

                                                               

More...