NGUYỄN NGỌC CHIẾN
CÁT NƠI ẤY MÀU XANH
BÚT KÝ
@Chương trình Phát thanh "VĂN NGHỆ" Đài Tiếng nói Việt Nam;
Tạp chí Agribank (NHNN và PTNT Việt Nam) và một số báo khác.
Có lẽ trên hình hài đất đai Quảng Trị không một nơi nào nhiều cát như ở đây. Tôi đã nhủ thầm như vậy trong lần đầu tiên tôi về các xã miền ven biển Triệu Phong. Lần ấy cách đây đã hơn mười lăm năm trôi qua rồi nhưng những ấn tượng về một vùng quê với những trảng cát dài mênh mông, vô tận thì dường như vẫn còn nguyên vẹn trong tôi. Dọc đường 64 xuôi về Cửa Việt qua các xã Triệu Trạch, Triệu Vân, Triệu An....đâu đâu tôi cũng thấy một màu cát trắng. Trong nắng hè tháng sáu, mặt cát nóng bỏng phản chiếu như một tấm gương khổng lồ. Mỗi đợt gió thổi qua, cát lại cuồn cuộn bay lên không trung. Và cát ở đây mới thật đúng là cát, mịn màng, trinh nguyên đến lạ lùng! Tôi cứ có cảm giác rằng, cái thứ cát nguyên chất xứ sở này rồi sẽ cứ trắng đến lạnh lùng, tàn nhẫn; rồi sẽ cứ mặc sức bay nhảy, tung hoành. Còn con người ở đây thì hết đời này qua đời khác, hết năm này qua năm khác phải chịu bao khốn khổ vì cát.
Đầu tháng tư năm nay tôi có dịp trở lại vùng quê xứ cát này. Cũng vẫn là những trảng cát, đồi cát mênh mông bể sở năm xưa nhưng giờ đây tất cả đã đổi khác. Trước mặt tôi màu cát trắng đã gần như nhường chỗ cho màu xanh của các loại cây trồng. Bên những màu xanh tít tắp của rừng cây lâm nghiệp trải dài là những thửa vườn, ao cá...cũng một màu xanh biêng biếc rất đỗi dịu hiền. Tỉnh lộ 64, đường Quốc phòng, đường liên xã, liên thôn... nơi nào cũng rợp mát bóng cây. Những con đường như những cánh tay âu yếm vươn ra nối những làng quê, nối những cánh đồng gần nhau hơn. Màu xanh của cỏ cây hoa lá cũng như gần gũi hơn, đằm thắm hơn. Tầm mắt người cũng ngắn lại bởi màu xanh. Bàn chân người cũng thanh thản hơn bởi màu xanh. Màu xanh đang ròng rã ngày đêm lấn dần màu cát trắng, biến cát trắng thành màu xanh phục vụ con người.
Điểm dừng chân đầu tiên của tôi là Triệu Trạch, một trong năm xã vùng cát của huyện Triệu Phong. Không ai có thể ngờ được rằng, Triệu Trạch với một chốt thép Long Quang kiên cường thời đánh Mỹ, một "làng đại học" Lệ Xuyên lừng danh thời xây dựng lại là những làng quê tứ bề cát trắng. Hạt lúa, củ khoai ở đây cũng từ cát mà ra. Anh hùng, tài năng ở đây cũng từ cát mà sinh ra. Bao đời nay người và cát Triệu Trạch như hoà lẫn, quấn quyện làm một. Cát nuôi người và người yêu cát. Anh Nguyễn Phiến, cán bộ chuyên trách dự án cải tạo vùng cát Triệu Trạch trong câu chuyện tâm tình với tôi về quê hương mình đã cho biết: "Xã tôi có sáu thôn thì có tới năm thôn là vùng cát. Cả xã có tổng diện tích đất tự nhiên 3466 hécta thì có tới 3000 hécta là cát. Cả xã có 1.364 hộ thì có tới chín mươi phần trăm số hộ sống trên cát. Người dân quê tôi quanh năm lam lũ, tảo tần với cát, sống với cát và khi chết cũng về với cát...".
Qua tìm hiểu anh Phiến tôi mới vỡ lẽ ra rằng: Trước đây Triệu Trạch là một xã rất nghèo, nhưng từ khi có chủ trương của huyện về cải tạo vùng cát, Triệu Trạch đã vươn lên trở thành một xã đi đầu về phát triển nông - lâm nghiệp tương đối toàn diện ở vùng cát Triệu Phong. Dựa vào lợi thế diện tích đất tự nhiên dồi dào, hàng chục năm qua,đặc biệt là từ năm 1990 đến nay, Triệu Trạch đã vươn ra chế ngự vùng cát, bắt cát phải thay đổi quy luật phục vụ lợi ích cho con người. Từ một vùng quê lam lũ, đói nghèo, bời bời cát trắng năm xưa, qua bao năm năm tháng nhọc nhằn, từ đôi bàn tay cần mẫn của nhân dân một màu xanh của ấm no, của hy vọng đã bắt đầu trỗi dậy đơm hoa kết trái. Bây giờ Triệu Trạch đã có đến 1000 hécta cây lâm nghiệp. Cây lâm nghiệp ở đây là rừng chống nạn cát bay, cát lấp, là thành luỹ bảo vệ môi sinh môi trường và cuộc sống sản xuất của nhân dân. Trong sản xuất nông nghiệp cùng với thâm canh cây lúa, Triệu Trạch đã hàng năm trồng được 160 hécta khoai lang, 81 hécta lạc, 46 hécta ngô, 43 hécta sắn và hàng chục hécta rau màu các loại trên cát. Cát cứ ngày ngày xanh thêm, làng xóm Triệu Trạch cứ ngày ngày thay da đổi thịt thêm. Anh Phiến còn hồ hởi kể với tôi rằng: Để chế ngự cát và làm lợi từ cát, mấy năm gần đây được sự tài trợ của Chính phủ Nauy, trong khuôn khổ của dự án cải tạo vùng cát Triệu Phong, Triệu Trạch đã lần đầu tiên xây dựng được ba làng sinh thái trên cát với số dân ban đầu gồm 84 hộ. Người dân làng sinh thái đã bước đầu ổn định được nơi ăn chốn ở để phát triển sản xuất.
Tôi đến thăm gia đình anh Nguyễn Toàn, một chủ hộ sản xuất giỏi ở làng sinh thái. Anh Toàn đi vắng, nhưng với những gì tôi thấy và với những gì tôi nghe làng xóm anh kể lại thì anh quả đúng là một người sản xuất giỏi. Vâng ! Không giỏi sao được, khi chỉ mới ba năm ra lập nghiệp ở vùng cát mà anh Toàn đã có trong tay một trang trại sản xuất khá bề thế. Ngoài các loại cây đã cho thu nhập, anh Toàn còn xây dựng được cho mình một hồ nuôi cá nước ngọt rộng gần hai hécta. Cá là nguồn thu nhập chính của gia đình anh. Khi có vốn trong tay, anh xoay sang mở rộng chăn nuôi và đã có đàn vịt lúc cao điểm lên tới 3000con, đàn gà 200 con và đàn lợn nái 15 con. Cây trồng và chăn nuôi đã đem lại cho gia đình anh nguồn thu nhập mỗi năm xấp xỉ 30 triệu đồng. Nhìn cơ ngơi trang trại của anh với một sức sống bền vững trên cát, tôi thầm ao ước trong một ngày không xa người dân xứ cát Triệu Trạch nói riêng và Triệu Phong nói chung mọi nhà cùng được như thế.
Trước năm 1975 và kéo dài cho đến những năm bảy mươi, tám mươi của thế kỷ trước, nhiều vùng cát rộng lớn ở Triệu Phong vẫn tồn tại như những sa mạc chết, là xứ sở của nắng và gió. Nhiều người dân tôi gặp ở các xã vùng cát Triệu Phong khi vui mừng nói với tôi về những đổi thay trên quê hương của họ hôm nay đã không khỏi ngậm ngùi nhắc đến những ngày khốn khó đã qua. "Hồi ấy, người dân vùng cát ai cũng muốn bỏ làng mà đi. Đi đâu cũng được, làm gì cũng được, miễn là đừng phải ngày ngày khổ sở vì cát". - Một người dân ở xã Triệu An đã thổ lộ với tôi như vậy. Còn ông Nguyễn Văn Minh, Trưởng làng sinh thái Vĩnh Hoà, xã Triệu Vân thì tâm sự: "Lúc trai trẻ, cứ mỗi lần nghĩ đến vùng cát hoang hoá quê mình là tôi lại ao ước một điều gì đấy. Tôi nghĩ không lẽ cát không trồng được cây ? Đã từng đi đây đó, tôi thấy nhiều nơi người ta sống trên cát mà vẫn giàu, cây trồng trên cát mà vẫn xanh, vẫn đẹp. Thế là tôi tiếc rẻ cho vùng cát quê mình. Nhưng hồi chế độ cũ mấy ai quan tâm đến cát...".
Ấp ủ hoài bão ấy, mãi những năm đầu thập kỷ chín mươi, ông Minh mới thực hiện được ao ước của đời mình là đưa cả gia đình ra lập nghiệp ở vùng cát. Ông nói rằng, ngày ấy cả khu vực này là một trảng cát lớn, trơ trọi, trắng xoá, không một bóng cây. Vợ chồng ông đã dựng lên một căn nhà nhỏ che mưa, che nắng và bắt đầu một cuộc sống mới trên vùng cát này. Qua bao năm tháng, cát đã khuất phục ý chí quyết tâm của con người. Làng Vĩnh Hoà trở thành làng sinh thái đầu tiên và giàu đẹp nhất trong các làng sinh thái ở vùng cát Triệu Phong. Còn ông Minh - một trong những người "đi tiên phong" về xây dựng làng sinh thái - cũng đã trở thành một chủ hộ sản xuất giỏi, có thu nhập cao nhất ở các làng sinh thái ven biển. Ở làng sinh thái Vĩnh Hoà, ngoài gia đình ông Nguyễn Văn Minh còn có gia đình ông Mai Đình Đàn, ông Nguyễn Văn Lợi, ông Mai Phú Quốc...là những gia đình cũng được xem là sản xuất giỏi và đã có thu nhập hàng năm trên dưới 20 triệu đồng từ cây trồng và chăn nuôi gia súc gia cầm trên cát. Sáu chục hộ dân làng sinh thái Vĩnh Hoà cuộc sống đang từng ngày đổi thay. Ra thăm vườn cây ao cá của ông Minh, tôi thấy cây gì cũng xanh tươi mơn mởn. Nhưng đẹp nhất, tốt tươi nhất vẫn là lạc. Lạc ở vùng cát Triệu Phong không thua kém lạc ở vùng đất đỏ hay đất thịt. Nhổ một cụm lạc tôi đếm cả thảy có 43 củ, dù còn non nhưng mười củ như chục, đều đặn. Anh Phan Chí Trung, cán bộ Văn phòng Uỷ ban nhân dân xã Triệu Vân nói rằng: Lạc là cây trồng chính của nông dân vùng cát nên trong tương lai xã sẽ phát triển thêm để nâng diện tích lên gấp rưỡi, gấp đôi thay vì 48 hécta như hiện tại. Nhiều gia đình ở các làng sinh thái Triệu Vân cũng như Triệu Sơn, Triệu Trạch, Triệu Lăng đã có từ bốn đến năm sào lạc. Vườn cây của ông Minh còn có xoài, nhãn...tuy mới trồng nhưng đã khá lớn. Một giàn bầu, một giàn mướp đắng quả chi chít thõng xuống mặt hồ. Ông Minh nói với tôi có năm chỉ một giàn mướp đắng mà ông thu bạc triệu, một giàn bí hay giàn bầu mà ông thu bạc trăm, một khóm ớt, một cụm rau thơm mà ông thu bạc chục. Bản tính cần cù "năng nhặt chặt bị" đã giúp vợ chồng ông nuôi bảy đứa con khôn lớn, dựng vợ gả chồng cho chúng, tạo được vốn liếng cho chúng làm ăn. Bây giờ đã ở tuổi ngoài sáu mươi nhưng vợ chồng ông vẫn mỗi người một việc. Ông thì vừa làm Trưởng thôn vừa chăm sóc vườn cây, bà thì vừa nội trợ vừa rau bèo cám bã chăm sóc đàn lợn. Họ còn có một cơ sở đúc ngói xi măng tạo việc làm thường xuyên cho bốn lao động trong làng nhờ vào nguồn cát nguyên chất vô tận ngay trong vườn nhà.
Dọc tỉnh lộ 64, bắt đầu từ cuối xã Triệu Trạch đến Cửa Việt, tôi gặp nhiều làng sinh thái vừa hình thành lên ở cả hai bên tỉnh lộ. Mỗi làng là một cái bàn cờ vuông vức và mỗi ngôi nhà là một quân cờ trong cái bàn cờ đó. Ở mỗi làng sinh thái đều có gắn biển tên làng và có một con đường đất đỏ rộng rãi, thẳng tắp nối từ tỉnh lộ 64 chạy đến cuối làng. Những hàng cột điện cũng thẳng tắp, những hàng cây mới trồng cũng thẳng tắp. Tôi nhớ lúc ở Ái Tử, anh Nguyễn Châu Long, Phó Văn phòng Uỷ ban nhân dân huyện có nói với tôi là ở cả năm xã vùng cát Triệu Phong đều có làng sinh thái. Và cho đến nay, theo thứ tự thời gian thì đã có cả thảy mười làng sinh thái ra đời với khoảng trên 400 hộ dân án ngữ trên khoảng vài ngàn hécta cát. Chủ trương của Uỷ ban nhân dân huyện Triệu Phong về cải tạo vùng cát hoang hoá là không có cách gì bền vững bằng cách đưa dân ra lập làng sinh thái trên cát. Chỉ có cách đó mới tạo được cho cát màu xanh vĩnh viễn lâu dài. Và cũng chỉ có cách đó mới mong cải thiện được cuộc sống cho nhân dân vùng cát. Bằng sự giúp đỡ của Chính phủ Nauy và các chương trình, dự án khác của Nhà nước, của tỉnh, Triệu Phong đã đầu tư hàng chục, hàng trăm tỉ đồng cho các dự án cải tạo vùng cát huyện nhà. Nhưng có lẽ đó chưa phải là tất cả. Nói như anh Dương Trọng Khiên, cán bộ xã Triệu An thì ở một số làng sinh thái cuộc sống của không ít hộ gia đình vẫn gặp nhiều khó khăn. Mặc dù đã được đầu tư tiền xây dựng nhà cửa, tạo cho điều kiện làm ăn, nhưng nhân dân vẫn không khỏi bỡ ngỡ, lạ lẫm lúc ban đầu. Âu đó cũng là lẽ thường tình của buổi "khai đất lập làng" mà không riêng một nơi nào gặp phải. Và như vậy, Triệu Phong còn phải tiếp tục quan tâm, giúp đỡ nhân dân vùng cát, đặc biệt là nhân dân ở các làng sinh thái vừa mới thành lập. Phải làm sao để trong vòng mười năm, thậm chí năm, bảy năm tới tất cả mười làng sinh thái trên vùng cát ven biển Triệu Phong này phải thực sự khởi sắc đi lên, an tọa vĩnh viễn cùng với màu xanh do chính con người tạo lập nên cho cát. Phần tôi, trong chuyến đi này, được tận mắt chứng kiến những đổi thay kỳ diệu ở vùng cát quê nhà và dù còn nơi này chỗ kia khác nhau, tôi vẫn muốn gọi cát nơi ấy là cát màu xanh.
N.N.C